Luật Tia Sáng

Luật Tia Sáng CÔNG TY LUẬT TIA SÁNG
🏢 Tầng 2, Tòa nhà Indochina, 04 Nguyễn Đình Chiểu, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh.
📞 0989072079 LS. Lê Thanh Trang
📞 0906219287 LS.

Nguyễn Thị Bích Ngọc
📧 [email protected]

Đ𝐄̂̀ 𝐗𝐔𝐀̂́𝐓 𝐆𝐈𝐀̉𝐌 𝟑𝟎% 𝐓𝐇𝐔𝐄̂́ 𝐂𝐇𝐎 𝐇𝐎̣̂ 𝐊𝐈𝐍𝐇 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇, 𝐂𝐀́ 𝐍𝐇𝐀̂𝐍 𝐊𝐈𝐍𝐇 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇 𝐕𝐀̀ 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇 𝐍𝐆𝐇𝐈𝐄̣̂𝐏 𝐒𝐈𝐄̂𝐔 𝐍𝐇𝐎̉ – 𝐀𝐈 Đ𝐔̛𝐎̛̣𝐂 𝐇𝐔̛𝐎̛̉...
07/08/2026

Đ𝐄̂̀ 𝐗𝐔𝐀̂́𝐓 𝐆𝐈𝐀̉𝐌 𝟑𝟎% 𝐓𝐇𝐔𝐄̂́ 𝐂𝐇𝐎 𝐇𝐎̣̂ 𝐊𝐈𝐍𝐇 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇, 𝐂𝐀́ 𝐍𝐇𝐀̂𝐍 𝐊𝐈𝐍𝐇 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇 𝐕𝐀̀ 𝐃𝐎𝐀𝐍𝐇 𝐍𝐆𝐇𝐈𝐄̣̂𝐏 𝐒𝐈𝐄̂𝐔 𝐍𝐇𝐎̉ – 𝐀𝐈 Đ𝐔̛𝐎̛̣𝐂 𝐇𝐔̛𝐎̛̉𝐍𝐆?

Bộ Tài chính vừa trình 𝐃𝐮̛̣ 𝐭𝐡𝐚̉𝐨 𝐍𝐠𝐡𝐢̣ 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 𝐐𝐮𝐨̂́𝐜 𝐡𝐨̣̂𝐢 về việc giảm 30% 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́ 𝒕𝒉𝒖 𝒏𝒉𝒂̣̂𝒑 𝒄𝒂́ 𝒏𝒉𝒂̂𝒏 (𝑻𝑵𝑪𝑵) và 30% 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́ 𝒕𝒉𝒖 𝒏𝒉𝒂̣̂𝒑 𝒅𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒈𝒉𝒊𝒆̣̂𝒑 (𝑻𝑵𝑫𝑵) nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn.

Nếu Dự thảo được Quốc hội thông qua, các đối tượng sau sẽ được hưởng chính sách:

✅ Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh:

- Có tổng doanh thu năm từ 10 tỷ đồng trở xuống;

- Được giảm 30% số thuế TNCN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.

✅ Doanh nghiệp siêu nhỏ:

- Có tổng doanh thu năm từ 10 tỷ đồng trở xuống;

- Được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.

𝑴𝒖̣𝒄 𝒕𝒊𝒆̂𝒖 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉 𝒔𝒂́𝒄𝒉:

Theo Tờ trình của Bộ Tài chính, việc giảm thuế nhằm:

- Hỗ trợ hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vượt qua khó khăn;

- Tạo thêm nguồn lực để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh;

- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và khuyến khích chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp.

𝑳𝒖̛𝒖 𝒚́:

Đây mới là Dự thảo Nghị quyết do Bộ Tài chính trình Chính phủ và chưa có hiệu lực thi hành. Nội dung cuối cùng còn phụ thuộc vào quá trình thẩm định, xem xét và thông qua của Quốc hội.

📌 Nếu chính sách được ban hành theo đúng dự thảo, đây sẽ là một trong những chính sách hỗ trợ đáng chú ý dành cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ trong giai đoạn 2026–2027.

𝐓𝐇𝐀̆́𝐍𝐆 𝐊𝐈𝐄̣̂𝐍 𝐂𝐎́ 𝐍𝐆𝐇𝐈̃𝐀 𝐋𝐀̀ 𝐂𝐇𝐀̆́𝐂 𝐂𝐇𝐀̆́𝐍 𝐓𝐇𝐔 𝐇𝐎̂̀𝐈 Đ𝐔̛𝐎̛̣𝐂 𝐓𝐈𝐄̂̀𝐍, 𝐓𝐀̀𝐈 𝐒𝐀̉𝐍?Nhiều người cho rằng sau khi Tòa án tuyê...
28/07/2026

𝐓𝐇𝐀̆́𝐍𝐆 𝐊𝐈𝐄̣̂𝐍 𝐂𝐎́ 𝐍𝐆𝐇𝐈̃𝐀 𝐋𝐀̀ 𝐂𝐇𝐀̆́𝐂 𝐂𝐇𝐀̆́𝐍 𝐓𝐇𝐔 𝐇𝐎̂̀𝐈 Đ𝐔̛𝐎̛̣𝐂 𝐓𝐈𝐄̂̀𝐍, 𝐓𝐀̀𝐈 𝐒𝐀̉𝐍?

Nhiều người cho rằng sau khi Tòa án tuyên thắng kiện thì việc nhận lại tiền hoặc tài sản chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên, trên thực tế, việc Tòa án tuyên chấp nhận yêu cầu của một bên hoặc ban hành Bản án, Quyết định có lợi cho một bên không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ của bên phải thi hành án sẽ được thực hiện ngay trên thực tế.

Việc nhận được tiền hoặc tài sản còn phụ thuộc vào quá trình thi hành án và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án theo quy định pháp luật.

𝟏. 𝐓𝐡𝐚̆́𝐧𝐠 𝐤𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐜𝐨́ đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐯𝐢𝐞̣̂𝐜 đ𝐚̃ 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐢𝐞̂̀𝐧?

Theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2025, các Bản án, Quyết định của Tòa án về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình... có hiệu lực pháp luật hoặc thuộc trường hợp được thi hành theo quy định của pháp luật là những Bản án, Quyết định thuộc diện được thi hành án theo quy định của pháp luật

Như vậy, Bản án, Quyết định của Tòa án là căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, để quyền lợi được thực hiện trên thực tế, người được thi hành án cần thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật.

