Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Luật

Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Luật Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Luật

Đầu năm 2017 ông Đoàn Ngọc Hải phó chủ tịch UBND Quận 1, TP Hồ Chí Minh khởi xướng chiến dịch đòi lại vỉa hè cho người đ...
07/10/2020

Đầu năm 2017 ông Đoàn Ngọc Hải phó chủ tịch UBND Quận 1, TP Hồ Chí Minh khởi xướng chiến dịch đòi lại vỉa hè cho người đi bộ. Để thực hiện chiến dịch này, các đoàn kiểm tra do ông Hải làm trưởng đoàn trực tiếp kiểm tra trên các tuyến phố thuộc địa bàn Quận 1, TP Hồ Chí Minh. Nếu phát hiện các công trình xây dựng, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, ông Hải chỉ đạo các thành viên đoàn kiểm tra tháo dỡ ngay tại chỗ, xe ô tô dừng đỗ sai quy định, các quán, xe, gánh hàng rong bán hàng chiếm vỉa hè, lòng đường cũng bị đưa về trụ sở các cơ quan nhà nước mà không cần ra quyết định lập biên bản khi thực hiện.
Trước việc làm của ông Đoàn Ngọc Hải và các đoàn kểm tra có các ý kiến nhận xét khác nhau:
- Nhiều ý kiến cho rằng việc làm của ông Hải là cần thiết. Cần phải quyết liệt, nhanh chóng lập lại trật tự, trả lại lòng đường, vỉa hè cho người đi bộ và các phương tiện tham gia giao thông.
- Ý kiến khác lại cho rằng mục đích của ông Hải là tích cực nhưng bất kỳ lý do gì cũng cần tuân theo các quy định của pháp luật. Việc xử lý vi phạm cần tiến hành thận trọng dể không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính,đưa ra đánh giá của mình về các ý kiến nhận xét nêu trên.

