Công Ty Luật Phạm Anh - Quảng Ngãi

Công Ty Luật Phạm Anh - Quảng Ngãi Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Công Ty Luật Phạm Anh - Quảng Ngãi, Lawyer & Law Firm, Số 215 Hai Bà Trưng, phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi ( 0919952417; 0905232417 ), Quang Ngai.

Tư vấn pháp luật;
Tham gia tố tụng;
Đại diện ngoài tố tụng;
Hỗ trợ thủ tục xin cấp GCNQSDĐ, tách thửa, tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thủ tục liên quan đến đất đai;
Hỗ trợ và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.

"NHẬN ĐƠN NHƯNG KHÔNG LẬP BIÊN NHẬN"Một thực trạng tồn tại nhiều năm ở cơ quan Nhà nước (không phải tất cả) là khi người...
11/12/2025

"NHẬN ĐƠN NHƯNG KHÔNG LẬP BIÊN NHẬN"
Một thực trạng tồn tại nhiều năm ở cơ quan Nhà nước (không phải tất cả) là khi người dân nộp đơn khiếu nại, đơn trình báo, đơn yêu cầu, hoặc hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ tiếp nhận thường không lập Phiếu tiếp nhận hay Giấy biên nhận. Thay vào đó là câu nói quen thuộc: “Anh cứ yên tâm, tôi ghi vào sổ rồi, có gì chúng tôi sẽ liên hệ sau.” Ở bề ngoài, đây chỉ là một biểu hiện nghiệp vụ hành chính thiếu chuẩn mực, nhưng trên thực tế, nó gây ra những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng cho cả người dân lẫn cơ quan thực thi công vụ.
1. Vì sao cán bộ né biên nhận?
Dù không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu rằng việc không lập biên nhận giúp cán bộ và cơ quan “dễ thở” hơn:
• Nếu quá hạn giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Đất đai, Luật Tiếp công dân… thì người dân có biên nhận sẽ có căn cứ để khiếu nại, phản ánh trách nhiệm chậm trễ.
• Nếu hồ sơ bị thất lạc, chuyển qua nhiều bộ phận rồi bị “rơi rớt”, việc không có biên nhận giúp cơ quan dễ chối bỏ trách nhiệm.
• Thậm chí, việc “không biên nhận” còn tạo ra vùng mờ để kéo dài thời gian xem xét, chờ chỉ đạo hoặc né những hồ sơ nhạy cảm.
Đây là những thực tế ai cũng biết nhưng ít khi được nói thẳng. Và vì không được chỉ ra một cách quyết liệt, tình trạng này cứ thế lặp đi lặp lại từ năm này sang năm khác.
2. Người dân cần gì ở một cơ quan thụ lý ?
Với người dân, việc cơ quan “ghi vào sổ” không có giá trị gì nếu họ không cầm trên tay một chứng cứ về thời điểm nộp đơn hoặc hồ sơ.
Trong khi đó, pháp luật quy định rất rõ:
• Thời hạn khiếu nại kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được quyết định hành chính (Luật Khiếu nại).
• Thời hạn khởi kiện vụ án hành chính tính từ thời điểm nhận được hoặc biết được quyết định bị khiếu nại, và đặc biệt căn cứ vào thời điểm người dân thực hiện quyền khiếu nại.
• Thời hạn giải quyết thủ tục hành chính luôn được tính từ ngày cơ quan nhận đủ hồ sơ theo Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật TTHC…
Nếu không có biên nhận:
• Người dân không thể chứng minh mình đã khiếu nại đúng hạn.
• Không thể phản ánh việc hồ sơ bị ngâm, bị chậm giải quyết.
• Không thể xác định thời điểm bắt đầu để bảo vệ quyền khởi kiện ra tòa.
• Không thể xác minh hồ sơ đã nộp gồm những giấy tờ gì — đặc biệt quan trọng khi giữa người dân và cơ quan phát sinh tranh cãi về thiếu – đủ hồ sơ.
Như vậy, một tờ biên nhận — dù chỉ một trang giấy, dù chỉ xác nhận “đã nhận 01 đơn, không đính kèm tài liệu” — chính là la bàn pháp lý để người dân bảo vệ quyền của mình.
