Luật sư Minh Hà

Luật sư Minh Hà Hỗ trợ tư vấn pháp luật và bảo vệ quyền lợi cho cá nhân
Tư vấn MIỄN PHÍ

02/12/2024

TƯ VẤN PHÁP LUẬT, HỖ TRỢ GIẢI ĐÁP VƯỚNG MẮC VỀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ, LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI:
--------------------
_ Hỗ trợ soạn thảo văn bản, tư vấn pháp luật _Tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân và doanh nghiệp.
_Tư vấn, giải đáp vướng mắc pháp lý..
---------------------
Gửi tin nhắn để nhận tư vấn, hoặc gọi ngay cho VPLS theo nút bên dưới bài viết này.

Hỗ trợ tư vấn pháp luật và bảo vệ quyền lợi cho cá nhân
Tư vấn MIỄN PHÍ

TƯ VẤN PHÁP LUẬT, HỖ TRỢ GIẢI ĐÁP VƯỚNG MẮC VỀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ, LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI: -------------------- _ Hỗ...
22/05/2022

TƯ VẤN PHÁP LUẬT, HỖ TRỢ GIẢI ĐÁP VƯỚNG MẮC VỀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ, LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI: -------------------- _ Hỗ trợ soạn thảo văn bản, tư vấn pháp luật _Tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân và doanh nghiệp. --------------------- Gửi tin nhắn để nhận tư vấn, hoặc gọi ngay cho VPLS theo nút bên dưới bài viết này.

Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình vợ chồng có nghĩa vụ trả nợ chung trong các trường hợp sau:- Nghĩa vụ Nghĩa vụ phát si...
09/01/2022

Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình vợ chồng có nghĩa vụ trả nợ chung trong các trường hợp sau:
- Nghĩa vụ Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
Như vậy, nếu người chồng vay tiền để sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp quy định về đại diện giữa vợ chồng như: chi phí xây dựng, sửa chữa nhà ở, chăm sóc sức khỏe các thành viên trong gia đình, việc học hành của con…thì dù không bàn bạc với vợ và vợ cũng không ký vào hợp đồng vay thì về nguyên tắc vợ cũng vẫn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ.
Còn nếu giao dịch của chồng dùng để đáp ứng mục đích nhu cầu cá nhân của chồng như: đầu tư kinh doanh riêng, mua vật dụng cá nhân, cờ bạc, số đề, cá độ…; thì vợ không có nghĩa vụ liên đới trả nợ.

Hiện nay, di sản thừa kế được để lại cho người thừa kế theo hai phương thức: Theo di chúc và theo pháp luật. Trong đó, q...
08/01/2022

Hiện nay, di sản thừa kế được để lại cho người thừa kế theo hai phương thức: Theo di chúc và theo pháp luật. Trong đó, quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 626 Bộ luật Dân sự bao gồm:

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Đặc biệt, Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 khẳng định, nếu người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế.

Như vậy, theo phân tích ở trên, di sản dùng cho việc thờ cúng chỉ xảy ra trong trường hợp người để lại di chúc có phân định một phần di sản của mình làm di sản thờ cúng.

Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”

Như vậy, mặc dù di sản nếu được chia theo di chúc thì chỉ trong trường hợp di sản của người chết đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà người này để lại thì có thể để một phần di sản vào việc thờ cúng.

Vậy câu hỏi đặt ra là “di sản dùng cho việc thờ cúng có được đem bán hay không?”.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di sản dùng cho việc thờ cúng như sau:

Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng;

Theo đó, di sản này chỉ được sử dụng cho việc thờ cúng mà không được chia thừa kế. Đồng thời, phần di sản này được giao cho người được chỉ định trong di chúc để quản lý và thực hiện việc thờ cúng.

Như vậy, phần di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ được dùng cho việc thờ cúng mà không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế hoặc người nào khác. Việc để lại di sản thừa kế dùng cho việc thờ cúng được thực hiện theo ý chí của người lập di chúc. Phần di sản này không được chia thừa kế nên không được phép bán phần di sản này trừ trường hợp để thanh toán nghĩa vụ do người chết để lại mà toàn bộ di sản không đủ để thực hiện.