Đối với hai luồng ý kiến về hành động của ông Đoàn Ngọc Hải và đoàn kiểm tra liên ngành quận 1, TP Hồ Chí Minh vào đầu năm 2017 thì đối với bản thân tôi xin phép được đưa ra đánh giá của mình như sau:
Ý kiến 1: “Cho rằng việc làm của ông Hải là cần thiết. Cần phải quyết liệt, nhanh chóng lập lại trật tự, trả lại lòng đường, vỉa hè cho người đi bộ và các phương tiện tham gia giao thông” là không hợp lý.
Ý kiến 2: “Cho rằng mục đích của ông Hải là tích cực nhưng bất kỳ lý do gì cũng cần tuân theo các quy định của pháp luật. Việc xử lý vi phạm cần tiến hành thận trọng dể không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan” là hợp lý, phù hợp với mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, thủ tục, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của pháp luật hiện hành. Sở dĩ bản thân tôi có ý kiến đánh giá như trên là vì:
* Cơ sở lý luận, pháp lý:
Điều đầu tiên chúng ta khẳng định rằng ở đây là đã có vi phạm hành chính xẩy ra và việc xử lý vi phạm hành chính là cần thiết; tuy nhiên việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo nguyên tắc nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật .
Như chúng ta đã biết xử lý vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng .
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính phải bảo đảm các bước sau: Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ phạt ở mức cảnh cáo hoặc phạt tiền dưới 250.000 đồng (đối với cá nhân); dưới 500.000 đồng (đối với tổ chức) thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ mà không cần phải lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính (Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản). Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt tiền ở mức từ 250.000 đồng trở lên (đối với cá nhân); 500.000 đồng trở lên (đối với tổ chức) thì người có thẩm quyền thực hiện việc xử phạt như sau: Lập biên bản vi phạm hành chính; tùy từng trường hợp cụ thể tiến hành một số hoặc toàn bộ các công việc (xác định tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính; xác định giá trị tang vật vi phạm, căn cứ xác định mức phạt và thẩm quyền xử phạt; thực hiện thủ tục giải trình); ra quyết định xử phạt hành chính; trong đó lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt hành chính là bắt buộc.
Bên cạnh đó việc quản lý hành chính phải luôn tuân theo các nguyên tắc cơ bản; trong đó có nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc này đã chỉ ra rằng trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật cần triệt để tôn trọng các văn bản pháp luật về thẩm quyền và nội dung ban hành. Cả hai bên chủ thể quản lý hành chính nhà nước và đối tượng bị quản lý khi thực hiện các hoạt động của mình đều phải tuân thủ yêu cầu này. Tình trạng lạm quyền, không tuân thủ các nghĩa vụ, thẩm quyền được pháp luật quy định đối với chủ thể quản lý phải được loại trừ khỏi hoạt động quản lý nhà nước. Các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
Dẫu biết rằng việc sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thì cá nhân, tổ chức đó không phải chịu trách nhiệm trước cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính mà phải chịu trách nhiệm trước nhà nước. Tuy nhiên xét về mặt lý luận thì nhà nước là do nhân dân lập nên, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. Xét đến cùng là phải chịu trách nhiệm trước nhân dân trong đó có chủ thể vi phạm.
* Cơ sở thực tiễn
Đối chiếu với các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì việc xử lý vi phạm hành chính của ông Hải và đoàn kiểm tra liên ngành quận 1, TP Hồ Chí Minh là cần thiết nhưng chưa bảo đảm đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật (ví dụ: Chiều 19/3/2017, tại góc đường Trần Hưng Đạo giao với Trần Đình Xu (phường Nguyễn Cư Trinh), đoàn công tác quận 1 đã phát hiện chiếc ô tô của ca sĩ Quách Tuấn Du, đậu trái phép trên vỉa hè nên đã tiến hành cẩu về phường trong khi đó có mặt chủ phương tiện là ca sĩ Quách Tuấn Du tại hiện trường vi phạm).
Trong khi đó tại khoản 1 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, việc tạm giữ xe vi phạm chỉ được áp dụng trong ba trường hợp thật cần thiết sau đây: một, để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt; hai, để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội; ba, để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt. Ở đây thì không thuộc trường hợp nào trong ba trường hợp nêu trên.
Bên cạnh đó theo quy định tại khoản 6 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện… Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...”.