3. Biên nhận là nghĩa vụ pháp lý, không phải sự “tự nguyện hỗ trợ”
Pháp luật hiện hành không cho phép cơ quan tùy nghi lập hay không lập biên nhận. Các văn bản như:
• Luật Tiếp công dân 2013,
• Luật Khiếu nại 2011,
• Luật Đất đai 2013 và 2024,
• Nghị định 61/2018/NĐ-CP về thủ tục hành chính,
• Nghị định 124/2020/NĐ-CP,
• Cùng hệ thống quy chế một cửa, một cửa liên thông…
đều xác định rõ:
Cơ quan hành chính phải lập Phiếu tiếp nhận khi nhận đơn, hồ sơ; ghi rõ ngày, giờ, người nộp, loại hồ sơ, số lượng giấy tờ.
Đây là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào thiện chí cán bộ. Không có quy định nào cho phép thay thế biên nhận bằng “ghi vào sổ”, càng không có quy định nào nói rằng “sẽ gọi lại” là một hình thức tiếp nhận hợp pháp.
4. Sổ là việc của cơ quan, còn chứng cứ phải thuộc về người dân
Việc vào sổ là quy trình nội bộ của cơ quan, nhằm mục đích quản lý, phân công xử lý, lưu trữ. Người dân không có quyền tiếp cận sổ, không biết nội dung cán bộ đã ghi gì, ghi đúng hay ghi sai.
Điều người dân cần là một chứng cứ độc lập, do cơ quan cấp, được lưu giữ bên ngoài hệ thống nội bộ của họ.
Không thể có chuyện hồ sơ của dân chỉ tồn tại trong một quyển sổ mà người dân không được xem, không được biết, không được sao chụp, và hoàn toàn không có cách nào kiểm chứng khi xảy ra tranh chấp trách nhiệm.
5. Biên nhận: đơn giản nhưng là nền tảng để bảo vệ quyền công dân
Biên nhận không chỉ để “cho có” — nó là mốc thời gian pháp lý để đánh giá:
• Khiếu nại đúng hạn hay quá hạn
• Cơ quan giải quyết có chậm trễ hay không
• Thời điểm tính thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính
• Thành phần hồ sơ đã nộp đúng hay chưa
Chỉ cần nhìn vào một tờ biên nhận là biết toàn bộ hành trình pháp lý của vụ việc.
Và chỉ cần thiếu tờ biên nhận ấy, quyền của người dân có thể bị vô hiệu hóa trong tích tắc.
6. Đã đến lúc phải thay đổi dứt khoát
Ai cũng biết tình trạng này, ai cũng thấy bất cập, nhưng nhiều năm trôi qua, rất ít nơi thay đổi. Đã đến lúc cần:
• Kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu bộ phận một cửa.
• Xử lý nghiêm hành vi cố tình không lập biên nhận.
• Công khai quy trình thủ tục, trong đó yêu cầu bắt buộc phải cấp biên nhận ngay lập tức.
• Niêm yết biểu mẫu biên nhận để người dân tự đối chiếu.
• Quy định rõ: trường hợp không lập biên nhận, người dân có quyền ghi âm, ghi hình làm chứng cứ để phản ánh.
7. Điều quan trọng nhất
Dù người dân chỉ nộp một tờ đơn, hay nộp một bộ hồ sơ đầy đủ, dù chỉ là bản photo, cơ quan phải ghi rõ ràng, chi tiết, ngày tháng, số lượng, tính chất tài liệu trong biên nhận.
Đó không chỉ là trách nhiệm, mà là minh chứng của một nền hành chính văn minh, minh bạch, tôn trọng quyền công dân.

Quy định về tổ chức thi hành cưỡng chế kê biên tài sản  Theo đó, quy định về tổ chức thi hành cưỡng chế kê biên tài sản ...
25/11/2025

Quy định về tổ chức thi hành cưỡng chế kê biên tài sản

Theo đó, quy định về tổ chức thi hành cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá từ ngày 01/01/2026, cụ thể như sau:

- Người ra quyết định cưỡng chế hoặc người được phân công thực hiện quyết định cưỡng chế chủ trì thực hiện việc kê biên.

- Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc cha, mẹ, người giám hộ, đại diện tổ chức bị kê biên tài sản. Trường hợp cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đại diện hợp pháp của tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, người đồng sở hữu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tài sản bị kê biên vắng mặt thì có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Nếu cá nhân phải thi hành quyết định cưỡng chế hoặc người thành niên trong gia đình, đại diện tổ chức bị kê biên tài sản cố tình vắng mặt hoặc có mặt nhưng cản trở việc kê biên, thì vẫn tiến hành kê biên tài sản nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc ít nhất 01 người chứng kiến.

- Cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có quyền đề nghị kê biên tài sản nào trước, người được giao chủ trì kê biên phải chấp nhận nếu xét thấy đề nghị đó không ảnh hưởng đến việc cưỡng chế. Nếu cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế không đề nghị cụ thể việc kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc sở hữu riêng được kê biên trước.

- Chỉ kê biên những tài sản thuộc sở hữu chung của cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế với người khác nếu cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế. Trường hợp tài sản có tranh chấp thì vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho những người cùng sở hữu tài sản kê biên về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự.

Cơ quan tiến hành kê biên có trách nhiệm thông báo công khai thời gian, địa điểm tiến hành kê biên, cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có trách nhiệm thông báo cho người đồng sở hữu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tài sản bị kê biên để những người này biết và có thể đến tham dự. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện thì tài sản kê biên được đem bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.

Nghị định 296/2025/NĐ-CP

LƯU Ý VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁNTừ ngày 01/07/2025, hệ thống tòa án Việt Nam đã thay đổi cơ bản khi nhiều tòa án nhân dân ...
21/11/2025

LƯU Ý VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN
Từ ngày 01/07/2025, hệ thống tòa án Việt Nam đã thay đổi cơ bản khi nhiều tòa án nhân dân cấp huyện bị giải thể hoặc sáp nhập, thay vào đó là Tòa án nhân dân khu vực, theo Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị quyết này quy định phạm vi thẩm quyền lãnh thổ của các TAND cấp tỉnh và khu vực, đồng thời xác định rõ các tòa khu vực kế thừa quyền, nghĩa vụ của tòa cấp huyện trước hợp nhất.
Luật sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân – Luật số 81/2025/QH15 – là cơ sở luật hóa việc thành lập TAND khu vực và cơ cấu tổ chức mới của tòa án ba cấp (TAND tối cao, TAND cấp tỉnh, TAND khu vực).
Đồng thời, Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự (và một số luật tố tụng khác) để tương thích với mô hình TAND khu vực. Theo đó, điều chỉnh đáng chú ý là Điều 35 BLTTDS quy định rõ: “Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm” các tranh chấp dân sự theo quy định các điều tương ứng, trừ yêu cầu hủy hoặc đăng ký phán quyết trọng tài thuộc thẩm quyền TAND cấp tỉnh. Luật cũng quy định thẩm quyền tòa chuyên trách tại tòa khu vực: như Tòa Dân sự giải quyết dân sự, lao động; Tòa Kinh tế giải quyết kinh doanh, thương mại; Tòa Sở hữu trí tuệ giải quyết quyền sở hữu trí tuệ – chuyển giao công nghệ; Tòa Gia đình – người chưa thành niên giải quyết hôn nhân, gia đình.
Về phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm: Luật 85/2025 quy định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND khu vực khi có kháng cáo, kháng nghị; đồng thời có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm trong phạm vi lãnh thổ đối với các quyết định của tòa khu vực. Luật còn quy định cách giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa các tòa khu vực: nếu trong cùng tỉnh thì do Chánh án TAND cấp tỉnh quyết; nếu giữa các tỉnh thì do Chánh án TAND Tối cao quyết.
Về chuyển giao hồ sơ đang xử lý khi sắp xếp: Nghị quyết 01/2025/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn chi tiết. Theo đó, vụ án, việc đang được tòa cấp huyện thụ lý trước ngày 01/07/2025, nếu thụ lý đúng thẩm quyền thì TAND khu vực tiếp nhận và tiếp tục xử lý; trong trường hợp tranh chấp về bất động sản nhưng sau sắp xếp hành chính địa giới thì tòa khu vực có thể phải chuyển hồ sơ sang tòa khu vực khác theo phạm vi lãnh thổ quy định tại Nghị quyết 81.
Như vậy, sau sắp xếp, thẩm quyền tòa án đã được tái phân bổ rất rõ ràng: TAND khu vực là cấp sơ thẩm chính cho hầu hết các vụ việc dân sự, hành chính, kinh tế,… trong phạm vi lãnh thổ mới; TAND cấp tỉnh giữ vai trò giám sát xét xử, xử lý kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm từ các tòa khu vực; quy trình chuyển giao hồ sơ đảm bảo liên tục, không đứt gãy, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2025/HĐTP.