👉Khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 quy định trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động...
07/01/2022

👉Khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 quy định trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước như sau:
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
👉Như vậy, trường hợp bạn làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn (2 năm) sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên.

Tại Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng...
06/01/2022

Tại Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung... Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.

Theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng, đồng thời ghi rõ các nội dung sau: Lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bất động sản, động sản, các quyền tài sản, trong đó cần mô tả những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia, nếu có); thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; các nội dung khác, nếu có.

Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng có thể có người làm chứng hoặc được công chứng.

Như vậy, theo quy định nêu trên thì vợ chồng không phải tiến hành thủ tục ly hôn mà vẫn chia được tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Để tiến hành thủ tục thì cần liên hệ trực tiếp đến Phòng công chứng trên địa bàn sinh sống để tiến hành thủ tục công chứng biên bản thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Khi tới phòng công chứng, cần mang theo những tài liệu sau: Chứng minh nhân dân (Căn cước công dân); hộ khẩu của vợ chồng; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; 02 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất.

Tại Việt Nam, việc kinh doanh, buôn bán hàng hóa nhập lậu là hành vi bị cấm. Trong đó, căn cứ theo quy định tại Điều 188...
05/01/2022

Tại Việt Nam, việc kinh doanh, buôn bán hàng hóa nhập lậu là hành vi bị cấm. Trong đó, căn cứ theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí, đá quý...
Bên cạnh đó, khoản 6 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định hàng hóa nhập lậu bao gồm:

a) Hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu hoặc tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép nhập khẩu;

b) Hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép mà không có giấy phép nhập khẩu hoặc hàng hóa nhập khẩu theo điều kiện mà không đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật;

c) Hàng hóa nhập khẩu không đi qua cửa khẩu quy định, không làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật hoặc gian lận số lượng, chủng loại hàng hóa khi làm thủ tục hải quan;

d) Hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường không có hóa đơn, chứng từ kèm theo theo quy định của pháp luật hoặc có hóa đơn, chứng từ nhưng hóa đơn, chứng từ là không hợp pháp theo quy định của pháp luật về quản lý hóa đơn;

đ) Hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật phải dán tem nhập khẩu nhưng không có tem dán vào hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc có tem dán nhưng là tem giả, tem đã qua sử dụng.

Căn cứ quy định trên, việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ là hành vi trái pháp luật và sẽ bị xử lý tùy theo mức độ vi phạm.

Lái xe chở hàng thuê có trách nhiệm tìm hiểu hàng hóa mà họ vận chuyển có hóa đơn, chứng từ hay không, có thuộc diện hàng cấm hay không.

Trường hợp cơ quan chức năng có lý do, chứng cứ chứng chứng minh việc lái lái xe biết hoặc buộc phải biết hàng hóa đó không có hóa đơn, chứng từ nhưng vẫn cố tình vận chuyển thì người lái xe sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm của mình.

Về mức phạt hành chính, theo Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, tùy mức độ vi phạm mà người kinh doanh hàng hóa nhập lậu có thể bị phạt tiền từ 500.000 - 100 triệu đồng.

Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vận tải vi phạm; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Trường hợp xử lý hình sự

Mức phạt của Tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự là phạt tiền từ 50 triệu - 05 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng - 20 năm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 - 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Lái xe cần làm gì để không bị phạt vì chở hàng lậu, hàng cấm?

- Đối với lái xe của tổ chức, doanh nghiệp, cần có Hợp đồng lao động quy định rõ ràng trách nhiệm của doanh nghiệp, lái xe đối với hàng hóa vận chuyển. Người lái có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu số lượng, chủng loại trên thực tế với chứng từ, hóa đơn vận chuyển của mỗi chuyến hàng.

- Đối với lái xe tự do, cần kiểm tra đầy đủ, rõ ràng thông tin người gửi, người nhận. Nếu thông tin về tên, địa chỉ, số điện thoại của người gửi hoặc người nhận không rõ ràng hoặc có một số dấu hiệu nghi ngờ thì có thể từ chối vận chuyển.

