Luật sư Phạm Tuấn Anh

Luật sư Phạm Tuấn Anh B.N.C & Partners - Văn phòng luật sư uy tín, quy tụ các luật sư giỏi ở TPHCM. Bảo vệ tận tâm, hiệu quả.

Luật sư Phạm Tuấn Anh, GĐ Công ty Luật B.N.C trực tiếp tư vấn, tranh tụng theo yêu cầu.

Người dân Việt Nam từ bao đời nay có thói quen là vợ chồng cùng làm di chúc chung để định đoạt, phân chia tài sản cho co...
21/06/2022

Người dân Việt Nam từ bao đời nay có thói quen là vợ chồng cùng làm di chúc chung để định đoạt, phân chia tài sản cho con cháu. Do vậy, từ Thông tư năm 1981 đến Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005), chúng ta luôn có quy định cho loại di chúc này. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự do Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 (sau đây viết tắt là BLDS 2015) đã không giữ lại những quy định về di chúc chung của vợ chồng. Như nhiều tác giả khác, trong bài viết “Di chúc chung vợ chồng, những bất cập trong vấn đề hiệu lực” tôi đã phân tích một số hạn chế của quy định về di chúc chung vợ chồng theo BLDS 2005, nhưng việc Quốc hội không chỉnh lý, hoàn thiện để khắc phục các hạn chế mà lại bỏ luôn quy định về di chúc chung vợ chồng là một điều đáng tiếc. Việc lập di chúc chung vợ chồng diễn ra khá phổ biến trong thực tế nên việc BLDS 2015 chỉ đơn thuần bỏ các quy định về di chúc chung của vợ chồng đã tồn tại trước đó mà không nêu rõ là cấm di chúc chung của vợ chồng và cũng không quy định hướng xử lý đối với di chúc chung vợ chồng sẽ dẫn đến những hệ lụy khó giải quyết.

Trước việc BLDS 2015 không giữ lại quy định về di chúc chung của vợ chồng, câu hỏi đặt ra là phải xử lý như thế nào đối với trường hợp những cặp vợ chồng vẫn muốn duy trì văn hóa lâu đời là lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung? Câu trả lời khá dễ dàng nếu họ lập di chúc chung trước khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực (ngày 1/1/2017). Vấn đề phức tạp hơn khi những người này lập di chúc từ khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật.

• Di chúc chung lập trước khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực (1/1/2017)

Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định “Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự năm 2005”.

Di chúc là một dạng giao dịch dân sự, do đó, các quy định trên được áp dụng cho di chúc, tức di chúc chung được lập trước ngày 1/1/2017 được điều chỉnh bởi các quy định của BLDS 2005. Vì vậy, những cặp vợ chồng lập di chúc chung trước ngày 1/1/2017 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ Luật dân sự 2005 để giải quyết, không gặp phải những phiền toái từ việc BLDS 2015 không có quy định về di chúc chung vợ chồng.

• Từ khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực

Ở Việt Nam, nếu những cặp vợ chồng có tài sản chung muốn lập di chúc chung sau ngày 1/1/2017 thì có được không? Đây là câu hỏi được đặt ra vì trong thực tế đời sống, vợ chồng lập di chúc chung là một văn hóa đã tồn tại từ bao đời nay. Câu trả lời cho câu hỏi này không đơn giản vì BLDS 2015 không có quy định nêu rõ là cấm di chúc chung của vợ chồng và cũng không quy định hướng xử lý đối với di chúc chung vợ chồng;