𝟐. 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐭𝐡𝐚̆́𝐧𝐠 𝐤𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐜𝐨́ 𝐪𝐮𝐲𝐞̂̀𝐧 𝐲𝐞̂𝐮 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐭𝐡𝐢 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐚́𝐧 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠?

Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2025, người được thi hành án có các quyền sau đây:

- Lựa chọn cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự để yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;

- Xác minh và cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

- Được thông báo về thi hành án;

- Yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, sau khi có Bản án, Quyết định được thi hành, người được thi hành án có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

𝟑. 𝐕𝐢̀ 𝐬𝐚𝐨 𝐜𝐨́ 𝐁𝐚̉𝐧 𝐚́𝐧 𝐧𝐡𝐮̛𝐧𝐠 𝐯𝐚̂̃𝐧 𝐜𝐡𝐮̛𝐚 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐢𝐞̂̀𝐧?

Theo khoản 6 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự 2025, người phải thi hành án được xem là có điều kiện thi hành án khi có tài sản, thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc có khả năng tự mình, thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo Bản án, Quyết định thì Cơ quan Thi hành án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

Như vậy, khả năng nhận được tiền hoặc tài sản trên thực tế phụ thuộc vào việc người phải thi hành án có tài sản, thu nhập hoặc các điều kiện khác để thực hiện nghĩa vụ thi hành án, cũng như khả năng xác minh và xử lý các tài sản đó theo quy định của pháp luật.

𝟒. 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐡𝐢 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐚́𝐧 𝐜𝐚̂̀𝐧 𝐥𝐚̀𝐦 𝐠𝐢̀ 𝐬𝐚𝐮 𝐤𝐡𝐢 𝐭𝐡𝐚̆́𝐧𝐠 𝐤𝐢𝐞̣̂𝐧?

Sau khi Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc thuộc trường hợp được thi hành theo quy định của pháp luật, người được thi hành án cần:

- Gửi đơn yêu cầu thi hành án đến Cơ quan Thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thi hành án dân sự có thẩm quyền;

- Cung cấp thông tin, tài liệu về tài sản, thu nhập hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (nếu có);

- Theo dõi quá trình tổ chức thi hành án và thực hiện các quyền của người được thi hành án theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, việc thắng kiện chỉ là bước đầu trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Việc thực tế có thu hồi được tiền hoặc tài sản còn phụ thuộc vào quá trình tổ chức thi hành án, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và việc áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

‼ 𝐓𝐢𝐧 𝐯𝐮𝐢: 𝐊𝐞̂̉ 𝐭𝐮̛̀ 𝐧𝐠𝐚̀𝐲 𝟏𝟎/𝟕: 𝟏𝟐𝟗 𝐩𝐡𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠, 𝐱𝐚̃ 𝐜𝐮̉𝐚 𝐓𝐏𝐇𝐂𝐌 𝐬𝐞̃ 𝐥𝐚̀𝐦 𝐯𝐢𝐞̣̂𝐜 𝐥𝐮𝐨̂𝐧 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮̛́ 𝟕 𝐡𝐚̀𝐧𝐠 𝐭𝐮𝐚̂̀𝐧 đ𝐞̂̉ 𝐡𝐨̂...
13/07/2026

‼ 𝐓𝐢𝐧 𝐯𝐮𝐢: 𝐊𝐞̂̉ 𝐭𝐮̛̀ 𝐧𝐠𝐚̀𝐲 𝟏𝟎/𝟕: 𝟏𝟐𝟗 𝐩𝐡𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠, 𝐱𝐚̃ 𝐜𝐮̉𝐚 𝐓𝐏𝐇𝐂𝐌 𝐬𝐞̃ 𝐥𝐚̀𝐦 𝐯𝐢𝐞̣̂𝐜 𝐥𝐮𝐨̂𝐧 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮̛́ 𝟕 𝐡𝐚̀𝐧𝐠 𝐭𝐮𝐚̂̀𝐧 đ𝐞̂̉ 𝐡𝐨̂̃ 𝐭𝐫𝐨̛̣ 𝐠𝐢𝐚̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐧𝐨̂́𝐭 𝐭𝐡𝐮̉ 𝐭𝐮̣𝐜 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐢́𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐨 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐝𝐚̂𝐧

Từ ngày 10/7, Hệ thống Văn phòng Đăng ký đất đai, Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.HCM cùng 129 phường, xã trên địa bàn đã chính thức làm việc vào sáng thứ Bảy để tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính.

Ngay trong ngày đầu triển khai, nhiều người dân đã tranh thủ đến làm các thủ tục như chứng thực giấy tờ, hồ sơ đất đai và nhiều thủ tục hành chính khác. Dù lượng người đến khá đông, việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ vẫn diễn ra nhanh chóng.

Nhiều người dân cho biết việc mở cửa vào sáng thứ Bảy giúp họ thuận tiện hơn rất nhiều vì không còn phải xin nghỉ làm trong tuần để đi giải quyết giấy tờ. Đây được xem là điểm thay đổi nhận được nhiều sự đồng tình.

Đại diện Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Bình Tiên cho biết việc tổ chức làm việc sáng thứ Bảy được thực hiện theo Quyết định 42 của UBND TP.HCM, nhằm tạo điều kiện cho người dân có thêm thời gian giải quyết các thủ tục ngoài giờ hành chính.

Để đảm bảo hoạt động hiệu quả, các đơn vị sẽ bố trí cán bộ làm việc theo hình thức luân phiên, vừa đáp ứng nhu cầu của người dân, vừa không ảnh hưởng đến chế độ làm việc của công chức.

Theo Quyết định 42 ban hành ngày 29/6, việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thủ tục hành chính vào sáng thứ bảy sẽ được duy trì hằng tuần, trừ các ngày lễ, Tết và ngày nghỉ theo quy định.

𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̆𝐧 𝐡𝐮̛𝐨̛́𝐧𝐠 𝐝𝐚̂̃𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̣̂𝐩 𝐯𝐮̣ 𝐯𝐞̂̀ đ𝐚̣̆𝐭 𝐜𝐨̣𝐜 𝐮̉𝐲 𝐪𝐮𝐲𝐞̂̀𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐭𝐡𝐮𝐞̂ 𝐭𝐚̀𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 đ𝐚𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 (𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̆𝐧 𝟒𝟗𝟎...
08/07/2026

𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̆𝐧 𝐡𝐮̛𝐨̛́𝐧𝐠 𝐝𝐚̂̃𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̣̂𝐩 𝐯𝐮̣ 𝐯𝐞̂̀ đ𝐚̣̆𝐭 𝐜𝐨̣𝐜 𝐮̉𝐲 𝐪𝐮𝐲𝐞̂̀𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐭𝐡𝐮𝐞̂ 𝐭𝐚̀𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 đ𝐚𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 (𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̆𝐧 𝟒𝟗𝟎𝟖/𝐁𝐓𝐏-𝐁𝐓𝐓𝐏)

Theo đó, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau (tóm tắt):

1. 𝑽𝒆̂̀ đ𝒂̣̆𝒕 𝒄𝒐̣𝒄, 𝒖̉𝒚 𝒒𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 đ𝒐̂́𝒊 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒕𝒂̀𝒊 𝒔𝒂̉𝒏 đ𝒂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒂̂́𝒑

- Đặt cọc không đồng nghĩa với việc chuyển nhượng tài sản nên không bắt buộc phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp (Ngân hàng) khi lập Hợp đồng đặt cọc

- Tuy nhiên, nếu Hợp đồng đặt cọc nhằm bảo đảm việc bán/ chuyển nhượng tài sản đang thế chấp mà không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, thì có thể không phù hợp với quy định của BLDS 2015.

- Giao dịch đặt cọc vẫn có thể được xác lập nếu:
+ Bên nhận thế chấp đồng ý; hoặc
+ Các bên thỏa thuận chỉ thực hiện việc mua bán sau khi đã tất toán khoản vay và chấm dứt thế chấp.

- BLDS 2015 không cấm ủy quyền đối với tài sản đang thế chấp. Việc công chứng Hợp đồng ủy quyền sẽ do Công chứng viên xem xét theo quy định của pháp luật và từng trường hợp cụ thể.

2. 𝑽𝒆̂̀ 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒉𝒖𝒆̂ 𝒕𝒂̀𝒊 𝒔𝒂̉𝒏 đ𝒂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒄𝒉𝒂̂́𝒑

- Chủ sở hữu được quyền cho thuê tài sản đang thế chấp mà không cần sự đồng ý của Bên nhận thế chấp, nhưng phải:
+ Thông báo cho Bên thuê biết tài sản đang được thế chấp; và
+ Thông báo cho Bên nhận thế chấp biết.

- Nếu Hợp đồng thế chấp quy định phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng mới được cho thuê, chuyển nhượng hoặc thực hiện giao dịch khác, thì hiệu lực của điều khoản này sẽ được xem xét theo quy định về Hợp đồng theo mẫu và Nguyên tắc giải thích Hợp đồng trong BLDS 2015.

- Trường hợp có tranh chấp về việc điều khoản đó có làm hạn chế quyền hợp pháp của Bên thế chấp hay không thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định.

📢 𝐍𝐆𝐇𝐈̣ Đ𝐈̣𝐍𝐇 𝟐𝟓𝟑/𝟐𝟎𝟐𝟔/𝐍Đ-𝐂𝐏 𝐇𝐔̛𝐎̛́𝐍𝐆 𝐃𝐀̂̃𝐍 𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 𝐓𝐇𝐔𝐄̂́ 𝐓𝐇𝐔 𝐍𝐇𝐀̣̂𝐏 𝐂𝐀́ 𝐍𝐇𝐀̂𝐍Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành 𝐍𝐠𝐡𝐢̣ đ...
06/07/2026

📢 𝐍𝐆𝐇𝐈̣ Đ𝐈̣𝐍𝐇 𝟐𝟓𝟑/𝟐𝟎𝟐𝟔/𝐍Đ-𝐂𝐏 𝐇𝐔̛𝐎̛́𝐍𝐆 𝐃𝐀̂̃𝐍 𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 𝐓𝐇𝐔𝐄̂́ 𝐓𝐇𝐔 𝐍𝐇𝐀̣̂𝐏 𝐂𝐀́ 𝐍𝐇𝐀̂𝐍

Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành 𝐍𝐠𝐡𝐢̣ đ𝐢̣𝐧𝐡 𝟐𝟓𝟑/𝟐𝟎𝟐𝟔/𝐍Đ-𝐂𝐏, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân.

𝑴𝒐̣̂𝒕 𝒔𝒐̂́ 𝒏𝒐̣̂𝒊 𝒅𝒖𝒏𝒈 𝒏𝒐̂̉𝒊 𝒃𝒂̣̂𝒕 𝒈𝒐̂̀𝒎:

✅ 𝑸𝒖𝒚 đ𝒊̣𝒏𝒉 𝒓𝒐̃ 𝒄𝒂́𝒄 𝒍𝒐𝒂̣𝒊 𝒕𝒉𝒖 𝒏𝒉𝒂̣̂𝒑 𝒄𝒉𝒊̣𝒖 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́, 𝒃𝒂𝒐 𝒈𝒐̂̀𝒎:
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công;
- Hoạt động kinh doanh (kể cả thương mại điện tử, nền tảng số);
- Chuyển nhượng vốn, bất động sản;
- Đầu tư vốn, trúng thưởng, bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế, quà tặng và các khoản thu nhập khác.

✅ 𝑩𝒐̂̉ 𝒔𝒖𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒖̛𝒐̛́𝒏𝒈 𝒅𝒂̂̃𝒏 𝒄𝒖̣ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒄𝒂́𝒄 𝒌𝒉𝒐𝒂̉𝒏 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒎𝒊𝒆̂̃𝒏 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́ 𝑻𝑵𝑪𝑵, 𝒏𝒉𝒖̛:
- Chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất (đủ điều kiện);
- Kiều hối;
- Học bổng;
- Tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm (phần được trả cao hơn theo quy định);
- Lương hưu;
- Một số khoản bồi thường, viện trợ, từ thiện, hỗ trợ người lao động và nhiều khoản thu nhập đặc thù khác.

✅ 𝑳𝒂̀𝒎 𝒓𝒐̃ 𝒕𝒊𝒆̂𝒖 𝒄𝒉𝒊́ 𝒙𝒂́𝒄 đ𝒊̣𝒏𝒉 𝒄𝒂́ 𝒏𝒉𝒂̂𝒏 𝒄𝒖̛ 𝒕𝒓𝒖́ 𝒗𝒂̀ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒄𝒖̛ 𝒕𝒓𝒖́, 𝒍𝒂̀ 𝒄𝒂̆𝒏 𝒄𝒖̛́ 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒕𝒓𝒐̣𝒏𝒈 đ𝒆̂̉ 𝒙𝒂́𝒄 đ𝒊̣𝒏𝒉 𝒑𝒉𝒂̣𝒎 𝒗𝒊 𝒕𝒉𝒖 𝒏𝒉𝒂̣̂𝒑 𝒄𝒉𝒊̣𝒖 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́.

