04/01/2021
KHUNG KHÁI NIỆM CHO IFRS
Khung khái niệm đóng vai trò là công cụ để IASB phát triển các tiêu chuẩn. Nó không ghi đè các yêu cầu của từng IFRS. Một số công ty có thể sử dụng Khung làm tài liệu tham khảo để lựa chọn các chính sách kế toán của họ trong trường hợp không có các yêu cầu IFRS cụ thể.
1. Mục tiêu của báo cáo tài chính
Khung khái niệm nêu rõ rằng mục đích chính của thông tin tài chính là hữu ích cho các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng. Người cho vay và các chủ nợ khác khi đưa ra quyết định về việc tài trợ cho đơn vị và thực hiện quyền bỏ phiếu hoặc ảnh hưởng đến các hành động của ban quản lý đến sử dụng các nguồn lực kinh tế của thực thể. Người dùng dựa trên mong đợi của họ về lợi nhuận dựa trên đánh giá của họ về:
- Số lượng, thời gian và sự không chắc chắn của dòng tiền ròng trong tương lai cho đơn vị.
- Quản lý tài nguyên của thực thể.
2. Đặc điểm định tính của thông tin tài chính
- Khung khái niệm cho báo cáo tài chính xác định các đặc tính định tính cơ bản của thông tin tài chính là:
+ Sự liên quan, sự thích đáng.
+ Đại diện đáng tin cậy.
- Khung cũng mô tả nâng cao các đặc tính định tính:
+ So sánh
+ Kiểm chứng
+ Kịp thời
+ Hiểu được
3. Các yếu tố của báo cáo tài chính
Khung khái niệm xác định các yếu tố của báo cáo tài chính là:
+ Tài sản: Một nguồn lực kinh tế hiện tại được kiểm soát bởi thực thể do kết quả của các sự kiện trong quá khứ dự kiến sẽ tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai.
+ Trách nhiệm pháp lý: Nghĩa vụ hiện tại của đơn vị chuyển giao một nguồn lực kinh tế là kết quả của các sự kiện trong quá khứ.
+ Vốn chủ sở hữu: Tiền lãi còn lại trong tài sản của đơn vị sau khi trừ tất cả các khoản nợ của nó.
+ Thu nhập: Tăng lợi ích kinh tế trong một kỳ kế toán dưới dạng dòng vốn hoặc tăng cường tài sản, hoặc giảm các khoản nợ dẫn đến tăng vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, nó không bao gồm các khoản đóng góp của những người tham gia cổ phần (ví dụ: chủ sở hữu, đối tác hoặc cổ đông).
+ Chi phí: Giảm tài sản, hoặc tăng nợ phải trả, dẫn đến giảm vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, những điều này không bao gồm các phân phối được thực hiện cho những người tham gia cổ phần.
+ Những thay đổi khác về nguồn lực và yêu cầu kinh tế: Đóng góp từ những người nắm giữ cổ phần và phân phối cho họ.
4. Khái niệm về vốn và bảo trì vốn
Các khái niệm về duy trì vốn rất quan trọng vì chỉ thu nhập kiếm được vượt quá số tiền cần thiết để duy trì vốn có thể được coi là lợi nhuận. Khung khái niệm mô tả các khái niệm sau về bảo trì vốn:
- Bảo trì vốn tài chính: Theo khái niệm này, lợi nhuận chỉ kiếm được nếu số tiền tài chính của tài sản ròng vào cuối kỳ vượt quá số tài chính (hoặc tiền) của tài sản ròng vào đầu kỳ, sau khi loại trừ bất kỳ phân phối nào và đóng góp từ chủ sở hữu trong khoảng thời gian. Bảo trì vốn tài chính có thể được đo lường bằng đơn vị tiền tệ danh nghĩa hoặc đơn vị sức mua không đổi.
- Bảo trì vốn vật chất: Theo khái niệm này, lợi nhuận chỉ kiếm được nếu năng lực sản xuất vật chất (hoặc năng lực hoạt động) của đơn vị (hoặc nguồn lực hay quỹ cần thiết để đạt được năng lực đó) vào cuối kỳ vượt quá năng lực sản xuất vật chất vào đầu kỳ, sau khi loại trừ bất kỳ phân phối nào và đóng góp của chủ sở hữu trong giai đoạn này.
Hầu hết các thực thể áp dụng một khái niệm tài chính về bảo trì vốn. Tuy nhiên, Khung khái niệm không quy định bất kỳ mô hình bảo trì vốn nào.