Trong BLDS 2015 có quy định có thể dẫn đến cách hiểu là vợ chồng không được lập di chúc chung. Đó là Điều 624 với nội dung “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Quy định này có thể dẫn tới cách hiểu là Điều 624 chỉ chấp nhận di chúc của một cá nhân. Tuy nhiên, quy định tại Điều 624 cũng có trong BLDS 2005 (Điều 646 BLDS 2005), việc tồn tại song song quy định này và quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS 2005 cho thấy chúng không mâu thuẫn, loại trừ lẫn nhau. Hơn nữa, nếu phân tích kỹ quy định tại Điều 624 của BLDS 2015 thì việc hiểu theo hướng cấm di chúc chung của vợ chồng không thực sự thuyết phục. Bởi lẽ, điều luật trên chỉ nói di chúc là “ý chí của cá nhân” chứ không phải là “ý chí của một cá nhân”. Trong khi đó vợ, chồng đều là cá nhân nên hoàn toàn có thể hiểu vợ chồng được lập di chúc chung để thể hiện ý chí cá nhân của họ trong cùng một văn bản. Nói cách khác quy định trên chỉ có ý nghĩa và được các nhà làm luật viết ra từ khi xây dựng BLDS 2005 nhằm phân biệt cá nhân với các chủ thể khác (ví dụ, pháp nhân không được lập di chúc) chứ không nói là di chúc chỉ có thể do một cá nhân lập và đây cũng không phải quy định mới bổ sung vào BLDS 2015 để cấm di chúc chung vợ chồng mà nó đã có từ BLDS 2005, khi quy định về di chúc chung vợ chồng cùng tồn tại. Như vậy, không đủ cơ sở để cho rằng đây là quy định cấm di chúc chung của vợ chồng khi họ định đoạt tài sản chung của họ.

Để cho hết lẽ, tôi giả sử có quy định (hay có suy luận) là cấm di chúc chung của vợ chồng trong BLDS 2015 thì quy định đó có giá trị pháp lý không? Có phù hợp với Hiến pháp hiện hành không?

Theo khoản 1 Điều 32 Hiến pháp, “mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”. Vì Điều 32 vừa nêu nằm trong Chương 2 về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nên quyền sở hữu tài sản ở quy định trên được hiểu là một “quyền con người” nên được hưởng cơ chế bảo vệ tương ứng trong đó có cơ chế được nêu tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp với nội dung “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Với quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp, chỉ có Luật (văn bản do Quốc hội ban hành) mới có thể “hạn chế” quyền sở hữu. Tuy nhiên, việc hạn chế này chỉ được chấp nhận “trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Tôi cho rằng việc vợ chồng lập di chúc chung không ảnh hưởng tới “quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” trong quy định vừa nêu. Do đó, quy định trong Bộ luật dân sự hay trong luật khác không thể cấm di chúc chung của vợ chồng. Vì thế, nếu có quy định nào cấm hay được hiểu là cấm di chúc chung của vợ chồng thì quy định đó không phù hợp với Điều 14 Hiến Pháp hiện hành.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định, không tồn tại một quy định có giá trị pháp lý cấm di chúc chung của vợ chồng khi họ định đoạt tài sản chung của họ. Điều đó có nghĩa là di chúc chung của vợ chồng chưa có điều luật cụ thể quy định và chịu sự điều chỉnh của những quy định về hoàn cảnh chưa có điều luật cụ thể.

• Hướng xử lý trường hợp không có điều luật cụ thể

Về hướng xử lý trường hợp chưa có điều luật cụ thể để áp dụng, Khoản 2 Điều 14 BLDS 2015 quy định “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật cụ thể để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng”. Do đó, nếu có tranh chấp về di chúc chung của vợ chồng, Tòa án không được từ chối giải quyết, tức phải giải quyết nội dung tranh chấp. Vấn đề tiếp theo là giải quyết như thế nào?

Khoản 2 Điều 14 BLDS 2015 yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 5 và Điều 6 BLDS 2015. Trong khi đó, Điều 6 BLDS 2015 quy định: “trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”. Theo quy định này, trong trường hợp chưa có quy định ghi nhận một cách rõ ràng di chúc chung của vợ chồng, Tòa án vẫn phải giải quyết dựa trên cơ sở lẽ công bằng, các nguyên tắc cơ bản, trong đó có Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 với nội dung “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện quyền dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.