✅ 𝑯𝒖̛𝒐̛́𝒏𝒈 𝒅𝒂̂̃𝒏 𝒄𝒉𝒊 𝒕𝒊𝒆̂́𝒕 𝒗𝒊𝒆̣̂𝒄 𝒌𝒉𝒂̂́𝒖 𝒕𝒓𝒖̛̀, 𝒌𝒆̂ 𝒌𝒉𝒂𝒊, 𝒒𝒖𝒚𝒆̂́𝒕 𝒕𝒐𝒂́𝒏 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒐𝒂̀𝒏 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́, 𝒈𝒊𝒖́𝒑 𝒕𝒉𝒐̂́𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒄𝒂́𝒄𝒉 𝒂́𝒑 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝒈𝒊𝒖̛̃𝒂 𝒏𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊 𝒏𝒐̣̂𝒑 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́ 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒐̛ 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒕𝒉𝒖𝒆̂́.

💡 Nghị định cũng cập nhật nhiều quy định liên quan đến kinh doanh trên nền tảng số, chuyển nhượng tài sản số, tín chỉ các-bon, trái phiếu xanh và các chính sách ưu đãi thuế đối với hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

=> Nghị định 253/2026: https://luatvietnam.vn/thue/nghi-dinh-253-2026-nd-cp-huong-dan-thi-hanh-luat-thue-thu-nhap-ca-nhan-chi-tiet-439303-d1.html

Hoặc nhắn tin Luật Tia Sáng gửi file pdf nếu bạn cần nhé!

Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/07/2026, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Đọc ngay để nắm rõ quy định và biện pháp tổ chức thực hiện.

𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐲𝐞̂𝐮 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐨𝐚́𝐧 𝐥𝐚̃𝐢 𝐜𝐡𝐚̣̂𝐦 𝐭𝐡𝐢 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐚́𝐧 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐁𝐚̉𝐧 𝐚́𝐧 𝐠𝐨̂́𝐜: 𝐓𝐡𝐮̣ 𝐥𝐲́ 𝐡𝐚𝐲 ...
26/06/2026

𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐲𝐞̂𝐮 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐨𝐚́𝐧 𝐥𝐚̃𝐢 𝐜𝐡𝐚̣̂𝐦 𝐭𝐡𝐢 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐚́𝐧 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐁𝐚̉𝐧 𝐚́𝐧 𝐠𝐨̂́𝐜: 𝐓𝐡𝐮̣ 𝐥𝐲́ 𝐡𝐚𝐲 𝐭𝐫𝐚̉ 𝐥𝐚̣𝐢 Đ𝐨̛𝐧 𝐤𝐡𝐨̛̉𝐢 𝐤𝐢𝐞̣̂𝐧?

Trong Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2015/DS-PT ngày 20/4/2015 đã có hiệu lực pháp luật, ông B có nghĩa vụ thanh toán cho bà A số tiền 466.950.000 đồng. Bản án này chỉ xác định nghĩa vụ trả tiền gốc, không tuyên về nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thi hành án. Sau khi Bản án có hiệu lực, bà A có đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến ngày 05/08/2024 việc thi hành án khoản tiền gốc mới được thực hiện xong. Cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm do hành vi chậm thi hành án kéo dài hơn 09 năm của ông B, bà A đã nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự mới, yêu cầu Tòa án buộc ông B thanh toán khoản tiền lãi chậm thi hành án là 355.093.166 đồng.

Vấn đề pháp lý cốt lõi được đặt ra là, trong trường hợp Bản án gốc không tuyên về lãi chậm thi hành án, người được thi hành án có quyền khởi kiện thành một vụ án dân sự độc lập để đòi khoản lãi này hay không? Yêu cầu khởi kiện này có được Tòa án thụ lý hay không? Liên quan đến vấn đề này, hiện đang tồn tại hai luồng quan điểm trái chiều: Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án phải thụ lý đơn khởi kiện của bà A và giải quyết vụ án theo thủ tục chung; Quan điểm thứ hai cho rằng Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cho bà A.

Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ:

𝑻𝒉𝒖̛́ 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕, về bản chất pháp lý của khoản tiền lãi chậm thi hành án. Quan điểm thứ nhất đã nhầm lẫn khi đồng nhất nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán trong Bản án với một giao dịch dân sự thông thường. Cần khẳng định rằng, khi Bản án số 15/2015/DS-PT có hiệu lực pháp luật, các quan hệ pháp luật ban đầu giữa các đương sự đã chấm dứt và được “chuyển hóa” thành quan hệ chấp hành phán quyết của Tòa án (thi hành án). Nghĩa vụ trả tiền lúc này chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án dân sự (THADS). Khoản lãi chậm thi hành án là hệ quả pháp lý phát sinh từ chính nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán mà Tòa án đã giải quyết. Do vậy, khoản lãi chậm thi hành án này không thể tách rời và trở thành đối tượng khởi kiện của một vụ án độc lập.

𝑻𝒉𝒖̛́ 𝒉𝒂𝒊, sự áp dụng khiên cưỡng Luật THADS của quan điểm thứ nhất. Việc quan điểm thứ nhất viện dẫn khoản 2 Điều 6 và điểm d khoản 1 Điều 7 Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 để cho rằng bà A có quyền khởi kiện là sự hiểu sai tinh thần của luật (mặc dù hiện nay Luật THADS năm 2025 đã được ban hành và có hiệu lực, nhưng do toàn bộ quá trình chậm thi hành án của ông B đã diễn ra và kết thúc vào tháng 08/2024, nên việc đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc vẫn phải căn cứ vào Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2022). Quy định nêu trên cho phép đương sự khởi kiện “trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án” là nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án (ví dụ: người thứ ba tranh chấp tài sản của người phải thi hành án bị kê biên để thi thành án; hoặc có tranh chấp về việc phân chia tài sản chung của vợ/chồng người phải thi hành án khi tài sản chung bị kê biên để thi hành án). Quy định này không thể được áp dụng nhằm tạo thêm nghĩa vụ tài sản cho người phải thi hành án so với nội dung của Bản án gốc.

