02/06/2023
Thực tiễn nhiều trường hợp các bên trong hợp đồng đặt cọc thỏa thuận việc phạt cọc gấp nhiều lần tài sản đặt cọc, trường hợp này, thỏa thuận phạt cọc đó có hiệu lực không?
Để trả lời cho câu hỏi trên, ThS. Liên Đăng Phước Hải, Cố vấn pháp lý của HITRUST LLC có một số chia sẻ như sau:
Trong quan hệ đặt cọc, khi một bên từ chối việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, chế tài phạt cọc được ra. Theo Điều 328.2 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trên thực tế, để nâng cao trách nhiệm và thể hiện sự thiện chí trong việc xác lập hay thực hiện hợp đồng, các bên có xu hướng đưa ra chế tài phạt cọc gấp nhiều lần tài sản đặt cọc. Khi có tranh chấp xảy ra, liệu rằng việc các bên thỏa thuận về việc phạt cọc gấp nhiều lần số tài sản đặt cọc có thể thực thi không và nếu có, thì đâu là giới hạn đối với thỏa thuận này? Trên thực tế xét xử, Hội đồng xét xử đa phần công nhận thỏa thuận này của các bên. Cụ thể trong một bản án, Hội đồng xét xử đã cho rằng:
“Ông H1 nhận của bà H 80 triệu đồng để bảo đảm cho các bên thực hiện hợp đồng mua bán sau khi ông H1 thu hoạch nếp. Theo đó, các bên thỏa thuận, trong trường hợp nếu ông H1 vi phạm hợp đồng thì sẽ phạt cọc gấp 03 lần, nếu bà H không cân nếp trong thời hạn ba ngày kể từ ngày thu hoạch thì sẽ mất cọc. Sau khi thu hoạch ông H1 bán nếp cho người khác là vi phạm hợp đồng nên bà H khởi kiện. Theo phán quyết của Tòa án, do ông H1 đã vi phạm hợp đồng nên bà H khởi kiện là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ông H1 phải có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vay là 240 triệu đồng. Trong đó, tiền đặt cọc là 80 triệu đồng và tiền phạt cọc là 160 triệu đồng[1]”.
Hay tại một bản án khác, Hội đồng xét xử cũng chấp nhận về việc thỏa thuận phạt gấp đôi số tiền đặt cọc, cụ thể: “Sau khi nhận 40.000.000 đồng tiền đặt cọc của chị M, anh K bán vườn cây Tràm (keo) cho anh Hiếu. Hợp đồng mua bán không thực hiện được là do lỗi của anh K. Theo khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ ...nếu bên nhận cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh K phải trả cho chị M số tiền đặt cọc là 40.000.000 đồng và bồi thường tiền phạt cọc 80.000.000 đồng, tổng cộng: 120.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.[2]”
Dựa trên thỏa thuận
Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan xét xử có xu hướng công nhận sự thỏa thuận này của các bên. Tác giả cho rằng hướng xét xử này là phù hợp với quy định trong BLDS 2015 hiện nay, bởi lẽ:
Thứ nhất, pháp luật cho phép các bên thỏa thuận. Xuất phát từ quy định tại Điều 328.2 BLDS 2015, theo đó: Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy, thỏa thuận khác ở đây được hiểu là pháp luật vẫn dành cho các bên không gian để thỏa thuận về việc phạt cọc, nếu như các bên không áp dụng theo quy tắc thông thường là trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc. Từ đó, có thể hiểu các bên có thể thỏa thuận về việc phạt cọc gấp nhiều lần số tài sản đặt cọc hoặc ngược lại – phạt cọc với số tài sản nhỏ hơn như 1/2 hoặc 1/3 số tài sản đặt cọc đối, miễn sao các bên cảm thấy có sự bảo đảm cho sự giao kết hoặc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Thứ hai, việc thỏa thuận nêu trên cũng không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội. Thông thường, để nâng cao tính tuân thủ của các bên trong việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, việc thỏa thuận nâng cao mức phạt cọc là điều thường thấy. Thỏa thuận này, về cơ bản không vi phạm bất kỳ điều cấm nào của luật, cũng như trái đạo đức xã hội và được thiết lập dựa trên sự tự nguyện của các bên. Do đó, cơ quan xét xử cần tôn trọng ý chí của các bên trong quan hệ đặt cọc.
Bài viết trên là một phần được đăng tải trên Tạp chí Tòa án điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao, có thể truy cập toàn bộ bài viết tại:
Thực tiễn nhiều trường hợp các bên trong hợp đồng đặt cọc thỏa thuận việc phạt cọc gấp nhiều lần tài sản đặt cọc, trường hợp này, thỏa thuận phạt cọc đó có hiệu lực không? Bài viết này phân tích cơ sở pháp lý cho việc ...