Với những phân tích trên có thể một lần nữa khẳng định, cho đến nay, dù BLDS 2015 không quy định nhưng việc lập di chúc chung vợ chồng là một quyền dân sự không trái pháp luật và cũng không trái đạo đức xã hội nên vẫn có hiệu lực thực hiện và phải được các chủ thể khác tôn trọng. Dù muốn hay không thì di chúc chung vợ chồng đã, đang và sẽ tiếp tục phát sinh đòi hỏi chúng ta phải có cơ chế giải quyết đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên. Chúng tôi hy vọng rằng Tòa án sẽ kế thừa những ưu điểm về di chúc chung của vợ chồng trong các quy định trước đây để có một hệ thống án lệ đầy đủ, thuyết phục về di chúc chung của vợ chồng, đáp ứng nhu cầu tốt đẹp, chính đáng của người dân.

CON ĐƯỜNG "SẬP BẪY" CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN MỜ ÁM QUA LỜI TƯỜNG TRÌNH CỦA MỘT NẠN NHÂN."Tình cờ lên mạng Tôi thấy thông tin...
24/12/2021

CON ĐƯỜNG "SẬP BẪY" CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN MỜ ÁM QUA LỜI TƯỜNG TRÌNH CỦA MỘT NẠN NHÂN.

"Tình cờ lên mạng Tôi thấy thông tin đăng bán căn nhà rất đẹp, ngang 4,8m, dài 14m đường Dương Bá Trạc, phường 1, Quận 8, 1 trệt, 1 lầu, giá 1 tỷ. Tôi điện thoại hỏi thì được người tên Giang giới thiệu làm bên ngân hàng ACB thanh lý nhà. Bà Giang chụp hình căn nhà gửi qua Zalo, giới thiệu nhà đầy đủ giấy tờ, dặn mang theo 100 triệu có gì thì đặt cọc luôn. Hai bên hẹn 6h30 này 3/12 Giang chở Tôi lên công ty ở Quận 2 để coi giấy tờ rồi dẫn đi xem nhà. Đến nơi Tôi ngồi ở quán café đợi hồi lâu nhưng không thấy ai đem giấy tờ cho coi. Hỏi thì bà Giang gọi điện hỏi "sếp", nói sếp bận, 3 tiếng nữa mới mang giấy tờ cho coi được. Sau đó bà Giang kể giờ phải dẫn người khách tên Hiền đi tham quan dự án ở Đồng Nai, Công ty hỗ trợ di taxi, rủ Tôi đi chơi trong thời gian đợi sếp mang giấy tờ về. Trên taxi có thêm nhân viên tên là Tâm đi chung, có tất cả gồm 4 người đi, Tôi và người “khách” tên Hiền, còn Tâm và Giang là nhân viên.

Trên đường đi Tâm mở dự án cho Tôi và người ‘khách” tên Hiền coi, Tôi nói không quan tâm, chỉ đi chơi trong thời gian đợi coi giấy tờ nhà. Khi xuống đến “dự án” thì Tôi thấy đang bốc thăm trúng thưởng, Tôi bỏ đi chỗ khác vì không quan tâm, nhưng nhân viên Công ty đề nghị ngồi đó dự lễ để không bị sếp la. Lúc này người khách tên Hiền đặt cọc 50 triệu để giữ chỗ lô đất, Tôi không đặt cọc thì nhân viên Công ty nói đặt cọc 50 triệu giữ chỗ giúp nhân viên này, không mua về quận 2 sẽ trả lại tiền. Tôi không đồng ý thì Nhân viên này nói có bao nhiêu đưa bấy nhiêu. Tôi đưa 300 ngàn thì Nhân viên đưa cho Tôi phiếu bốc thăm trúng thưởng sau đó thông báo Tôi trúng 3 chỉ vàng SJC.