LÝ SƠN: CÂU CHUYỆN BA ANH ĐI CHƠI BÃONgười ta đi chơi mưa, đi dã ngoại, đi hóng gió nghe cũng thường. Ở quê tôi có ba ôn...
11/11/2025

LÝ SƠN: CÂU CHUYỆN BA ANH ĐI CHƠI BÃO
Người ta đi chơi mưa, đi dã ngoại, đi hóng gió nghe cũng thường. Ở quê tôi có ba ông kia đi chơi siêu bão mới đáng mặt anh hùng, mà không phải đi trên đất liền, xuống luôn dưới lòng Biển Đông dạo cho rộng rãi.
Đúng là dân đảo có khác, tắm biển cũng không giống người thường, đã xuống nước thì phải chơi liên tù tì 3 ngày mới đã. Mà tắm biển ngày thường nó “êm” quá, không phê – phải chọn ngày có sóng cao tầm 3 m nó mới đủ ngầu. Bơi thi Olympic là chuyện dành cho các chú bơi hồ tập tành sức khỏe – ở cái trình con cháu của “Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải” thì tụi tớ bơi đua tốc độ chặn đầu tàu nó mới phê.
Thế rồi, lúc cơn bão số 13 (tên quốc tế là Kalmaegi) ập vào vùng biển Lý Sơn với gió mạnh cấp 8-9, giật cấp 10, sóng biển cao từ 3-5 m – có nơi tới 5-7 m. Ba anh không chần chờ – thế là lao ra.
Kết quả: ba anh bơi một lèo đâu đó 60 hải lý ngoài Biển Đông (vâng, tầm 140 km chứ có nhiêu). Sau khi đón được tàu trở về, bà con bắn pháo hoa tưng bừng, được “bonus” thêm 2 cái giấy khen thay cho kỷ lục Guinness. Thôi vậy cũng được, chuyện bọn tớ đi chơi tí không kịp thông báo, mà nghỉ chắc thông báo cũng không có cha nào dám ra đó quay phim – bấm giờ.

08/09/2025
Ly hôn có yếu tố nước ngoài: Vì sao ở Việt Nam phức tạp hơn Mỹ? Có nên cải cách?1. Câu chuyện thực tếMột công dân Việt N...
08/09/2025

