05/08/2022
Tiếp tục phần thứ 1 bài viết của Luật sư Nguyễn Văn Trượng về đề tài: "NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO ĐIỀU 51 BLHS". Công ty xin được tiếp tục đăng tải phần 2 để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn về pháp luật:
2. Về tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” (điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS).
Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định về tình tiết "người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác". Tuy nhiên, có thể tham khảo tinh thần quy định tại Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao. Theo hướng dẫn tại mục 5, Nghị quyết số 01 ngày 4-8-2000 của HĐTP TANDTC thì “người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sĩ thi đua…”.Thực tế áp dụng hướng dẫn trên cho thấy đối với người được tặng huân chương, huy chương, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn thì việc coi người đó có thành tích xuất sắc không có gì phải bàn cãi, song vướng mắc phát sinh đối với người được tặng bằng khen, danh hiệu chiến sĩ thi đua (CSTĐ). Theo Điều 20 Luật thi đua, khen thưởng thì danh hiệu thi đua đối với cá nhân gồm: Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương; Chiến sĩ thi đua cơ sở. Về khen thưởng, theo Điều 70 Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì bằng khen gồm hai cấp: Bằng khen của Thủ tướng chính phủ và bằng khen của cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Ngoài ra, tại Điều 73 Luật thi đua, khen thưởng (sửa đổi, bổ sung năm 2013) còn quy định về nguyên tắc khen thưởng bằng hình thức bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh do cơ quan trung ương của các tổ chức này quy định; việc khen thưởng bằng hình thức bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định sau khi thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở trung ương.
Thực tế công tác khen thưởng hiện nay còn có bằng khen của các cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh; bằng khen của cơ quan trực thuộc Bộ; bằng khen của tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội… Vậy người được tặng bằng khen, danh hiệu CSTĐ của cấp nào thì mới được coi là người có thành tích xuất sắc? Người được tặng bằng khen của tổ chức chính trị-xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội có được xem xét không? Có ý kiến cho rằng chỉ những người được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc được tặng danh hiệu CSTĐ cấp toàn quốc mới được coi là người có thành tích xuất sắc vì cũng như huân chương, huy chương, bằng khen Chính phủ, danh hiệu CSTĐ toàn quốc mới là sự đánh giá của cơ quan đại diện cho nhân dân cả nước đối với thành tích của người được khen thưởng và thành tích của người đó mới có ảnh hưởng trong phạm vi cả nước. Ý kiến khác lại cho rằng hướng dẫn của HĐTP TANDTC không phân biệt bằng khen, CSTĐ của cấp nào, do ai tặng và phạm vi ảnh hưởng ra sao nên nếu bị cáo được tặng bằng khen hoặc nhiều lần được tặng danh hiệu CSTĐ (không phân biệt cấp nào) thì nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS.
Chúng tôi cho rằng Nghị quyết số 01/2000 của HĐTP TANDTC không qui định cụ thể người được tặng bằng khen, CSTĐ từ cấp nào trở lên mới được coi là người có thành tích xuất sắc là chưa đầy đủ, không đảm bảo công bằng, gây khó khăn trong cho việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Để xác định người nhiều lần được tặng danh hiệu CSTĐ hoặc được tặng bằng khen từ cấp nào trở lên mới được coi là người có thành tích xuất sắc theo chúng tôi cần phải căn cứ vào tiêu chuẩn để được xét tặng danh hiệu CSTĐ, bằng khen của từng cấp.
Tiêu chuẩn đối với bằng khen : Theo Điều 71 của Luật thi đua khen thưởng và Điều 38 Nghị định 91/2017/NĐ-CP, tiêu chuẩn để được xét tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ rất cao, cụ thể người được tặng bằng khen của Chính phủ phải là người cú thành tích đột xuất xuất sắc tiêu biểu của cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương hoặc là người đó được tặng bằng khen của cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương và 05 năm tiếp theo trở lên liên tục lập thành tích xuất sắc.
Theo Điều 72 của Luật thi đua, khen thưởng và Điều 39 Nghị định 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ thì tiêu chuẩn cơ bản đối với người được tặng bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương phải là người có thành tích xuất sắc được bình xét trong phong trào thi đua hoặc lập thành tích xuất sắc đột xuất có phạm vi ảnh hưởng trong trong từng lĩnh vực của tỉnh, Bộ, ngành, đoàn thể trung ương hoặc có 02 năm trở lên liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong thời gian đó có 02 sáng kiến được áp dụng. Tiêu chuẩn đối với người được tặng bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương tuy Điều 73 của Luật thi đua, khen thưởng và Điều 39 Nghị định 91/2017/NĐ-CP không quy định cụ thể nhưng giao cho các cơ quan đoàn thể trung ương, Bộ Quốc phũng, Bộ Cụng an quy định. Ví dụ, Tại điểm c mục 6 phần III Thụng tư số 42/2003/TT-BQP ngày 2-5-2003 của Bộ quốc phũng hướng dẫn “người được tặng bằng khen của cấp quân khu phải là người có 3 năm liên tục là CSTĐ cấp cơ sở hoặc có thành tích đột xuất xuất sắc”.
Căn cứ qui định về tiêu chuẩn của người được tặng bằng khen nêu trên, chúng tôi cho rằng có thể coi người được tặng bằng khen của Thủ tướng Chớnh phủ, bằng khen cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương, bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương là người có thành tích xuất sắc. Còn đối với người được tặng bằng khen của các cơ quan, tổ chức khác không được quy định trong Luật thi đua, khen thưởng thì không được công nhận là người có thành tích xuất sắc.
Từ phân tích trên, theo chúng tôi những người sau đây có thể coi là người có thành tích xuất sắc và nếu phạm tội thì họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS :
- Người có 02 năm liền là CSTĐ cơ sở;
- Người được tặng danh hiệu CSTĐ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, CSTĐ Bộ, ngành trung ương;
- Người được tặng danh hiệu CSTĐ toàn quốc;
- Người được tặng bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh; bằng khen cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
- Người được tặng bằng khen của cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương;
- Người được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Th.s LS Nguyễn Văn Trượng
Link phần 1 của bài viết: https://www.facebook.com/Luatsaothudo.vn/photos/a.363611574334630/948514802510968/
📍Công ty Luật TNHH Sao Thủ Đô
🏢Đ/c: Tầng 6, số 170 đường Trần Duy Hưng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
☎️SĐT: 094.666.1816
📧Website: http://luatsaothudo.vn/
LS Hà Trí TuệHà Tiến TriểnLuật sư Bùi Minh ĐạiHân Luật sưTrung HC