03/04/2024
Thế nào là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Để tìm hiểu khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước tiên cần phải làm rõ khái niệm tội phạm. Bộ luật hình sự hiện hành định nghĩa về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.
Như vậy, một hành vi được xem là tội phạm khi thỏa mãn các yếu tố sau: “Hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, người thực hiện hành vi phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi phải là người có lỗi, xâm phạm đến quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật hình sự bảo vệ”.
Đến thời điểm hiện tại trong những quy định của Bộ luật hình sự củng như các văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước vẫn chưa có khái niệm cụ thể về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng ta chỉ có thể tìm hiểu các khái niệm này trong một số tài liệu khoa học pháp lý. Do nằm trong nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu nên trước hết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn các đặc điểm chung của nhóm tội xâm phạm sở hữu như sau: “ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. Ngoài những đặc điểm chung nêu trên vì là một tội phạm độc lập nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn có một số đặc điểm riêng để phân biệt với các tội khác trong Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Từ đó có thể hiểu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối, có thể bằng lời nói hay hành động sai sự thật nhằm mục đích khiến người có tài sản hoặc người trông giữ tài sản tin là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội.
Qua những phân tích, viện dẫn nêu trên người viết định nghĩa khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm nằm trong nhóm tội xâm phạm sỡ hữu được quy định trong Bộ luật hình sự, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối, lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm do người có năng lực pháp luật hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân”.
Để được hiểu rõ thêm về vấn đề này và những vấn đề khác liên quan về pháp luật, bạn hãy liên lạc với Luật sư qua số điện thoại: 0903584823 hoặc tới trực tiếp tại Văn phòng Luật sư Lục Thị Thụy tại 747/2 Lê Hồng Phong, Phước Long, Nha Trang, Khánh Hòa.