𝑻𝒉𝒖̛́ 𝒃𝒂, việc khởi kiện mới vi phạm quy định “sự việc đã được giải quyết bằng Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Vấn đề này được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Trong vụ việc này, yêu cầu thanh toán khoản nợ giữa bà A và ông B đã được Tòa án giải quyết bằng Bản án có hiệu lực pháp luật. Khi giải quyết yêu cầu thanh toán tiền, việc ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán và khoản tiền lãi suất chậm trả là những nội dung bắt buộc trong Bản án, quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể, theo quy định này thì: “Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải quyết định trong Bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau: a) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015…”. Do đó, việc Bản án phúc thẩm số 15/2015/DS-PT không tuyên phần lãi suất là sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật. Việc thụ lý một vụ án mới để giải quyết yêu cầu trả lãi chậm thi hành án không được tuyên trong Bản án gốc để “sửa chữa” cho sai sót của Bản án đã có hiệu lực là không phù hợp. Nói cách khác, sai sót của một phán quyết tư pháp đã có hiệu lực không thể được khắc phục bằng cách khởi động một vụ án mới.

𝑻𝒖𝒚 𝒏𝒉𝒊𝒆̂𝒏, việc trả lại đơn khởi kiện không đồng nghĩa với việc pháp luật "làm ngơ" trước quyền lợi chính đáng của người được thi hành án. Thực ra, pháp luật tố tụng dân sự đã có quy định về thủ tục đặc biệt để sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, sai lầm của Tòa án trong trường hợp Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Thủ tục này được gọi là thủ tục xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà cụ thể trong trường hợp này là thủ tục giám đốc thẩm bởi lẽ Tòa án đã có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra Bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, trong trường hợp này thủ tục giám đốc thẩm sẽ là giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà A theo quy định tại các điều luật thuộc Chương XX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, bà A cần nộp đơn đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị Bản án trên theo thủ tục giám đốc thẩm. Thông qua thủ tục này, cơ quan có thẩm quyền sẽ hủy một phần hoặc toàn bộ Bản án phúc thẩm để xét xử lại, nhằm bổ sung phần tuyên buộc ông B phải chịu lãi chậm thi hành án theo đúng quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Cách giải quyết này vừa có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, vừa đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

𝑻𝒉𝒖̛́ 𝒕𝒖̛, việc thụ lý vụ án mới sẽ đẩy gánh nặng sửa chữa sai lầm, thiếu sót của Tòa án sang đương sự. Cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, việc không tuyên nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án trong phán quyết là thiếu sót của Hội đồng xét xử. Do đó, nếu yêu cầu đòi lãi chậm thi hành án này được thụ lý thành một vụ án dân sự mới sẽ đồng nghĩa với việc đương sự phải trả giá cho thiếu sót của cơ quan xét xử. Cụ thể, nếu khởi kiện vụ án mới, bà A sẽ phải thực hiện lại toàn bộ quy trình tố tụng từ đầu như nộp đơn khởi kiện, nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho số tiền lãi chậm thi hành án, xét xử sơ thẩm, và thậm chí là đối mặt với cấp xét xử phúc thẩm. Điều này không chỉ gây tốn kém thời gian, chi phí của đương sự mà còn gây lãng phí nguồn lực của chính ngành Tòa án. Hơn thế nữa, việc chấp nhận thụ lý sẽ tạo ra một tiền lệ vô cùng nguy hiểm, đi ngược lại hoàn toàn với nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, toàn diện và triệt để vụ án dân sự được pháp luật tố tụng ghi nhận. Do đó, việc khắc phục sai sót này phải được thực hiện bằng bởi chính Tòa án theo thủ tục đặc biệt, thủ tục xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà không phải bằng cách đương sự phải khởi động một vụ kiện mới.

𝑻𝒐́𝒎 𝒍𝒂̣𝒊, việc tính lãi đối với nghĩa vụ tài sản phải thanh toán trong Bản án, quyết định có ý nghĩa bảo đảm phán quyết của Tòa án được thực thi kịp thời, nghiêm túc, khuyến khích người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ nhanh chóng, không để xảy ra thiệt hại phát sinh từ việc chậm thi hành án. Do vậy, các cấp Tòa án cần quán triệt thực hiện, ghi nhận đầy đủ nội dung này trong Bản án, quyết định. Trong trường hợp có thiếu sót, Tòa án cần khắc phục kịp thời thông qua thủ tục xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Trên đây là quan điểm cá nhân của tác giả liên quan đến việc giải quyết yêu cầu trả lãi chậm thi hành án không được tuyên trong Bản án gốc, rất mong nhận được trao đổi từ những đọc giả có quan tâm.

Nguồn: TS. HUỲNH THỊ NAM HẢI (Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật (VNU-HCM))

Chi nhánh Long Thành: Ít người nhưng nhiều hồ sơ 📚⚖️
24/06/2026

Chi nhánh Long Thành: Ít người nhưng nhiều hồ sơ 📚⚖️

𝐂𝐡𝐨 𝐭𝐚̣̆𝐧𝐠 𝐯𝐞́ 𝐬𝐨̂́ => 𝐒𝐚𝐮 đ𝐨́ 𝐭𝐫𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮̛𝐨̛̉𝐧𝐠?𝐀́𝐧 𝐥𝐞̣̂ 𝟖𝟎/𝟐𝟎𝟐𝟓/𝐀𝐋Bà D làm công nhân lao động tại Công ty P do ông T là...
24/06/2026

𝐂𝐡𝐨 𝐭𝐚̣̆𝐧𝐠 𝐯𝐞́ 𝐬𝐨̂́ => 𝐒𝐚𝐮 đ𝐨́ 𝐭𝐫𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮̛𝐨̛̉𝐧𝐠?
𝐀́𝐧 𝐥𝐞̣̂ 𝟖𝟎/𝟐𝟎𝟐𝟓/𝐀𝐋

Bà D làm công nhân lao động tại Công ty P do ông T làm chủ.

Đầu giờ chiều ngày 07/01/2021, khi bà D cùng nhiều công nhân đang lao động thì ông T mua một số tờ vé số và đưa cho bà D 01 tờ và nói “Chiều nay nếu tờ vé số này trúng thì chia đều cho các công nhân có mặt trong ngày”. Việc ông T đưa cho bà D tờ vé số có nhiều người chứng kiến.

Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, bà D nhờ ông X dò kết quả xổ số thì tờ vé số ông T đưa cho bà lúc đầu giờ chiều trúng giải đặc biệt trị giá 2 tỷ đồng.