Như vậy nếu người vi phạm hành chính có các giấy tờ như giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe ô tô… và xuất trình giấy tờ, thì không bị tạm giữ phương tiện mà tạm giữ giấy tờ theo quy định. Chỉ khi nào người vi phạm hành chính không có giấy tờ hoặc không chịu xuất trình giấy tờ để tạm giữ thì mới bị áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện vi phạm. Vậy ở đây ông Hải và đoàn kiểm tra liên ngành quân 1 đã vi phạm quy định của pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính về việc xe ô tô đậu trái phép trên vỉa hè.
Mặt khác tại điểm a, khoản 1, điều 12, Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng. Và thủ tục giản đơn (xử phạt tại chỗ) trong xử phạt hành chính được áp dụng trong trường hợp này (vì mức phạt theo quy định ở đây đối với một số cá nhân là chủ của xe, quán, gánh bán hàng rong là dưới 250.000 đồng). Tuy nhiên ông Hải và đoàn kiểm tra liên ngành quận 1, TP Hồ Chí Minh lại không thực hiện đúng nội dung quy định này đối với một số quán, xe, gánh hàng rong bán hàng chiếm vỉa hè mà đưa về trụ sở để xử lý.
Như chúng ta đã biết pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội; các tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải tôn trọng và tuân theo pháp luật. Xét về tận cùng của cái gốc thì pháp luật là ý chí của nhân dân, cơ quan nhà nước và cán bộ làm trong cơ quan nhà nước là do nhân dân ủy quyền để quản lý xã hội bằng pháp luật. Vậy việc tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật thì hơn ai hết đó là những người được nhân dân tín nhiệm và trao quyền. Vậy mà ở đây ông Hải là cán bộ làm việc trong Ủy ban nhân dân quận 1, TP Hồ Chí Minh, là cơ quan do Hội đồng nhân dân quận 1 bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND quận 1 thì đòi hỏi trước hết là tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đó là những yêu cầu của một người cán bộ; vậy mà việc chấp hành các quy định pháp luật của ông Hải về xử lý vi phạm hành chính lại chưa bảo đảm; nếu không muốn nói là xem thường các quy định của pháp luật. Theo tôi nghĩ đây chính là mầm mống của biểu hiện lạm quyền, cửa quyền, hách dịch, lạm dụng pháp luật.
* Kết luận:
Luồng ý kiến 1: “Cho rằng việc làm của ông Hải là cần thiết. Cần phải quyết liệt, nhanh chóng lập lại trật tự, trả lại lòng đường, vỉa hè cho người đi bộ và các phương tiện tham gia giao thông” là không hợp lý.
Luồng ý kiến 2: “Cho rằng mục đích của ông Hải là tích cực nhưng bất kỳ lý do gì cũng cần tuân theo các quy định của pháp luật. Việc xử lý vi phạm cần tiến hành thận trọng dể không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan” là hợp lý, phù hợp với mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, thủ tục, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành.
Từ việc làm của ông Đoàn Ngọc Hải, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân và đoàn kiểm tra liên ngành quận 1, TP Hồ Chí Minh chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý hành chính nhà nước nói chung và trong xử lý vi phạm hành chính nói riêng như sau:
* Bài học kinh nghiệm:
Một là, trong xử lý vi phạm hành chính cần mạnh tay chế tài, nhất là đối với những trường hợp bất hợp tác nhưng dân sai luật thì chính quyền phải trị đúng luật. Tài sản hợp pháp của người vi phạm hành chính phải được đối xử trong giới hạn cho phép, bởi nếu quá tay hoặc để xảy ra thiệt hại thì chính quyền có thể gặp rắc rối, kiện tụng.
Hai là, người làm việc trong cơ quan nhà nước cần có uy tín, được dân tin, dân yêu và dân tín nhiệm; cần có những cách làm hay, sáng tạo sát với tình hình thực tiễn, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Phải mạnh dạn có những bước đi táo bạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng không được chủ quan duy ý chí, bảo thủ mà phải thường xuyên xem xét hiệu quả, phản ứng, dư luận đối với cách làm của mình. Đặc biệt là đối với xã hội Việt Nam chúng ta với cơ sở kinh tế là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cơ sở xã hội là xây dựng một thiết chế xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Chính bởi vậy mà công tác quản lý xã hội của chúng ta sẽ có nhiều bất cập và khó khăn.
Ba là, phải luôn bảo đảm giữ vững nguyên tắc thượng tôn pháp luật (pháp chế xã hội chủ nghĩa) trong hoạt động quản lý nhà nước; luôn đặt lợi ích của xã hội lên trên hết; tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức xử lý vi phạm hành chính.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trai, hành động có biểu hiện vi phạm pháp luật. Không khoan nhượng với những hành động đó cho dù họ là ai, đấu tranh một cách kịp thời và hiệu quả (đối với hành động của ông Hải và đoàn kiểm tra quận 1 dù đã được phản ánh và có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên việc đấu tranh, ngăn chặn là chưa kịp thời, chưa triệt để)

