Văn phòng Luật Phụ Dực

Văn phòng Luật Phụ Dực Văn phòng luật phú dực

Chào đón năm mới 2024. Công ty Luật TNHH Sao thủ đô. Chi nhánh Phụ dực chúc quí khách hàng năm mới An khang thịnh vượng....
01/01/2024

Chào đón năm mới 2024. Công ty Luật TNHH Sao thủ đô. Chi nhánh Phụ dực chúc quí khách hàng năm mới An khang thịnh vượng. Khách hàng cần hỗ trợ Pháp lý hãy gọi cho chúng tôi 0946661816 - 0912426461. Đc 245 Trần Hưng Đạo - thị trấn An Bài.

20/11/2023

Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam em xin chúc các thày, các cô . Các anh, các chị, Các bạn, các em, các cháu những kĩ sư tâm hồn. Đã và đang công tác trong ngành giáo dục luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và nhiều thành công trong cuộc sống

03/01/2023

Mọi người chú ý nhé fabook của mình bị nó lập mới ảnh đại diện Bộ đội mọi người chú ý nhé. Tuấn thay ảnh đại diện 2 ông cháu này nhé.

05/08/2022

Tiếp tục phần thứ 1 bài viết của Luật sư Nguyễn Văn Trượng về đề tài: "NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO ĐIỀU 51 BLHS". Công ty xin được tiếp tục đăng tải phần 2 để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn về pháp luật:

2. Về tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” (điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS).

Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định về tình tiết "người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác". Tuy nhiên, có thể tham khảo tinh thần quy định tại Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao. Theo hướng dẫn tại mục 5, Nghị quyết số 01 ngày 4-8-2000 của HĐTP TANDTC thì “người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sĩ thi đua…”.Thực tế áp dụng hướng dẫn trên cho thấy đối với người được tặng huân chương, huy chương, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn thì việc coi người đó có thành tích xuất sắc không có gì phải bàn cãi, song vướng mắc phát sinh đối với người được tặng bằng khen, danh hiệu chiến sĩ thi đua (CSTĐ). Theo Điều 20 Luật thi đua, khen thưởng thì danh hiệu thi đua đối với cá nhân gồm: Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương; Chiến sĩ thi đua cơ sở. Về khen thưởng, theo Điều 70 Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì bằng khen gồm hai cấp: Bằng khen của Thủ tướng chính phủ và bằng khen của cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Ngoài ra, tại Điều 73 Luật thi đua, khen thưởng (sửa đổi, bổ sung năm 2013) còn quy định về nguyên tắc khen thưởng bằng hình thức bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh do cơ quan trung ương của các tổ chức này quy định; việc khen thưởng bằng hình thức bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định sau khi thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở trung ương.

Thực tế công tác khen thưởng hiện nay còn có bằng khen của các cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh; bằng khen của cơ quan trực thuộc Bộ; bằng khen của tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội… Vậy người được tặng bằng khen, danh hiệu CSTĐ của cấp nào thì mới được coi là người có thành tích xuất sắc? Người được tặng bằng khen của tổ chức chính trị-xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội có được xem xét không? Có ý kiến cho rằng chỉ những người được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc được tặng danh hiệu CSTĐ cấp toàn quốc mới được coi là người có thành tích xuất sắc vì cũng như huân chương, huy chương, bằng khen Chính phủ, danh hiệu CSTĐ toàn quốc mới là sự đánh giá của cơ quan đại diện cho nhân dân cả nước đối với thành tích của người được khen thưởng và thành tích của người đó mới có ảnh hưởng trong phạm vi cả nước. Ý kiến khác lại cho rằng hướng dẫn của HĐTP TANDTC không phân biệt bằng khen, CSTĐ của cấp nào, do ai tặng và phạm vi ảnh hưởng ra sao nên nếu bị cáo được tặng bằng khen hoặc nhiều lần được tặng danh hiệu CSTĐ (không phân biệt cấp nào) thì nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS.

Chúng tôi cho rằng Nghị quyết số 01/2000 của HĐTP TANDTC không qui định cụ thể người được tặng bằng khen, CSTĐ từ cấp nào trở lên mới được coi là người có thành tích xuất sắc là chưa đầy đủ, không đảm bảo công bằng, gây khó khăn trong cho việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Để xác định người nhiều lần được tặng danh hiệu CSTĐ hoặc được tặng bằng khen từ cấp nào trở lên mới được coi là người có thành tích xuất sắc theo chúng tôi cần phải căn cứ vào tiêu chuẩn để được xét tặng danh hiệu CSTĐ, bằng khen của từng cấp.

Tiêu chuẩn đối với bằng khen : Theo Điều 71 của Luật thi đua khen thưởng và Điều 38 Nghị định 91/2017/NĐ-CP, tiêu chuẩn để được xét tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ rất cao, cụ thể người được tặng bằng khen của Chính phủ phải là người cú thành tích đột xuất xuất sắc tiêu biểu của cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương hoặc là người đó được tặng bằng khen của cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương và 05 năm tiếp theo trở lên liên tục lập thành tích xuất sắc.

Theo Điều 72 của Luật thi đua, khen thưởng và Điều 39 Nghị định 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ thì tiêu chuẩn cơ bản đối với người được tặng bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương phải là người có thành tích xuất sắc được bình xét trong phong trào thi đua hoặc lập thành tích xuất sắc đột xuất có phạm vi ảnh hưởng trong trong từng lĩnh vực của tỉnh, Bộ, ngành, đoàn thể trung ương hoặc có 02 năm trở lên liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong thời gian đó có 02 sáng kiến được áp dụng. Tiêu chuẩn đối với người được tặng bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương tuy Điều 73 của Luật thi đua, khen thưởng và Điều 39 Nghị định 91/2017/NĐ-CP không quy định cụ thể nhưng giao cho các cơ quan đoàn thể trung ương, Bộ Quốc phũng, Bộ Cụng an quy định. Ví dụ, Tại điểm c mục 6 phần III Thụng tư số 42/2003/TT-BQP ngày 2-5-2003 của Bộ quốc phũng hướng dẫn “người được tặng bằng khen của cấp quân khu phải là người có 3 năm liên tục là CSTĐ cấp cơ sở hoặc có thành tích đột xuất xuất sắc”.