Ly hôn có yếu tố nước ngoài: Vì sao ở Việt Nam phức tạp hơn Mỹ? Có nên cải cách?
1. Câu chuyện thực tế
Một công dân Việt Nam muốn ly hôn với vợ/chồng đang định cư tại Mỹ. Vấn đề phát sinh: không còn liên lạc được, không có địa chỉ chính xác để Tòa án Việt Nam thực hiện tống đạt giấy tờ. Vì vướng quy định tố tụng, vụ án gần như không thể giải quyết, trừ khi phải tuyên bố người kia mất tích (sau ít nhất 2 năm biệt tích).
Trong khi đó, một trường hợp ngược lại: công dân Mỹ muốn ly hôn với người vợ/chồng đang ở Việt Nam. Tòa án Mỹ hoàn toàn có thể ra bản án ly hôn mà không cần thủ tục tống đạt quốc tế, chỉ cần nguyên đơn chứng minh đã nỗ lực liên hệ và đăng báo công khai.
Sự khác biệt này cho thấy một nghịch lý pháp lý: công dân Việt Nam có thể bị “kẹt” trong hôn nhân không lối thoát, trong khi công dân nước ngoài lại được pháp luật bảo vệ quyền ly hôn một cách triệt để và linh hoạt hơn.
2. Vì sao lại có sự khác biệt?
• Pháp luật Mỹ (common law):
Đề cao quyền tự do cá nhân. Nếu nguyên đơn chứng minh đã “tìm kiếm thiện chí” (due diligence) mà vẫn không tìm được bị đơn, Tòa cho phép thông báo công khai (service by publication). Sau thời hạn, Tòa có thể ra phán quyết ly hôn đơn phương, không cần sự tham gia của bị đơn.
• Pháp luật Việt Nam (civil law):
Đề cao tính chặt chẽ của thủ tục tố tụng. Tòa án chỉ được xét xử khi đã tống đạt hợp lệ. Không biết địa chỉ → không thể tống đạt → vụ án bị đình chỉ. Chỉ khi bị đơn “biệt tích 2 năm trở lên” thì mới có thể xin tuyên mất tích rồi mới ly hôn.
3. Hệ quả
• Đối với công dân Việt Nam:
Họ có thể bị buộc phải “duy trì tình trạng hôn nhân đến chết” chỉ vì không liên lạc được với vợ/chồng. Điều này gây cản trở khi muốn tái hôn, gây khó khăn trong quản lý tài sản, con cái, và cả trong đời sống tinh thần.
• Đối với xã hội:
Tạo ra sự bất bình đẳng giữa công dân trong nước và công dân nước ngoài trong cùng một tình huống. Người ở Mỹ có thể “giải thoát” dễ dàng, còn người ở Việt Nam thì bị trói buộc.
4. Có nên cải cách?
Theo tôi, rất cần cải cách trong lĩnh vực này. Cụ thể:
1. Mở rộng cơ chế thông báo công khai: Cho phép Tòa án Việt Nam xử ly hôn vắng mặt nếu nguyên đơn đã chứng minh có nỗ lực tìm kiếm nhưng không liên hệ được.
2. Đơn giản hóa thủ tục ủy thác tư pháp: Rút ngắn thời gian, thậm chí có thể thay bằng thông báo qua cổng thông tin điện tử quốc gia.
3. Đặt quyền được ly hôn ngang hàng với quyền được kết hôn: Không thể bắt buộc một người phải duy trì hôn nhân trọn đời chỉ vì đối tác “mất tích” hay cố tình né tránh.

5. Kết luận
Trong khi nhiều nước, như Mỹ, coi ly hôn là quyền tuyệt đối của cá nhân, thì ở Việt Nam, thủ tục lại quá rườm rà, vô tình biến hôn nhân thành “sợi dây trói” không cắt được.
Với ý kiến chủ quan của cá nhân tội thì Việt Nam cần một cuộc cải cách tố tụng hôn nhân có yếu tố nước ngoài, để đảm bảo công bằng cho công dân Việt Nam, và quan trọng hơn, để hôn nhân thực sự là sự tự nguyện – khi không còn tình cảm thì ai cũng có quyền tự do chấm dứt, thay vì bị buộc gắn bó đến cuối đời.

Thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp xã trong xử phạt hành chínhTheo đó, Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là...
16/07/2025

Thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp xã trong xử phạt hành chính

Theo đó, Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã) có quyền:

(i) Phạt cảnh cáo;

(ii) Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

(iii) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

(iv) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

(v) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Nghị định 189/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Mức tiền phạt vi phạm hành chính tối đa trong các lĩnh vực

Tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi bổ sung) quy định mức phạt tiền vi phạm hành chính tối đa trong các lĩnh vực như sau:

(1) Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được quy định như sau:

- Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tín ngưỡng, tôn giáo; thi đua, khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê; đối ngoại; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

- Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; cản trở hoạt động tố tụng; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao dịch điện tử; bưu chính;

- Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS; văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội; phòng, chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn gen (trừ nguồn gen giống vật nuôi); trồng trọt (trừ phân bón); thú y; kế toán; phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ; đăng ký doanh nghiệp; kiểm toán nhà nước;

- Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: cơ yếu; quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia; quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động; giáo dục; giáo dục nghề nghiệp; giao thông đường bộ; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm thất nghiệp; phòng, chống tệ nạn xã hội;

- Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; chăn nuôi; phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; hoạt động hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; dữ liệu; công nghiệp công nghệ số; xuất bản; in; thương mại; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; điện lực;

- Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;

- Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thủy lợi; sở hữu trí tuệ; báo chí;

- Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; lâm nghiệp; đất đai; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; kinh doanh bất động sản;”;

- Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; thủy sản.