* Một số khái quát về đại biểu Quốc hộiKhoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: “ Đại b...
06/10/2020

* Một số khái quát về đại biểu Quốc hội
Khoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: “ Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.”
Như vậy, đại biểu Quốc hội là những công dân tiêu biểu trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội được nhân dân tín nhiệm bầu ra thông qua tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, đây là hình thức bầu cử được đánh giá có tính phổ biến, hiện đại và dân chủ nhất trong các hình thức bầu cử. Nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội theo nhiệm kỳ của quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước. Do đó, đại biểu Quốc hội có quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân địa phương và nhân dân cả nước, chịu trách nhiệm trước nhân dân, bị cử tri bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ đại biểu.
Với tư cách là một thành tố cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, đại biểu Quốc hội trở thành cầu nối bền vững và trực tiếp giữa nhà nước với nhân dân.
* Một số khái quát về hoạt động của đại biểu Quốc hội
Hoạt động của đại biểu Quốc hội là tổng hợp những hành vi do đại biểu Quốc hội thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm thực hiện vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước, có một số đặc điểm cụ thể sau:
Một là, đại biểu Quốc hội trực tiếp thực hiện các hoạt động của mình để làm tròn vai trò đại biểu trước cử tri địa phương và cả nước.
Hai là, hoạt động của đại biểu Quốc hội thống nhất trên các mặt tính nhân dân, tính quyền lực nhà nước và tính chính trị.
Ba là, hoạt động của đại biểu Quốc hội phải dựa trên các nguyên tắc phù hợp với bản chất, đặc điểm và tính chất hoạt động.
Bốn là, hoạt động của đại biểu Quốc hội được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Năm là, hoạt động của đại biểu Quốc hội đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt. Xuất phát từ vị thế là thành viên của Quốc hội nên hoạt động của đại biểu Quốc hội có ý nghĩa quan trọng có thể tác động trực tiếp, toàn diện đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải có tinh thần trách nhiệm, năng lực, bản lĩnh và các kỹ năng đặc biệt phù hợp với đặc thù hoạt động của cơ quan dân cử.
Sáu là, phạm vi và phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội là rất lớn và đa dạng. Quốc hội có phạm vi hoạt động rất rộng để thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; theo đó, hoạt động của đại biểu Quốc hội được tiến hành trên các lĩnh vực thuộc chức năng của Quốc hội.
* Hoạt động của đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Hoạt động giám sát
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định đại biểu Quốc hội giám sát các nội dung sau đây:
+ Giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
+ Giám sát tối cao hoạt động của các cơ quan do Quốc hội thành lập.
+ Giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát bằng các hình thức được quy định cụ thể: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước”. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản. Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định”
Bên cạnh đó tại khoản 3, Điều 32, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 còn quy định: “Trường hợp đại biểu Quốc hội chưa đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại tại phiên họp của Quốc hội, của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc gửi chất vấn bằng văn bản đến người bị chất vấn.”
Trình tự, thủ tục chất vấn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 15 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015:
“1. Trước phiên chất vấn, đại biểu Quốc hội ghi vấn đề chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn.
3. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội được tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Đại biểu Quốc hội nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;
b) Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có);
c) Trường hợp đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời;
d) Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.
Thời gian nêu chất vấn, thời gian trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định của nội quy kỳ họp Quốc hội.”
Về Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 51 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015: “Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét nội dung các văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật đó. Nếu cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản không thực hiện kiến nghị hoặc thực hiện không đáp ứng với yêu cầu thì đại biểu Quốc hội báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật”.
Hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật của đại biểu Quốc hội được quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật Tổ chức Quốc hội 2014: “Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.”
Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 28 Luật Tổ chức Quốc hội 2014, cụ thể:
1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật.
2. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Quốc hội về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Quốc hội yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.”
- Hoạt động tiếp xúc cử tri
Khoản 2 Điều 27 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định: “ Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi ứng cử theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm. Trong quá trình tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và Quốc hội; cử tri hoặc đại diện cử tri ở đơn vị bầu cử có thể góp ý kiến với đại biểu Quốc hội tại hội nghị cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tổ chức trong trường hợp cần thiết.”
- Hoạt động xây dựng pháp luật
Khoản 1 Điều 29 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định: “Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.”
- Hoạt động tại kỳ họp
Tại các kỳ họp của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có quyền: “ Thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội”; “Thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban mà mình là thành viên.”
Như vậy, có thể thấy đại biểu Quốc hội thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân ở mọi địa điểm, trên mọi lĩnh vực hoạt động, đối với mọi đối tượng trong xã hội; chia sẻ, tìm hiểu, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội; phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, góp ý của nhân dân với Quốc hội. Là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan quyền lực cao nhất đó là Quốc hội.