Căn cứ qui định về tiêu chuẩn của người được tặng bằng khen nêu trên, chúng tôi cho rằng có thể coi người được tặng bằng khen của Thủ tướng Chớnh phủ, bằng khen cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương, bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương là người có thành tích xuất sắc. Còn đối với người được tặng bằng khen của các cơ quan, tổ chức khác không được quy định trong Luật thi đua, khen thưởng thì không được công nhận là người có thành tích xuất sắc.

Từ phân tích trên, theo chúng tôi những người sau đây có thể coi là người có thành tích xuất sắc và nếu phạm tội thì họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS :
- Người có 02 năm liền là CSTĐ cơ sở;
- Người được tặng danh hiệu CSTĐ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, CSTĐ Bộ, ngành trung ương;
- Người được tặng danh hiệu CSTĐ toàn quốc;
- Người được tặng bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh; bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
- Người được tặng bằng khen của cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương;
- Người được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Th.s LS Nguyễn Văn Trượng
Link phần 1 của bài viết: https://www.facebook.com/Luatsaothudo.vn/photos/a.363611574334630/948514802510968/

📍Công ty Luật TNHH Sao Thủ Đô
🏢Đ/c: Tầng 6, số 170 đường Trần Duy Hưng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
☎️SĐT: 094.666.1816
📧Website: http://luatsaothudo.vn/
LS Hà Trí TuệHà Tiến TriểnLuật sư Bùi Minh ĐạiHân Luật sưTrung HC

05/08/2022

CHUYÊN MỤC HỎI - ĐÁP
Bên cạnh những câu hỏi do người dân đặt ra, phía Công ty Luật TNHH Sao Thủ Đô cũng nhận được những câu hỏi rất hay từ phía những sinh viên đang theo học ngành Luật. Sau đây chúng tôi xin đăng tải câu hỏi của một bạn sinh viên ngành Luật đang theo dõi Fanpage của Công ty.

Hỏi: Công ty có thể phân tích "NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01/NQ-HĐTP NGÀY 15/04/2022 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TAND TỐI CAO VỀ ÁN TREO". Em xin chân thành cảm ơn ạ!
Đinh Mạnh Tùng
(Sinh viên khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội)

Để trả lời cho câu hỏi của bạn, Công ty đã chuyển câu hỏi tới cho Thạc sĩ - Luật sư Lương Hồng Minh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giám đốc kiểm tra án hình sự, hành chính (Vụ 1) Tòa án nhân dân tối cao; nguyên Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, hiện nay là Luật sư tại Công ty Luật TNHH Sao Thủ Đô trực tiếp trả lời, sau đây là phần trả lời của Luật sư Minh (Bài viết gồm 03 phần, Công ty sẽ đăng tải từng phần)

Đáp: Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 và hiện tại là tại Điều 65 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015. Để đảm bảo sự nhận thức và áp dụng thống nhất chế định quan trọng này, tương ứng với từng thời điểm có hiệu lực của BLHS Tòa án nhân dân tối cao đã lần lượt ban hành các Nghị quyết số 01/2013; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và gần đây nhất là vào ngày 15/4/2022, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2022. So với quy định của Nghị quyết 02/2018 thì Nghị quyết số 01/2002/NQ-HĐTP có một số điểm mới như sau:

Thứ nhất: Về nhân thân của người bị xử phạt tù:
Được sửa đổi, bổ sung cụ thể tại khoản 2- Điều 2 như sau: Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp | luật và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

a. Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà tính đến lần phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật...nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án thì cũng có thể cho hưởng án treo.

b. Đối với những người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng các tình tiết như: Đã bị xử lý kỷ luật; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

c. Đối với người bị kết án mà vụ án đã được tách ra (tách thành nhiều vụ án) để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau và có đủ điều kiện khác thì cũng có thể | cho hưởng án treo.

(HẾT PHẦN 01, MỜI QUÝ VỊ ĐÓN ĐỌC PHẦN 2 SẼ SỚM ĐƯỢC CÔNG TY ĐĂNG TẢI TẠI WEBSITE VÀ FANPAGE FACEBOOK. HÃY NHẤN NÚT THÍCH TRANG ĐỂ NHẬN ĐƯỢC THÔNG TIN MỚI NHẤT VỀ CHUYÊN MỤC HỎI - ĐÁP CỦA CÔNG TY)

📍Công ty Luật TNHH Sao Thủ Đô
🏢Đ/c: Tầng 6, số 170 đường Trần Duy Hưng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
☎️SĐT: 094.666.1816
📧Website: http://luatsaothudo.vn/
LS Hà Trí TuệHà Tiến TriểnLuật sư Bùi Minh ĐạiHân Luật sưTrung HC

16/06/2022

Bạn hiểu thế nào là Thừa kế di sản ?
Bố mẹ chết đi tôi đang ở thửa đất của Bố mẹ, tôi là người được hưởng di sản thừa kế. Không hẳn là như bạn nghĩ.
Hãy đến với chúng tôi văn phòng Luật Phụ Dực mọi thắc mắc của Bạn sẽ được giải quyết .

Address

Thai Binh
410000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn phòng Luật Phụ Dực posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share