- Trước khi nhận vận chuyển hàng hóa, nên xem xét có hóa đơn, chứng từ hay không, có phù hợp với số lượng thực tế hay không. Việc vận chuyển nên có hợp đồng để ràng buộc trách nhiệm của chủ hàng và bên vận chuyển. Đây cũng là căn cứ để cơ quan pháp luật giải quyết khi có hành vi vi phạm.

Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nếu cha, mẹ có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét quyết định vi...
04/01/2022

Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nếu cha, mẹ có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Trong đó, các căn cứ để Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con được quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình gồm:
- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người nuôi con.
- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
Như vậy, khi mẹ đã được Tòa án quyết định giao nuôi con thì cơ hội để người cha có thể giành được quyền nuôi con sau khi ly hôn chỉ xảy ra trong hai trường hợp sau đây:
- Thỏa thuận được với vợ cũ để người cha được nuôi con. Tuy nhiên, trên thực tế, đây là trường hợp rất khó xảy ra. Bởi khi con dưới 36 tháng tuổi, người vợ đã đủ điều kiện để nuôi dưỡng thì khi con đã trên 36 tháng, người vợ có nhiều khả năng vẫn có đủ khả năng nuôi con.
- Người vợ không còn khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con: Không còn đủ kinh tế, tài chính để nuôi dưỡng con; người vợ lấy chồng mới và người chồng mới không đồng ý cho người vợ nuôi dưỡng con hoặc người chồng mới vũ phu, bài bạc, đánh đập con riêng của vợ…
Trong trường hợp này, nếu người cha có đủ bằng chứng thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
👉Lưu ý: Hai trường hợp này không chỉ được sử dụng khi con đã đủ 36 tháng mà khi con chưa đủ 36 tháng, nếu thuộc hai trường hợp này, người cha cũng sẽ có “cơ hội” giành lại được quyền nuôi con. Và nếu con đủ 07 tuổi trở lên thì bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của người con.

Có được thay đổi mức cấp dưỡng cho con sau ly hôn không?----------------------------------------Sau khi ly hôn, cha mẹ v...
03/01/2022

Có được thay đổi mức cấp dưỡng cho con sau ly hôn không?
----------------------------------------
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ với con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình. Đặc biệt, khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình khẳng định:

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Trong đó, mức cấp dưỡng sẽ do hai bên thỏa thuận dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng cũng như nhu cầu thiết yếu của người con. Chỉ khi không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án và Tòa án sẽ ấn định mức cấp dưỡng cụ thể.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng nêu rõ:

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Như vậy, sau khi ly hôn, nếu không đồng ý với mức cấp dưỡng ban đầu thì vợ chồng có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thủ tục thay đổi mức cấp dưỡng cho con thế nào?

Để thay đổi được mức cấp dưỡng, vợ, chồng có thể thực hiện như sau:

Hai bên thỏa thuận

Vẫn theo khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình nêu trên, Tòa án tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong việc quyết định mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn. Tùy vào điều kiện của bên cấp dưỡng cũng như nhu cầu thiết yếu của người con được cấp dưỡng, hai bên tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng phù hợp.

Yêu cầu Tòa án giải quyết

Nếu hai bên không thỏa thuận được thì người có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự dưới đây:

Hồ sơ cần chuẩn bị gồm những gì?

Đơn yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng. Trong đó, phải thể hiện được các nội dung gồm: Ngày, tháng năm, tên Tòa án giải quyết, nội dung cụ thể về yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng…

- Quyết định hoặc bản án ly hôn.

- Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/hộ chiếu còn hạn sử dụng.

- Chứng cứ chứng minh yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng: Kèm theo các lý do để yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng là giấy tờ, tài liệu chứng minh như giấy vay nợ, hồ sơ khám bệnh, hóa đơn…

+ Tăng mức cấp dưỡng: Nhu cầu thiết yếu của con ngày càng cao, giá cả sinh hoạt cũng tăng nhanh… khiến mức cấp dưỡng trước đó không còn phù hợp nữa.