* Thực trạng về hoạt động của đại biểu Quốc hội hiện nay
Theo ý kiến chủ quan của cá nhân tôi đối với thực trạng về hoạt động của đại biểu Quốc hội trong thời gian qua có một số nội dung chính sau:
- Những kết quả đạt được
Thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân dân địa phương nơi mình ững cử và nhân dân cả nước để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những ý kiến đóng góp của nhân dân, những vấn đề bức xúc của xã hội; từ đó mạnh dạn phản ánh với Quốc hội để giải quyết một cách kịp thời, hiệu quả và đúng luật.
Trong vấn đề chất vấn những người bị chất vấn về cơ bản đã đi thẳng vào vấn đề đang cần được giải quyết, có các ví dụ, bằng chứng, số liệu rõ ràng, đối tượng cụ thể, không còn tình trạng chung chung; mạnh dạn chỉ ra những điểm yếu, thiếu, hạn chế, bất cập của các lĩnh vực đời sống xã hội; những vấn đề bức xúc mà dư luận xã hội quan tâm…
Trong quá trình xây dựng pháp luật các đại biểu Quốc hội đã thường xuyên nghiên cứu sự phát triển của các nước trên thế giới; xu thế hội nhập và phát triển; những tồn tại, bất cập của xã hội Việt Nam; những vấn đề mới phát sinh… nhưng luôn đứng trên lập trường vì lợi ích của nhân dân, Nhà nước để đóng góp xây dựng những nội dung luật quan trọng của đất nước.
Thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế, những hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân làm ảnh hưởng tới lợi ích của Nhà nước và xã hội.
* Những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân
Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội: Một thực trạng hiện nay là cử tri sau khi thực hiện quyền bầu cử xong thì không biết mình bầu cho ai, và cũng chính bởi vậy mà không quan tâm họ thực hiện nhiệm vụ như thế nào? Tóm lại là chất lượng thực sự trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập.
Hoạt động chất vấn: Hiện nay, với việc bố trí số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm quá lớn, nên có thể dẫn đến tình trạng đại biểu Quốc hội lại chính là cấp dưới (trực tiếp hoặc không trực tiếp) và cũng có thể là có liên quan trong công tác; chính vì vậy trong quá trình đặt các câu hỏi, vấn đề chất vấn đối với người bị chất vấn có thể tính trung thực, thẳng thắn…không còn được giữ nguyên vẹn, hiệu quả chất vấn bị hạn chế.
Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo: Chưa được giải quyết một cách có hiệu quả, các đơn thư khiếu nại cho người dân nhưng nhiều đơn thư khiếu nại vẫn còn để tồn đọng nhiều; bởi vì người dân chưa thực sự tin tưởng vào cơ quan đại diện cho họ là Hội đồng nhân dân các cấp mà cao nhất là Quốc hội, vì vậy mỗi khi có khiếu nại, tố cáo thì thông thường không thông qua các cơ quan này.
Hoạt động xây dựng pháp luật: Nhiều đại biểu kiến thức chuyên môn về xây dựng luật còn hạn chế, việc nghiên cứu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và nhất là dự báo tình hình chưa chính xác; vì vậy khi đóng góp xây dựng luật còn chưa thực sự hiệu quả
Hoạt động tiếp xúc cử tri: Việc tiếp xúc cử tri ở một số địa phương đang tồn tại một thực trạng là khi đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở một khu vực nào đó thì chính quyền địa phương phối hợp với Hội đồng nhân dân cùng cấp (không chính thống) lựa chọn một số cử tri đi dự hội nghị tiếp xúc cử tri, dẫn đến tình trạng nhân dân không phản ánh hết tâm tư, nguyện vọng của mình, hoạt động của đại biểu Quốc hội không hiệu quả.
* Phương hướng để nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội
Theo quan điểm của cá nhân tôi, để naang coa hiệu quả hotaj động của đại biểu Quốc hội trong thời gian tới; bả đam cho hoạt động của đại biểu Quóc hội thực sự có hiệu quả, Quốc hội thực sự là cơ quan quuyeenf lực nhà nước cao nhất, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân thì cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; phát huy tất cả mọi tổ chức, mọi lực lượng trong xã hội cùng tham gia tuyên truyền về vị trí, vai trò tầm quan trộng của bầu cử; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan dân cử (đại biểu, hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội); xây dựng hệ thống pháp lý đối với cơ quan dân cử một cách chặt chẽ, thống nhất. Làm cho người dân thấy được cơ quan dân cử thực sự là cơ quan đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó xây dựng niềm tin, trách nhiệm của nhân dân đối với cơ quan đại diện cho mình.
Hai là, cần xây dựng cơ sở pháp lý để cử tri thực hiện quyền bãi nhiệm của mình đối với đại biểu Quốc hội
Ba là, cần đổi mới phương thức tiếp xúc cử tri theo hướng đại biểu quốc hội tiếp xúc cử tri theo hình thức chuyên đề, nội dung. Quy định rõ ràng về thời gian thực hiện tiếp xúc cử tri.
Bốn là, cần kéo dài thời gian họp của Quốc hội để đại biểu Quốc có thể chất vấn đầy đủ các nội dung. Đồng thời trong quá trình chất vấn, đối với các cá nhân được chất vấn khi trả lời cần quy rõ trách nhiệm cho họ để tránh trường hợp trả lời lan man hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Năm là, cần phải bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho các đại biểu Quốc hội để công tác đóng góp xây dựng pháp luật được thực hiện một cách có hiệu quả hơn.

KẾT LUẬN
Từ những phân tích và đánh giá trên đây có thể thấy pháp luật hiện hành đã quy định một cách đầy đủ và chi tiết về hoạt động của đại biểu Quốc hội. Trong quá trình hoạt động các đại biểu Quốc hội trong thời gian qua đã góp phần xây dựng đất nước, xã hội, bảo đảm quyền lợi cho nhân dân; tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, vướng mắc nhất định. Với những kết quả đạt được trong thời gian qua của đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có việc hoạt động của đại biểu Quốc hội ngày càng đạt hiệu quả thiết thực chúng ta hoàn toàn có quyền tin rằng trong thời gian tới hoạt động của đại biểu Quốc hội nói riêng, Quốc hội nói chung sẽ đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xứng đáng là những người đại biểu tin cậy của nhân dân, nhân dân hoàn toàn tin tưởng và trao trọn niềm tin cho họ.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp năm 2013.
2. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.
3. Luật Hoạt động giám sát Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

Address

Vinh
430000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share