Bà D liền báo cho ông T biết việc tờ vé số trúng thưởng giải đặc biệt. Ông T nói bà D đưa tờ vé số ra để ông T dò lại. Sau khi xác định đúng tờ vé số đã trúng thưởng, ông T cất tờ vé số vào túi áo rồi dặn bà D, ông X và mọi người là đừng la om xòm, để ông lãnh thưởng dùm rồi chiều 28 Tết nghỉ làm, ông sẽ chia cho công nhân trong xưởng. Nếu chia bây giờ họ nghỉ hết, không có người làm.

Vì ông T là chủ cơ sở đó cũng là dịp cận Tết nên bà D tin tưởng, không yêu cầu ông T trả lại tờ vé số. Đến ngày 28 Tết Nguyên đán, ông T chỉ cho các công nhân tiền Tết, chứ không thực hiện lời hứa chia tiền vé số trúng thưởng.

Do đó, 18 công nhân lao động tại Công ty P này đã khởi kiện ông T ra Tòa án.

Vì tớ vé số trúng giải đặc biệt trị giá 02 tỷ đồng, trừ thuế thu nhập phải nộp 10% = 200 triệu đồng, còn lại thực lĩnh 1 tỷ 800 triệu đồng, trừ đi số tiền Tết mà 18 Nguyên đơn đã nhận tổng cộng 183 triệu đồng thì ông T còn giữ của các Nguyên đơn số tiền 1.617.000.000 đồng.

Nay các Nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu ông T trả chia đều mỗi Nguyên đơn số tiền 85.105.000 đồng.

Ngày 09/11/2021, các Nguyên đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông T phải trả tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm.

𝐁𝐢̣ đ𝐨̛𝐧 – 𝐨̂𝐧𝐠 𝐓 𝐭𝐫𝐢̀𝐧𝐡 𝐛𝐚̀𝐲:

Ông thừa nhận ngày 07/01/2021 ông có mua 01 tờ vé số mở thưởng chiều cùng ngày.

Do ông sử dụng điện thoại di động loại bàn phím thông thường, không thể vào mạng internet để dò kết quả xổ số, nên cuối giờ chiều cùng ngày, ông đưa vé số cho bà D nhờ dò kết quả qua điện thoại di động Smartphone của ông X.

Sau khi phát hiện vé trúng giải đặc biệt, bà D mang lại trả cho ông tờ vé số. Bà D nói ông cho bà D tờ vé số là không đúng. Ông không cho bà D tờ vé số nào mà là của ông nhờ bà D dò giùm. Ngày 08/01/2021, ông đã lĩnh thưởng tờ vé số.

Khi cho các công nhân nghỉ Tết Nguyên đán, ông đã cho mỗi công nhân một số tiền làm quà Tết, khi đó không ai thắc mắc gì về việc chia tiền thưởng của tờ vé số trúng giải đặc biệt. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn.

𝐓𝐚̣𝐢 𝐁𝐚̉𝐧 𝐚́𝐧 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐨̛ 𝐭𝐡𝐚̂̉𝐦:

- TAND đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn, buộc ông T phải có nghĩa vụ trả cho các Nguyên đơn mỗi người số tiền là 42.552.500 đồng. Tổng cộng là 765.945.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về tiền lãi chậm trả.

Sau đó, các Nguyên đơn, Bị đơn đều có kháng cáo và Viện trưởng VKSND có kháng nghị phúc thẩm.

𝐓𝐚̣𝐢 𝐁𝐚̉𝐧 𝐚́𝐧 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐩𝐡𝐮́𝐜 𝐭𝐡𝐚̂̉𝐦, 𝐓𝐨̀𝐚 𝐚́𝐧 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 đ𝐢̣𝐧𝐡:

- Chấp nhận một phần kháng cáo của các Nguyên đơn: Buộc ông T phải có nghĩa vụ trả cho các Nguyên đơn mỗi người số tiền là 85.105.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về tiền lãi.

Sau đó, các Nguyên đơn, Bị đơn tiếp tục có Đơn đề nghị xem xét lại Bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Và Viện trưởng VKSND cấp cao tại TPHCM đã kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm nêu trên, vì cho rằng tờ vé số là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông T, là tài sản chung của vợ chồng, nên việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải do vợ chồng thỏa thuận; do đó, ông T chỉ có quyền định đoạt đối với 50% giá trị tờ vé số.

𝐓𝐚̣𝐢 𝐩𝐡𝐢𝐞̂𝐧 𝐭𝐨̀𝐚 𝐱𝐞́𝐭 𝐱𝐮̛̉ 𝐬𝐨̛ 𝐭𝐡𝐚̂̉𝐦 𝐥𝐚̣𝐢 𝐥𝐚̂̀𝐧 𝐈𝐈, 𝐓𝐨̀𝐚 𝐚́𝐧 đ𝐚̃ 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 đ𝐢̣𝐧𝐡:

Các Nguyên đơn trình bày thống nhất và khẳng định ông T có đưa cho bà D 01 tờ vé số và hứa nếu trúng thưởng sẽ chia cho tất cả công nhân có mặt tại xưởng ngày 07/01/2021. Bị đơn – ông T thừa nhận có đưa cho Nguyên đơn – bà D tờ vé số nêu trên, nhưng không phải là cho bà D và các công nhân đi làm ngày hôm đó, mà chỉ là nhờ bà D dò kết quả.

Cho dù giao dịch giữa ông T và bà D là “𝑯𝒐̛̣𝒑 đ𝒐̂̀𝒏𝒈 𝒕𝒂̣̆𝒏𝒈 𝒄𝒉𝒐 𝒕𝒂̀𝒊 𝒔𝒂̉𝒏” quy định tại Điều 468 BLDS hay “𝑯𝒐̛̣𝒑 đ𝒐̂̀𝒏𝒈 𝒈𝒖̛̉𝒊 𝒈𝒊𝒖̛̃ 𝒕𝒂̀𝒊 𝒔𝒂̉𝒏” quy định tại Điều 559 BLDS thì pháp luật cũng không bắt buộc phải lập thành văn bản. Do đó, về hình thức thì việc hai bên giao kết Hợp đồng bằng lời nói là không vi phạm quy định về hình thức của Hợp đồng. Do giao dịch giữa ông T và bà D không có tài liệu, chứng cứ mà chỉ thể hiện thông qua hình thức lời nói, nên cần căn cứ vào các chứng cứ khác để xác định sự thật khách quan của vụ án.