(2) Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước quy định tại khoản (1) đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

(3) Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực: thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh; kiểm toán độc lập; bảo vệ dữ liệu cá nhân được thực hiện theo quy định tại các luật tương ứng.

(4) Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản (1) Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

10/07/2025

Thông tư 02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025:
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực trong thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố được quy định như sau:

(1) Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền:

- Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết và thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực;

- Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí tại Công an cấp xã;

- Phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền của điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã;

- Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng do các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thụ lý, giải quyết và thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực.

(2) Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án mà phát hiện vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác hoặc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì thực hiện như sau:

- Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác trong cùng một tỉnh: Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý chuyển việc thực hiện thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền nếu vụ việc, vụ án đang trong giai đoạn khởi tố, điều tra; chuyển vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự nếu vụ án đang trong giai đoạn truy tố;

- Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh: Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và chuyển việc thực hiện thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nếu vụ việc, vụ án đang trong giai đoạn khởi tố, điều tra; báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và chuyển vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự nếu vụ án đang trong giai đoạn truy tố;

- Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác ngoài tỉnh hoặc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh khác thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 169 và khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Send a message to learn more

CÓ QUYỀN hay KHÔNG CÓ QUYỀN Tôi làm đơn “yêu cầu không tiến hành hòa giải cho một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan...
01/07/2025

CÓ QUYỀN hay KHÔNG CÓ QUYỀN
Tôi làm đơn “yêu cầu không tiến hành hòa giải cho một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” trong một vụ án dân sự. Tuy nhiên, có người lại cho rằng chỉ “Nguyên đơn” với “Bị đơn” mới có quyền này ! Tôi thì không đồng tình với quan điểm đó.
Vấn đề:
“Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có được yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải?” – Câu trả lời nằm ở cách hiểu đầy đủ khái niệm ‘đương sự’ trong tố tụng dân sự
Như đã nói ở trên, có người cho rằng chỉ “Nguyên đơn” hoặc “Bị đơn” mới có quyền đề nghị không hòa giải, còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì không.
Tôi không đồng tình với quan điểm này, bởi nó hạn chế phạm vi của từ “đương sự” theo quy định pháp luật hiện hành.
🔍 1. Cơ sở pháp lý: Đương sự là ai?
Theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự bao gồm:
“Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Nói cách khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là một dạng đương sự, được pháp luật công nhận vị trí tố tụng độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn hoặc bị đơn (trừ một số quyền mang tính đặc thù riêng).
⚖️ 2. Đề nghị không hòa giải – Một quyền hợp pháp của mọi đương sự
Khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rõ:
“Tòa án không tiến hành hòa giải trong các trường hợp sau đây:..
c) Một trong các đương sự đề nghị không hòa giải;”
Ở đây, từ khóa cần nhấn mạnh là: “một trong các đương sự” – không hề giới hạn trong phạm vi nguyên đơn hoặc bị đơn.
👉 Vì vậy, khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị không hòa giải, Tòa án có trách nhiệm không tiến hành hòa giải. Điều này không những đúng luật, mà còn bảo vệ quyền tự quyết của mỗi đương sự về chiến lược tố tụng của mình.
📚 3. Hướng dẫn nội dung này trong thực tiễn
Trong Hướng dẫn số 01/2017/HD-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tại phần giải thích về Điều 68 đã khẳng định rõ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đương sự.
Mặc dù Hướng dẫn này không nói trực tiếp đến Điều 207, nhưng việc hiểu một cách hệ thống và logic pháp lý sẽ thấy rằng, người liên quan – với tư cách là đương sự – đương nhiên có quyền yêu cầu không hòa giải.
💡 4. Tại sao quyền yêu cầu không hòa giải là quan trọng với mọi đương sự?
Hòa giải là một cơ chế mang tính khuyến khích, nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp với mọi tình huống. Có những vụ việc mà đương sự:
• Không thể đạt được thỏa thuận do mâu thuẫn nghiêm trọng;
• Có lo ngại về việc đối phương kéo dài thời gian để tẩu tán tài sản;
• Muốn bảo vệ quyền lợi một cách trực diện bằng phán quyết của Tòa;
• Hoặc đơn giản là không tin vào thiện chí hòa giải của bên còn lại.
Trong những trường hợp đó, quyền đề nghị không hòa giải là một quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, được pháp luật thừa nhận. Không thể viện dẫn lý do “anh là người liên quan nên không được yêu cầu” để tước đoạt quyền tố tụng chính đáng đó.
✅ 5. Kết luận: Cần hiểu đúng và đầy đủ khái niệm "đương sự"
Quan điểm cho rằng chỉ nguyên đơn và bị đơn mới được yêu cầu không hòa giải là hạn hẹp, không đúng với tinh thần và nội dung pháp luật tố tụng dân sự. Mọi đương sự – bao gồm cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – đều có quyền thực hiện yêu cầu này.
📌 Tôn trọng quyền đề nghị không hòa giải của bất kỳ đương sự nào là tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và quyền tự định đoạt trong tố tụng.