+ Giảm mức cấp dưỡng: Tình hình kinh tế, thu nhập… của người có nghĩa vụ cấp dưỡng giảm sút hoặc gặp khó khăn do dịch bệnh, do sức khỏe yếu, bệnh tật… nên không còn đủ điều kiện để cấp dưỡng theo mức đã thỏa thuận như trước nữa.

Tòa án nào sẽ giải quyết yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con?

Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người có trách nhiệm cấp dưỡng cư trú, làm việc.

Thời gian giải quyết có lâu không?

Thời gian giải quyết yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cũng như các vụ việc dân sự khác là khoảng từ 02 - 04 tháng.

Yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng mất bao nhiêu tiền?

Lệ phí yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng là 300.000 đồng theo quy định tại danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Ai phải nộp tạm ứng án phí, lệ phí ly hôn?Khoản 2 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nêu rõ, quyền và nghĩa vụ của ...
31/12/2021

Ai phải nộp tạm ứng án phí, lệ phí ly hôn?
Khoản 2 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nêu rõ, quyền và nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng gồm:

Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật;

Trong đó, tiền tạm ứng án phí, lệ phí gồm tạm ứng án phí, lệ phí sơ thẩm và phúc thẩm. Về nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, ngoài người được miễn hoặc không phải nộp thì Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định gồm các đối tượng sau:

- Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự.

- Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm thì nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.

- Người nộp yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Tiền tạm ứng án phí ly hôn là bao nhiêu?
Mức tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí được quy định cụ thể tại Điều 7 Nghị quyết 36/2016/UBTVQH. Cụ thể như sau:

- Mức tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án dân sự không có giá ngạch: Bằng mức án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

- Mức tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án dân sự có giá ngạch bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch được tính theo giá trị tài sản có tranh chấp (mức giá dự tính của Tòa án) nhưng tối thiểu không thấp hơn mức án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án dân sự không có giá ngạch.

- Mức tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm: Bằng mức án phí dân sự phúc thẩm.

Theo đó, trong việc ly hôn, mức án phí, lệ phí ly hôn sẽ bao gồm:

- Nếu ly hôn không có giá ngạch tức là ly hôn mà hai vợ, chồng đã thỏa thuận được về việc phân chia tài sản và không yêu cầu Tòa án phân chia hoặc yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc khi hai vợ, chồng không có tài sản chung để phân chia (không có giá ngạch): 300.000 đồng.

Theo điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện kết hôn là không thuộc một trong các trường hợp bị cấm n...
30/12/2021

Theo điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện kết hôn là không thuộc một trong các trường hợp bị cấm như đang có vợ, đang có chồng mà kết hôn với người khác, kết hôn giả tạo…

Do đó, chỉ khi đang không có vợ, đang không có chồng và đáp ứng các điều kiện đăng ký kết hôn khác như nam đủ 20 tuổi, nữ đủ 18 tuổi, hai bên hoàn toàn tự nguyện, đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền… thì việc kết hôn mới có giá trị pháp lý.

Ngoài ra, theo phân tích ở mục 1 nêu trên, ly thân chỉ là tình trạng vợ, chồng không muốn sống chung với nhau nữa, muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng nhưng chưa thực hiện thủ tục ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền và chưa nhận được bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Đồng nghĩa, ly thân không làm nam, nữ trở về tình trạng độc thân được. Do đó, không thể kết hôn người mới nếu vẫn còn đang ly thân.
-------------
Cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý, xin liên hệ:
Văn phòng luật sư Minh Hà
Số 110 Trần Phú, Phan Rang.

Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn gồm:- Vợ, chồng (ly hôn đơn phương)...
29/12/2021

Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn gồm:

- Vợ, chồng (ly hôn đơn phương) hoặc cả hai người (ly hôn thuận tình).

- Cha, mẹ, người thân thích khác: Một bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác, không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình và là nạn nhân bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, ảnh hưởng sức khỏe, tính mạng, tinh thần một cách nghiêm trọng.

Theo quy định này, cha, mẹ có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thay cho con nếu đáp ứng điều kiện nêu trên. Trong đó, bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Address

G4/Lê Quý Đôn
Phan Rang

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 11:00

Telephone

+84919062150

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Minh Hà posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư Minh Hà:

Share