Mặc dù ông T không thừa nhận lời trình bày của các Nguyên đơn, nhưng quá trình giải quyết vụ án đã xác định được sau khi xảy ra sự kiện trúng thưởng vé số thì ông T đã tự ý cho thay thế và di dời vị trí camera quan sát diễn biến công việc thường ngày ở xưởng; đồng thời, ông T cũng không trực tiếp mà giao cho người khác đi lĩnh thực, sau đó lại có lời khai mâu thuẫn về địa điểm lĩnh thưởng. Đến khi các công nhân nghỉ Tết Nguyên đán, ông T đã cho các công nhân tiền thưởng Tết mỗi người từ 05 triệu đến 20 triệu đồng, trong khi các Nguyên đơn đều khẳng định hằng năm ông T chỉ thưởng Tết cho mỗi công nhân khoảng 01 tuần lương. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 21/01/2022, phía Nguyên đơn yêu cầu ông T trả thêm cho mỗi Nguyên đơn 50 triệu đồng, nhưng ông T chỉ đồng ý trả thêm cho các Nguyên đơn tổng cộng 200 triệu đồng, ông T không giải thích được lý do ông thay mới và đổi vị trí camera quan sát, lý do ông đưa tờ vé số cho người khác đi lĩnh thưởng, lý do ông và NĐD khai mâu thuẫn về địa điểm lĩnh thưởng. Điều này chứng tỏ ông T muốn che giấu việc trúng thưởng tờ vé số đã đưa cho bà D ngày 07/01/2022. Bên cạnh đó, việc ông T cho các công nhân tiền Tết Nguyên đán 2022 nhiều hơn rất nhiều so với hằng năm và tại phiên tòa sơ thẩm, ông T còn đồng ý cho các Nguyên đơn thêm 200 triệu đồng là điều không bình thường. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm nhận định ông T đã cho chung bà D và các công nhân có đi làm tại xưởng tờ vé số, đồng thời ra điều kiện là nếu tờ vé số trúng thưởng thì chia đều cho tất cả các công nhân có mặt là có cơ sở.

Tại thời điểm ông T cho bà D và các công nhân tờ vé số thì mệnh giá tờ vé số chỉ là 10.000 đồng, so với chi phí tiêu dùng hàng ngày thì có giá trị không đáng kể, nên ông T có thể tự ý định đoạt mà không cần phải có sự đồng thuận của vợ, vì không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Kháng nghị giám đốc thẩm cho rằng ông T chỉ có quyền định đoạt 50% giá trị tờ vé số trúng thưởng là xác định không chính xác đối tượng của Hợp đồng. Trong vụ án này, phải xác định đối tượng của HĐ tặng cho tài sản giữa ông T và các NĐ là tờ vé số chưa mở thưởng chứ không phải là tờ vé số trúng thưởng. Khi tờ vé số trúng thưởng, nếu bà D vẫn là người cầm giữ thì bà D có nghĩa vụ đi lĩnh thưởng và chia đều cho các NĐ theo điều kiện đã giao kết với ông T. Nhưng do ông T đã cầm lại tờ vé số, đã lĩnh thưởng thì ông T phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền thưởng của tờ vé số cho các NĐ, như Tòa án cấp PT đã quyết định là đúng.

Do đó, Tòa án đã ra Quyết định không chấp nhận Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm, giữ nguyên Bản án phúc thẩm nêu trên.

=> 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐲́:

Trường hợp này, Tòa án phải xác định tờ vé số chưa mở thưởng được tặng cho là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu và việc tặng cho tài sản không cần sự đồng ý của người vợ hoặc chồng của người tặng cho.

𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐬𝐨̂́ 𝐯𝐚̂́𝐧 đ𝐞̂̀ 𝐜𝐚̂̀𝐧 𝐥𝐮̛𝐮 𝐲́ đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐯𝐚𝐢 𝐭𝐫𝐨̀ đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐚̣𝐦 𝐜𝐮̉𝐚 "𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐠𝐢𝐮́𝐩 𝐬𝐮̛́𝐜" 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐭𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡...
22/06/2026

𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐬𝐨̂́ 𝐯𝐚̂́𝐧 đ𝐞̂̀ 𝐜𝐚̂̀𝐧 𝐥𝐮̛𝐮 𝐲́ đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐯𝐚𝐢 𝐭𝐫𝐨̀ đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐚̣𝐦 𝐜𝐮̉𝐚 "𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐠𝐢𝐮́𝐩 𝐬𝐮̛́𝐜" 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐭𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐭𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐨̣̂𝐢 "𝐌𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 𝐭𝐫𝐚́𝐢 𝐩𝐡𝐞́𝐩 𝐜𝐡𝐚̂́𝐭 𝐦𝐚 𝐭𝐮́𝐲"

- Tránh nhầm lẫn giữa hành vi “giúp sức” với hành vi “xúi giục”: Tuy người xúi giục cũng có hành vi mua chuộc về mặt vật chất, cho tiền bạc nhưng “người giúp sức” khác với “người xúi giục” ở chỗ: Hành vi giúp sức không có tính chất quyết định trong việc kích động người khác phạm tội. Người giúp sức chỉ giúp người vốn đã có ý định phạm tội từ trước có thêm điều kiện thuận loại để phạm tội hoặc yên tâm hơn khi thực hiện tội phạm.

- Trong thực tiễn, có trường hợp đối tượng nghiện không biết chỗ mua ma túy, nên đặt vấn đề và nhờ người lái xe ôm chở đi mua ma túy để sử dụng. Trường hợp này đặt ra 02 tình huống như sau:

+ Tình huống thứ nhất: Người lái xe ôm chở đối tượng nghiện đến nơi mua ma túy, chỉ chỗ cho đối tượng nghiện mua ma túy. Sau đó, đối tượng nghiện tự vào mua ma túy, còn người lái xe ôm chỉ lấy tiền công đi xe (có thể lấy tiền công cao hơn mức bình thường), ngoài ra không được hưởng lợi gì.

Trường hợp này, người lái xe ôm không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm. Người bán ma túy không hề biết việc người lái xe ôm chở khách đến mua. Tuy nhiên, mặc dù không xem xét truy cứu TNHS đối với người lái xe ôm về hành vi bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm, nhưng tùy trường hợp cụ thể mà xem xét xử lý người lái xe ôm tương ứng với hành vi của họ.