Xong lễ, lên taxi về thì có người gọi điện bảo Tâm là Tôi phải đặt cọc 50 triệu mới lấy được 3 chỉ vàng, khi Tôi nói không mua, khỏi lấy vàng thì người nhân viên tên Tâm bảo là “chị đặt cọc 50 triệu đi, em đảm bảo với chị có một người khách ruột mua lại lời 100 triệu”, hứa hẹn người này không mua thì trả lại tiền cho Tôi. Để Tôi tin tưởng, Tâm điện thoại mở loa lớn cho Tôi và người khách tên Hiền nghe; ông khách này nói đang cần mua 2 lô đất nhưng book vé máy bay về không kịp, người khách tên Hiền và Tôi đồng ý mua để sang lại kiếm lời. Ngay lập tức taxi chở Tôi về nhà lấy tiền (50 triệu) rồi lên văn phòng Công ty ở Quận Tân Bình. Vào phòng đợi người khách mà Tâm giới thiệu sẽ nhận sang nhượng lại, đến 1h30 ông khách này đến, nói mua lại cho lời 80 triệu, người “khách” tên Hiền và Tôi đồng ý nhưng cũng lúc này ông khách lại yêu cầu Tôi phải có Hợp hợp đồng với Công ty ông ta mới nhận sang nhượng lại, nếu chỉ đặt cọc 50 triệu thì không đủ giấy tờ sang nhượng, ông ta sẽ không mua.

Ông khách này cầm nguyên bịch tiền vô phòng giao dịch, nói ông ta đem 2 tỷ mấy để sang nhượng lại, giờ làm cách nào ông ta không biết, có đầy đủ giấy tờ hợp lệ ông ta mới chịu sang nhượng lại. Nhân viên tên Tâm liền đề nghị Tôi đóng 40% để có giấy tờ hợp lệ. Ông “khách” cũng hối làm nhanh ông ta chồng tiền để còn đi Bình Dương mua đất tiếp.
Cũng trong lúc này, nhân viên tên Tâm tính chiết khấu đề nghị Tôi lấy thêm tiền, khoảng hơn 700 triệu, sang nhượng lại lời 120 triệu (gồm tiền chênh lệch, phần chiết khấu 4 chỉ vàng và 3 chỉ vàng trúng thưởng). Ngay khi Tôi đồng ý thì nhân viên tên Tâm chở Tôi đi Ngân hàng rút tiền.
Trước khi vào ngân hàng Tôi điện thoại xác nhận lại ông Khách có mua không, ông này tiếp tục cam kết chắc chắn mua. Trong khi làm thủ tục ông ta còn hối làm nhanh, cho thời hạn đến 5h phải xong. Tuy nhiên khi Tôi mang tiền về nộp cho Công ty xong, gọi cho ông này thì ông ta báo đang đi công chứng, về không kịp, hẹn 9h sáng hôm sau; hôm sau lại báo có việc đột xuất phải bay ra Hà Nội gấp, sau đó cắt liên lạc, gọi điện không trả lời…."

Trên đây là lời tường trình của 1 nạn nhân đến văn phòng luật sư nhờ giúp đỡ. Mọi người cần hết sức cảnh giác. Chỉ một chút thiếu tỉnh táo, kết quả là nhà không mua được, bỏ thì bị đe mất hơn 700 triệu đã thanh toán, nộp tiền tiếp thì quá sức và chưa biết có được đất hay mất thêm tiền. Nếu có sang tên được thì “ôm” thửa đất 91m hẻo lánh với giá trên trời 1,9 tỉ đồng, có khi còn mất nhiều hơn.

Nhân vật "sập bẫy" Công ty bất động sản trên đến thời điểm hiện tại đã nhận lại được tiền. Nhìn đôi tay run rẩy đếm tiền, nhìn những giọt nước mắt chảy dài, những lời cám ơn chân thành..., thấy nghề nghiệp ý nghĩa hơn, yêu nghề hơn.

THỦ TỤC KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT Sau khi một người chết, phần tài sản của họ lúc còn sống sẽ trở...
23/11/2021

THỦ TỤC KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Sau khi một người chết, phần tài sản của họ lúc còn sống sẽ trở thành di sản để lại cho những người thừa kế. Những người thuộc diện được hưởng di sản muốn được nhận di sản do người chết để lại thì phải thực hiện thủ tục khai nhận di sản. Bài viết sau đây hướng dẫn thủ tục khai nhận di sản thừa kế chi tiết nhất.
Xem thêm tại:
http://luatsuphamtuananh.com/
https://luatsuphamtuananh.com.vn/di-chuc---thua-ke-932/thu-tuc-khai-nhan-di-san-thua-ke-nhanh-va-chuan-nhat/

