19/02/2026
[BẢN ÁN] Cho vay tiền qua chuyển khoản nhưng không ghi nội dung chuyển tiền và không có hợp đồng cho vay mượn tiền.
❗ Nguyên đơn khởi kiện đòi tiền vay, bên Bị đơn cho rằng không vay tiền mà là góp vốn đầu tư.
✅Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên Nguyên đơn thắng kiện với nhận định có việc hàng tháng Bị đơn thanh toán tiền lãi cho Nguyên đơn với lãi suất 0,8%/tháng nên xác định đây là quan hệ cho vay tiền và buộc bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn số tiền gốc và lãi là: 3.220.000.000 đồng.
--------------------------------------------
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:..
[3] Xét kháng cáo của bà D, nhận thấy:
[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của bà Phương A:
- Về số tiền cho vay:
Tại phiếu “Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ/có” đối với khách hàng Nguyễn Ngọc Phương A được in ngày 26/6/2023 bởi Ngân hàng TMCP K thể hiện ngày 29/7/2021 bà Phương A chuyển khoản cho bà D số tiền 2.000.000.000 đồng; tại phiếu “Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ/có” đối với khách hàng Trần Thị Lệ D được in ngày 04/4/2024 bởi Ngân hàng TMCP K thể hiện ngày 29/7/2021 bà D có nhận từ bà Phương A 2.000.000.000 đồng. Như vậy, có cơ sở để xác định bà D có nhận của bà Phương A 2.000.000.000 đồng vào ngày 29/7/2021. Bà Phương A xác định đây là tiền bà cho bà D vay, bà D không thừa nhận nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh đây không phải là nợ vay.
Bà Phương A khai lãi suất hai bên thỏa thuận là 0,8%/tháng, từ tháng 01/2022 hai bên thỏa thuận mỗi tháng bà D trả tiền gốc 100.000.000 đồng cộng với tiền lãi 0,8%/tháng cho đến khi hết nợ.
Tại “Bảng thống kê giao dịch chuyển khoản” do bà D kê khai ngày 24/4/2024, bà D xác nhận ngày 08/02/2022 bà chuyển khoản cho bà Phương A 123.200.000.000 đồng và cho rằng đây là tiền lợi nhuận đầu tư nhưng bà D không chứng minh được đây là tiền lợi nhuận đầu tư. Theo lời khai của bà Phương A và chứng cứ sao kê của Ngân hàng thì số tiền này là tiền trả gốc và lãi cho tháng 2/2022; số tiền 123.200.000 đồng bao gồm tiền gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi 23.200.000 đồng (tiền lãi của 2.900.000.000 đồng - 100.000.000 đồng x 0,8%/tháng).
Tại phiếu “Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ/có” đối với khách hàng Nguyễn Ngọc Phương A được in ngày 26/6/2023 bởi Ngân hàng TMCP K thể hiện:
Ngày 09/3/2022, bà D chuyển khoản cho bà Phương A số tiền 122.400.000 đồng; số tiền 122.400.000 đồng này bao gồm tiền gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi 22.400.000 đồng (tiền lãi của 2.800.000.000 đồng - 100.000.000 đồng x 0,8%/tháng).
Ngày 09/4/2022, bà D chuyển khoản cho bà Phương A số tiền 101.600.000 đồng. Theo đúng bà D chuyển khoản tiền vốn 100.000.000 đồng và tiền lãi 21.600.000 đồng [(lãi của (2.700.000.000 đồng - 100.000.000 đồng) x 0,8%/tháng)] nhưng bà D giữ lại 20.000.000 đồng để thăm bệnh người anh nên bà D chỉ chuyển cho bà Phương A 101.600.000 đồng.
Ngày 09/5/2022, bà D chuyển khoản cho bà Phương A số tiền 120.800.000 đồng; số tiền 120.800.000 đồng bao gồm tiền vốn 100.000.000 đồng và lãi 20.800.000 đồng [lãi của (2.600.000.000 đồng - 100.000.000 đồng) x 0,8%/tháng)].
Mặc dù bà Phương A không có đủ chứng cứ cho rằng cho bà D vay 3.000.000.000 đồng, tuy nhiên căn cứ theo số tiền lãi hàng tháng mà bà D chuyển khoản trả cho bà Phương A như trên, có đủ căn cứ để xác định được số tiền gốc mà bà D vay của bà Phương A là 3.000.000.000 đồng, lãi suất 0,8%/tháng, từ tháng 01/2022 mỗi tháng bị đơn trả vốn 100.000.000 đồng, tiền lãi theo lãi suất 0,8%/tháng và bà D đã trả đến tháng 5/2022 thì ngưng không trả nữa. Với tiền gốc 3.000.000.000 đồng và lãi suất 0,8%/tháng thì mới tính ra được số tiền mà hàng tháng bà D đã chuyển khoản cho bà Phương A.
Tại các Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 14/11/2024, ngày 06/5/2025 (các bút lục số 288-289, 303-304) thể hiện nguyên đơn có cung cấp Vi bằng số 827/2025/VB-TPLQ8 do Văn phòng T3 lập ngày 28/4/2025 (bút lục số 93-157), chứa đựng các tin nhắn, file ghi âm giữa bà Phương A và bà D, nhưng người đại diện hợp pháp của bà D không phản đối, không yêu cầu giám định. Do đó, Vi bằng số 827/2025/VB
TPLQ8 được xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 8 Điều 94, các khoản 3, 9 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bà D cho rằng bà Phương A không chứng minh được việc bà Phương A cho bà vay tiền và Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành giám định nội dung ghi âm để xác định lời nói của các bên có đúng là các đương sự trong vụ án hay không là không có căn cứ để chấp nhận.
Các tin nhắn có trong Vi bằng do hai bên gửi cho nhau từ tháng 6/2022, các tin nhắn từ trang 13 đến trang 15 thể hiện rất rõ bà Phương A cho bà D vay tiền, bà D không trả đúng như lời hứa nên bà Phương A yêu cầu bà D trả tiền; bà D hứa bán đất để trả nhưng vẫn không thực hiện.
Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy bản án sơ thẩm xác định bà D có vay của bà Phương A 3.000.000.000 đồng, lãi suất 0,8%/tháng, đã trả được 500.000.000 đồng tiền vốn và buộc bà D phải trả cho bà Phương Anh C vốn, lãi 3.220.000.000 đồng là có căn cứ.
[3.2] Về yêu cầu phản tố của bà D:
Bà D xác định giữa bà và bà Phương A cùng góp vốn để hợp tác, đầu tư tiền coin, bất động sản; lợi nhuận hoặc lỗ được chia theo tỷ lệ 50/50; bà đã chuyển vào tài khoản của bà Phương A tổng cộng 12.867.075.493 đồng. Bà yêu cầu bà Phương A phải trả cho bà số tiền hợp tác kinh doanh là 4.970.537.746 đồng. Đây là lời khai của bà D, không được bà Phương A thừa nhận; đồng thời bà D cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh giữa hai bên có hợp đồng hợp tác đầu tư, có việc góp vốn, tỷ lệ vốn góp…Do đó, bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà D là có căn cứ.
[4] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy kháng cáo của bà D là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.