+ Tình huống thứ hai: Người lái xe ôm chở đối tượng nghiện đến nơi mua ma túy, nhưng lại bảo đối tượng nghiện đứng đợi, còn mình vào mua hộ và mang ra đưa ma túy cho đối tượng nghiện. Trường hợp này, cho dù người lái xe ôm có được hưởng lợi gì hay không từ việc “mua hộ ma túy” cho đối tượng nghiện thì vẫn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bởi người lái xe ôm đã trực tiếp đi mua ma túy về, rồi bán lại (có thể là ngang giá, không lấy lãi) cho đối tượng nghiện nên đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, với hành vi chở đối tượng nghiện đến, mua hộ ma túy và giao lại tận tay đối tượng nghiện đã thể hiện sự tích cực giúp cho cả đối tượng nghiện và người bán ma túy trong việc thực hiện tội phạm (mua và bán trái phép chất ma túy).

Về thực tế, không có người nào nhiệt tình đi mua hộ ma túy (biết mình làm một việc phạm pháp) mà không được hưởng lợi gì. Trường hợp nếu không được hưởng lợi gì từ đối tượng nghiện thì cũng được người bán ma túy trả công và việc không cho đối tượng nghiện vào trực tiếp mua ma túy chỉ là phương pháp phạm tội, do người bán ma túy dặn người lái xe ôm thực hiện vì sợ người lạ. Vì vậy, việc khởi tố người lái xe ôm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò “người giúp sức” là có căn cứ.

Tóm lại, cũng giống như “người tổ chức”, “người xúi giục” trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” có đồng phạm, không phải lúc nào cũng xuất hiện “người giúp sức”. “Người giúp sức” chỉ xuất hiện khi có hành vi hỗ trợ về mặt tinh thần hoặc vật chất của người nào đó đối với việc thực hiện tội phạm.

Nguồn: Luận văn Thạc sĩ – Tác giả Trần Mạnh Hà.

11/06/2026

⚖ Đ𝐎̂̀𝐍𝐆 𝐇𝐀̀𝐍𝐇 𝐂𝐔̀𝐍𝐆 𝐁𝐀̣𝐍 - 𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 𝐓𝐈𝐀 𝐒𝐀́𝐍𝐆 𝐂𝐇𝐈́𝐍𝐇 𝐓𝐇𝐔̛́𝐂 𝐂𝐎́ 𝐌𝐀̣̆𝐓 𝐓𝐀̣𝐈 𝐋𝐎𝐍𝐆 𝐓𝐇𝐀̀𝐍𝐇!

Với mong muốn mang đến các giải pháp pháp lý chất lượng, nhanh chóng và tận tâm nhất cho người dân, cũng như các Doanh nghiệp tại địa phương, Luật Tia Sáng đã chính thức đưa vào hoạt động Chi nhánh mới, sẵn sàng trở thành điểm tựa pháp lý vững chắc cho Quý Khách hàng tại Long Thành và các khu vực lân cận.

☑️ 𝐂𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐨̂𝐢 𝐭𝐮̛̣ 𝐡𝐚̀𝐨 𝐜𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐚̂́𝐩 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐯𝐮̣ 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐲́ 𝐜𝐡𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐬𝐚̂𝐮 𝐭𝐫𝐞̂𝐧 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐥𝐢̃𝐧𝐡 𝐯𝐮̛̣𝐜:

✅ Tư vấn và giải quyết tranh chấp dân sự: Tranh chấp Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài Hợp đồng; tranh chấp quyền sở hữu tài sản; và các quan hệ dân sự khác…

✅ Đất đai – Nhà ở - Bất động sản: Tư vấn thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp đất đai, ranh giới, lối đi chung; thừa kế quyền sử dụng đất; chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng bất động sản…

✅ Hôn nhân và Gia đình: Ly hôn và chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp quyền nuôi con; chia tài sản chung của vợ chồng; xác định cha, mẹ, con…

✅ Hình sự: Tham gia bào chữa cho Bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại; tư vấn các vấn đề liên quan đến tố tụng hình sự; hỗ trợ trong quá trình điều tra, khởi tố, truy tố và xét xử.

✅ Doanh nghiệp – Đầu tư: Thành lập Doanh nghiệp, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, M&A; tư vấn quản trị Doanh nghiệp; giải quyết tranh chấp nội bộ Doanh nghiệp; soạn thảo, rà soát Hợp đồng thương mại; tư vấn đầu tư trong nước và ngoài nước.

✅ Lao động: Soạn thảo Hợp đồng lao động; tư vấn kỷ luật lao động; giải quyết tranh chấp lao động; tư vấn BHXH và các chế độ cho người lao động.

⁉️ 𝑻𝒂̣𝒊 𝒔𝒂𝒐 𝒃𝒂̣𝒏 𝒏𝒆̂𝒏 𝒄𝒉𝒐̣𝒏 𝑳𝒖𝒂̣̂𝒕 𝑻𝒊𝒂 𝑺𝒂́𝒏𝒈?

- Đội ngũ chuyên nghiệp: Các Luật sư, cộng sự giàu kinh nghiệm, nắm vững quy định pháp luật hiện hành

- Tư vấn tậm tân: Lắng nghe, thấu hiểu và đưa ra giải pháp tối ưu, tiết kiệm chi phí cho Khách hàng

- Bảo mật tuyệt đối: Cam kết bảo mật thông tin Khách hàng một cách nghiêm ngặt

- Địa điểm thuận tiện: Chi nhánh mới tọa lạc ngay tại trung tâm Long Thành, gần Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Nai, dễ dàng tiếp cận và hỗ trợ kịp thời.

𝑻𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒊𝒏 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂:
📍 Địa chỉ: Đường Bùi Thị Xuân, tổ 21, khu phố Văn Hải, phường Long Thành, thành phố Đồng Nai.
📲 SĐT: 0989 072 079 / 0932 181 768
📩 Website: luattiasang.vn / tiasanglaw.com

CÔNG TY LUẬT TIA SÁNG
🏢 Tầng 2, Tòa nhà Indochina, 04 Nguyễn Đình Chiểu, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh.
📞 0989072079 LS. Lê Thanh Trang
📞 0906219287 LS. Nguyễn Thị Bích Ngọc
📧 [email protected]

Address

Phòng 2. 3 Tầng 2, Tòa Nhà Indochina, Số 04 Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định
Ho Chi Minh City
70000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Tia Sáng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật Tia Sáng:

Shortcuts

Share