CHÀO MỪNG NGÀY TRUYỀN THỐNG LUẬT SƯ VIỆT NAM (10/10/1945 -10/10/2021)Nghề Luật sư luôn đầy rẫy những thử thách và chông ...
10/10/2021

CHÀO MỪNG NGÀY TRUYỀN THỐNG LUẬT SƯ VIỆT NAM
(10/10/1945 -10/10/2021)
Nghề Luật sư luôn đầy rẫy những thử thách và chông g*i. Vì thế mà người Luật sư cũng luôn cần phải có một sự quả cảm gan dạ, nhưng cũng không thể thiếu một trái tim nồng ấm tình người và không kém phần lãng mạn.
Nhân kỷ niệm 76 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945 - 10/10/2021), chúc các Luật sư đồng nghiệp, những người đang hành nghề luật, cùng tập thể Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh những lời chúc tốt đẹp, luôn dồi dào sức khoẻ và vững bước trên con đường mình đã chọn.

THỪA KẾ THEO DI CHÚC - DI CHÚC HỢP PHÁPDi chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình c...
28/09/2021

THỪA KẾ THEO DI CHÚC - DI CHÚC HỢP PHÁP
Di chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Để đánh giá tính hợp pháp của di chúc, cần căn cứ vào thời điểm xác lập di chúc để lựa chọn pháp luật nội dung áp dụng phù hợp. Nguyên tắc chung, một di chúc hợp pháp là di chúc phải đáp ứng được các điều kiện cơ bản về hiệu lực của di chúc như điều kiện về ý chí của người lập di chúc, điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc, điều kiện về nội dung và hình thức của di chúc....
Xem thêm tại:
1. https://luatsuphamtuananh.com/di-chuc---thua-ke/thua-ke-theo-di-chuc/vn
2. https://luatsuphamtuananh.com.vn/di-chuc---thua-ke-932/di-chuc-hop-phap-duoc-quy-dinh-nhu-the-nao-/
Nguồn ảnh: Internet

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, các chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp, có thể chuyển nhượng phần vốn góp thuộc sở hữu...
29/08/2021

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, các chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp, có thể chuyển nhượng phần vốn góp thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, để chuyển nhượng phần vốn góp, mỗi chủ thể phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Những điều kiện này có sự khác nhau giữa các loại hình Công ty. Đối với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, quyền chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty được quy định tại Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020; khi chuyển nhượng phần vốn góp thành viên phải tuân thủ một số điều kiện:
https://luatsuphamtuananh.com/tu-van-phap-luat/chuyen-nhuong-von-gop-trong-cong-ty-tnhh-hai-thanh-vien-tro-len/vn

HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNGCả LTM 2005 và CISG đều cho rằng, vấn đề “giữa các bên có thỏa thuận hay không” cần t...
24/08/2021

HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG
Cả LTM 2005 và CISG đều cho rằng, vấn đề “giữa các bên có thỏa thuận hay không” cần thiết được xem xét đầu tiên khi đánh giá tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng. Trong trường hợp giữa các bên có thỏa thuận thì trước hết, sự phù hợp của hàng hóa sẽ được đánh giá dựa trên thỏa thuận này. Khi đó, mọi đặc tính được ghi nhận trong hợp đồng đều được phân tích và trở thành cơ sở đối chiếu. Phổ biến nhất là các yếu tố số lượng, chất lượng và cách đóng gói, bảo quản hàng hóa.
Xem thêm bài viết tại:
https://luatsuphamtuananh.com/tu-van-soan-thao--ky-ket-hop-dong/hang-hoa-khong-phu-hop-voi-hop-dong-theo-quy-dinh-cua-luat-thuong-mai/vn
Nguồn ảnh: Internet

Chất lượng hàng hóa trong quan hệ mua bán giữa các bên đóng một vai trò quan trọng, cấu thành nên sự phù hợp của hàng hó...
24/08/2021

Chất lượng hàng hóa trong quan hệ mua bán giữa các bên đóng một vai trò quan trọng, cấu thành nên sự phù hợp của hàng hóa trong hợp đồng. Không chỉ là các thông số kỹ thuật và kiểu dáng, các bên trong hợp đồng được khuyến khích đề cập và thỏa thuận tất cả nội dung liên quan đến yếu tố chất lượng, bao gồm cả những khái niệm về chất lượng mang tính cá nhân, chủ quan hay phương pháp xác định chất lượng của hàng hóa...