TỪ NAY:_ HÀNH VI NGÔNG CUỒNG “BIẾT BỐ TAO LÀ ÁI KHÔNG !?” CHẮC GIẢM ĐI NHIỀU !_HÀNH VI KHÔNG XỬ LÝ DO NGẠI VA CHẠM CŨNG ...
05/05/2025

TỪ NAY:
_ HÀNH VI NGÔNG CUỒNG “BIẾT BỐ TAO LÀ ÁI KHÔNG !?” CHẮC GIẢM ĐI NHIỀU !
_HÀNH VI KHÔNG XỬ LÝ DO NGẠI VA CHẠM CŨNG GIẢM THEO
_NGOÀI TRÁCH NHIỆM TĂNG THÊM, NGƯỜI XỬ LÝ VI PHẠM CŨNG CÓ “LÝ DO CHÍNH ĐÁNG” ĐỂ KHÔNG CẦN NỂ BỐ CON THẰNG NÀO ! KHI CẦN XỬ LÝ LÀ XỬ LUÔN MÀ KHÔNG PHẢI CHỜ CÓ AI GỌI ĐIỆN !

Các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính:

- Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.

- Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của đối tượng vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của đối tượng vi phạm khi xử lý vi phạm hành chính.

- Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.

- Không lập biên bản vi phạm hành chính khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

- Lập biên bản vi phạm hành chính không đúng thẩm quyền, không đúng hành vi vi phạm hành chính, không đúng đối tượng vi phạm hành chính.

- Vi phạm thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính hoặc vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật hoặc không tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

- Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không đúng thẩm quyền, thủ tục (trừ trường hợp bị xem xét xử lý về hành vi vi phạm quy định tại các khoản 5, 6, 7, 8 và 10 Điều 22 Nghị định 19/2020), không đúng đối tượng theo quy định pháp luật hoặc áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính hoặc không áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính.

- Xác định không đúng hành vi vi phạm khi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trừ trường hợp bị xem xét xử lý về hành vi vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 22 Nghị định 19/2020.

- Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

- Không sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính hoặc không kịp thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính khi phát hiện có sai sót, vi phạm.

- Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định; không tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

- Sử dụng trái pháp luật tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính.

- Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, không đầy đủ, không trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ của đối tượng được kiểm tra cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm.

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Xem chi tiết Nghị định 93/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/6/2025.

Address

Số 215 Hai Bà Trưng, Phường Trần Phú, Thành Phố Quảng Ngãi ( 0919952417; 0905232417 )
Quang Ngai
570000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công Ty Luật Phạm Anh - Quảng Ngãi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công Ty Luật Phạm Anh - Quảng Ngãi:

Share