13/08/2026
🛑⚖️ TOÀ TUYÊN ÁN [BẢN ÁN VỀ TRỐN THUẾ TRONG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN/TH-LSSG]
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Phương H thừa nhận do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: ngày 19/6/2019, bị cáo Trần Thanh T ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 101, tờ bản đồ số 9 có diện tích 95.463,8m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB141030 tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương cho bị cáo H với giá trị chuyển nhượng thực tế là 18.000.000.000 đồng, để thực hiện hành vi trốn thuế bị cáo H và T ghi giá trị chuyển nhượng trên hợp đồng là 5.000.000.000 đồng. Theo Điều 4 của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thỏa thuận bị cáo H là người có trách nhiệm nộp toàn bộ các loại thuế, phí, lệ phí. Với việc khai khống giá trị thực tế chuyển nhượng như trên đã giúp bị cáo Nguyễn Thị Phương H thực hiện hành vi trốn thuế với số tiền là 214.072.830 đồng. Bị cáo T biết giá trị chuyển nhượng thực tế nhưng vẫn đồng ý ký hợp đồng với giá trị chuyển nhượng là 5.000.000.000 đồng nhằm giúp sức cho bị cáo H thực hiện hành vi trốn thuế nên hành vi của bị cáo T phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 04/11/2019, bị cáo H chuyển nhượng thửa đất trên cho bị cáo Võ Đức Q1 với giá 18.000.000.000 đồng, để thực hiện hành vi trốn thuế, bị cáo Q1 và H yêu cầu Văn phòng C3 ghi giá trị chuyển nhượng trên hợp đồng là 3.000.000.000 đồng. Theo Điều 4 của hợp đồng chuyển nhượng thỏa thuận bị cáo Q1 là người có trách nhiệm nộp toàn bộ các loại thuế, phí, lệ phí. Với việc khai khống giá trị thực tế chuyển nhượng như trên đã giúp cho Q1 thực hiện hành vi trốn thuế với số tiền trốn là 212.696.830 đồng. Bị cáo H biết việc giá trị chuyển nhượng thực tế và đồng ý ghi giá trị chuyển nhượng trên hợp đồng là 3.000.000.000 đồng nhằm giúp sức cho Q1 thực hiện hành vi trốn thuế.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Phương H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” theo điểm d khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2025. Hành vi của các bị cáo Võ Đức Q1 và Trần Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trốn thuế” theo điểm đ khoản 1 Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Phương H, Trần Thanh T và Võ Đức Q1 về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
TOÀ TUYÊN XỬ:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Phương H. Sửa Bản án hình
sự sơ thẩm số: 57/2025/HS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trốn thuế”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/3/2026).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Phương H cho Ủy ban nhân dân xã P, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trần Thanh T số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) về tội “Trốn thuế”.
👉 Nội dung được trích từ bản án số: 191/2026/HS-PT do Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên ngày 27-3-2026.
Cre: Fb LUẬT SƯ SÀI GÒN