Luật sư tư vấn soạn thảo, ký kết hợp đồng. Chào mừng đến với luật sư Phạm Tuấn Anh. Nghề luật sư yêu cầu người

KIỆN HẢI QUAN, TẠI SAO KHÔNG?Tâm lý E ngại khởi kiện vụ án hành chính nói chung, kiện Hải quan nói riêng là có thật của ...
19/07/2021

KIỆN HẢI QUAN, TẠI SAO KHÔNG?
Tâm lý E ngại khởi kiện vụ án hành chính nói chung, kiện Hải quan nói riêng là có thật của không ít người dân, doanh nghiệp. Có lẽ chính vì vậy mà trong nhiều trường hợp, Hải quan đã tùy nghi trong việc áp giá, áp thuế....như một nơi bất khả xâm phạm;

Nếu người dân, đặc biệt là giới doanh nghiệp không vượt qua được tâm lý sợ hãi này, chỉ biết ca thán mà không đấu tranh, chung tay xây dựng mội trường kinh doanh lành mạnh thì chính họ sẽ lãnh hậu quả. Mạnh dạn kiện, không chỉ để đấu tranh cho quyền lợi trong một vụ việc cụ thể, mà còn góp phần cải thiện môi trường kinh doanh cho chính mình. Và hoàn toàn có thể thắng kiện.
P.s. Việc áp giá, áp thuế, Doanh nghiệp có thể tham khảo Bản án dưới đây để bảo vệ quyền lợi của minh.

CHỈ CÒN CHƯA ĐẦY 20 NGÀY NỮA LÀ HẾT THỜI HẠN NỘP GIẤY GIA HẠN NỘP THUẾ, TIỀN THUÊ ĐẤT THEO NGHỊ ĐỊNH 52/2021/NĐ-CP.Tình ...
13/07/2021

CHỈ CÒN CHƯA ĐẦY 20 NGÀY NỮA LÀ HẾT THỜI HẠN NỘP GIẤY GIA HẠN NỘP THUẾ, TIỀN THUÊ ĐẤT THEO NGHỊ ĐỊNH 52/2021/NĐ-CP.

Tình hình dịch bệnh Covid đã và đang diễn ra tại nhiều tỉnh thành trên cả nước, Chính Phủ, đã có những chính sách kịp thời để từng bước hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn của đại dịch COVID-19 thông qua việc tiếp tục ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021. Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/04/2021 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Người nộp thuế chỉ cần nộp Giấy gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất một lần duy nhất chậm nhất là ngày 30 tháng 7 năm 2021.
Tính đến ngày 23/6/2021 cơ quan thuế đã tiếp nhận 52.384 giấy đề nghị gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất, trong đó có 47.514 giấy đề nghị gia hạn của doanh nghiệp, tổ chức và 3.547 giấy đề nghị của hộ, cá nhân kinh doanh.
Thời hạn gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất đã gần hết; Người nộp thuế cần khẩn trương gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất bằng phương thức điện tử để được hưởng những chính sách hỗ trợ về thuế trong mùa dịch Covid.
Điều kiện để được gia hạn tiền thuế, tiền thuê đất phải nộp theo Nghị định số 52/2021/NĐ-CP. Theo đó, để được gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất, Doanh nghiệp, tổ chức cần đảm bảo đủ các điều kiện sau:
- Người nộp thuế phải thuộc đối tượng áp dụng gia hạn theo quy định tại Điều 2 Nghị định 52/2021/NĐ-CP.
- Người nộp thuế phải nộp đủ các khoản tiền thuế, tiền thuê đất đã được gia hạn nộp thuế theo quy định tại Nghị định số 41/2020/NĐ-CP và tiền chậm nộp phát sinh tương ứng (nếu có) vào ngân sách nhà nước trước ngày 30/07/2021 . Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt được thực hiện theo quy định tại Điều 57 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Như vậy, người nộp thuế chỉ được xác định là nộp đủ các khoản tiền thuế, tiền thuê đất đã được gia hạn nộp thuế theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP, đủ điều kiện gia hạn theo Nghị định 52/2021/NĐ-CP, nếu đến ngày 30/7/2021, người nộp thuế nộp đủ số tiền theo từng sắc thuế được gia hạn bao gồm cả các khoản nợ phát sinh trước khi được gia hạn và các khoản nợ được gia hạn theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP.
- Người nộp thuế phải gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất lần đầu hoặc thay thế khi phát hiện có sai sót cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất ngày 30/7/2021.
Như vậy, chỉ còn chưa đầy 20 ngày nữa là đến thời hạn (ngày 30/07/2021 ). Do đó, để được hưởng đầy đủ lợi ích, gia hạn tiền thuế, tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định 52/2021/NĐ-CP, người nộp thuế khẩn trương gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất bằng phương thức điện tử đến cơ quan thuế đúng thời hạn nêu trên.
Theo Tổng cục thuế

THỦ TỤC ĐỂ NGƯỜI DÂN Ở TP.HCM NHẬN HỖ TRỢ TIỀN MẶT DO ẢNH HƯỞNG COVID-19Hơn 01 tháng qua, người dân TP. Hồ Chí Minh đã c...
08/07/2021

THỦ TỤC ĐỂ NGƯỜI DÂN Ở TP.HCM NHẬN HỖ TRỢ TIỀN MẶT DO ẢNH HƯỞNG COVID-19

Hơn 01 tháng qua, người dân TP. Hồ Chí Minh đã chống chọi không ngừng nghỉ với sự bùng phát trở lại của đại dịch Covid-19. Dịch bệnh kéo dài làm ảnh hưởng nặng nề đến nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người lao động, nhất là lao động tự do tại thành phố.

Ủy ban nhân dân TPHCM vừa ban hành công văn số 2209/UBND-KT về triển khai chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 09/2021/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố với tổng kinh phí khoảng 886 tỉ đồng từ nguồn ngân sách của thành phố.

Theo đó, người dân khó khăn tại thành phố sẽ được hỗ trợ một khoảng kinh phí bằng tiền mặt để phần nào vượt qua được giai đoạn "chống dịch như chống giặc này".

Đối tượng, điều kiện, thủ tục nhận hỗ trợ đối với người dân gặp khó khăn do Covid-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết 09/2021/NQ-HĐND ngày 25/6/2021, công văn số 2209/UBND-KT triển khai được nêu chi tiết tại bài viết trong đường dẫn dưới đây.

Xem thêm tại:
https://luatsuphamtuananh.com.vn/tin-tuc-phap-luat/thu-tuc-de-nguoi-dan-o-tp-hcm-nhan-ho-tro-tien-mat-do-anh-huong-covid-19/
--------------------------------
BNC & PARTNERS LAW FIRM là tổ chức hành nghề Luật, hoạt động trong lĩnh vực tham gia tố tụng, đại diện tố tụng, tư vấn pháp lý,.... Theo nội dung các chỉ thị của Chính phủ, hoạt động của Luật sư được xếp vào hoạt động thiết yếu phục vụ đời sống ngay cả trong giai đoạn giãn cách.
Do đó, trong trường hợp cấp bách và cần thiết có sự tư vấn và hỗ trợ của Luật sư, đội ngũ Luật sư BNC Law Firm sẵn sàng phục vụ qua các kênh tư vấn.
--------------------------------------------------------------------------
Mọi chi tiết liên lạc qua:
CÔNG TY LUẬT TNHH MTV B.N.C & CỘNG SỰ
Điện thoại/zalo: 0968.745.745
Địa chỉ: Tầng trệt, số 60 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đakao, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Website:
http://bnclawfirm.com.vn/
http://luatsuphamtuananh.com/

Address

60 Nguyễn Đình Chiểu, Phường Đa Kao, Quận 1
Ho Chi Minh City
70000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Phạm Tuấn Anh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư Phạm Tuấn Anh:

Share