Luật Nghinh Phong

Luật Nghinh Phong Điện thoại liên hệ: 0901.28.28.86 Nhị Đồng 2, P. Dĩ An, Tp. Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
🏬 VP giao dịch: Tầng 01 số 24/23 đường số 9, Kp.1, P. Hiệp Bình Chánh, Tp.

📣 Công ty luật Nghinh Phong hoạt động chuyên sâu về các lĩnh vực: Dân sự; Đất đai, nhà ở, xây dựng; Di chúc, thừa kế; Hôn nhân & gia đình; Lao động; Kinh doanh - Thương mại; Sở hữu trí tuệ; Tài chính, bảo hiểm, ngân hàng; Kế toán, thuế; Hành chính; Hình sự; Thi hành án.
💪 Nhận tư vấn dịch vụ pháp lý thường xuyên; Nhận đại diện theo uỷ quyền; Nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong

các vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính; Nhận bào chữa cho các bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.
🎁 Giải quyết nhanh chóng, kịp thời; Chi phí hợp lý, tiết kiệm; Quy trình làm việc rõ ràng; Báo cáo tiến độ đầy đủ.
🏆TẬN TÂM - UY TÍN- CHUYÊN NGHIỆP LÀM NÊN THƯƠNG HIỆU KHÁC BIỆT VÀ ĐÁNG TIN CẬY CỦA NGHINH PHONG.
-------------------------
☎️ 0901.28.28.86
🏆 https://luatnghinhphong.vn/
✉️ [email protected]
🏬 Trụ sở chính: Tầng 01 Toà nhà VietPhone Building-1, số 64 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Q.1, Tp.HCM.
🏬 Chi nhánh: 32 đường E, Kp. Thủ Đức, Tp.HCM.

23/05/2026

👉LÀM SAO ĐỂ PHÂN BIỆT BẢO LÃNH VÀ BẢO LĨNH?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nếu có vấn đề gì chưa rõ xin vui lòng liên hệ lại với chúng tôi để được trao đổi và giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM S...
23/05/2026

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/2023/HC-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2023/HC-GĐT ngày 12/4/2023 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hành chính phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai.

👉 Nội dung hủy án:

“[3] Ngày 08/9/2017 ông H, bà P có vay của ông Lê Văn Đ1, bà Nguyễn Thị P1 số tiền 327.000.000 đồng. Do không được trả nợ, ngày 31/10/2018, ông Đ1, bà P1 đã khởi kiện yêu cầu ông H, bà P thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản trên, ngày 17/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2019/QĐ-BPKCTT để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án và thi hành án. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 201/2019/DS-PT ngày 12/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định buộc ông H, bà P phải liên đới trả cho ông Đ1, bà P1 số tiền 387.000.000 đồng. Theo Công văn số 238/CV-CCTHA ngày 05/7/2022, Chi cục thi hành án dân sự thị xã KT, tỉnh Long An cho biết: ngày 24/3/2021, Chi cục thi hành án dân sự thị xã KT đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của ông H, bà P thì ông H, bà P không có tài sản nào khác ngoài quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 2937, Tờ bản đồ số 7, diện tích 100m2 tại cụm dân cư Làng nghề, Phường 3, thị xã KT. Do đó, ngày 01/7/2019 ông H, bà P tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất nêu trên cho con gái (chị N) là có dấu hiệu tẩu tán tài sản, không phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì việc tặng cho quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Nhà ở năm 2014 thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện cấp giấy chứng nhận cho bên nhận tặng cho nhà ở cùng với nhận chuyển quyền sử dụng đất ở hợp pháp có nhà ở đó thì đồng thời công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho bên nhận quyền sở hữu nhà ở. Do đó, chị N cho rằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông H, bà P với chị N đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hợp đồng tặng cho được công chứng ngày 01/7/2019 là không đúng.

[5] Theo quy định tại khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1, 2 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định thi hành chi tiết một số điều của Luật Đất đai thì việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính; sau khi nhận hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện thì gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế và thông báo thu nghĩa vụ tài chính; xác nhận nội dung biến động vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao giấy chứng nhận cho người sử dụng đất. Do đó, việc chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/7/2019 chỉ là một bước trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã KT chưa chuyển thông tin sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính và chưa chỉnh lý biến động trong sổ địa chính.

[6] Như vậy, có cơ sở xác định hồ sơ đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của chị N chưa được chỉnh lý biến động trong sổ địa chính, nên chị N chưa được xác lập quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã KT thực hiện hành vi hủy bỏ điều chỉnh biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 17/7/2019 là thực hiện theo Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là đúng theo quy định của pháp luật.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N về việc tuyên bố hành vi hành chính “Hủy nội dung điều chỉnh ngày 16/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT do thửa đất số 2937 đã bị phong tỏa tài sản theo Quyết định số 14/2019/QĐ-BPKCTT của Tòa án nhân dân tỉnh Long An” ngày 17/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã KT trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 875304 của Ủy ban nhân dân thị xã KT là có căn cứ; Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N là không đúng pháp luật.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/nguon-an-le-ve-viec-khieu-kien-hanh-vi-hanh-chinh-trong-linh-vuc-quan-ly-nha-nuoc-ve-at-ai-quyet-inh-giam-oc-tham-so-042023hc-gt
-------------------------

23/05/2026

👉 LÀM SAO ĐỂ PHÂN BIỆT TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT VỚI TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN BẮT, GIỮ, GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nếu có vấn đề gì chưa rõ xin vui lòng liên hệ lại với chúng tôi để được trao đổi và giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 11/TB-VC1-V2 NGÀY 12/01/2022 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VỤ ÁN “BỒI TH...
23/05/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 11/TB-VC1-V2 NGÀY 12/01/2022 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VỤ ÁN “BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Huyền buộc Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phải bồi thưởng tổng số tiền 1.628.195.026 đồng là đúng pháp luật. Tuy nhiên, về phần án phí dân sự sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phải nộp án phí sơ thẩm 60.845.850 đồng là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 76 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, điều luật quy định: “Cơ quan giải quyết bồi thường không thu các khoản án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với nội dung yêu cầu thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này”.

Do bản án có vi phạm về tính ân phí, tại Quyết định giám đốc thẩm số 88/2021/DS-GĐT ngày 30/9/2021 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Chấp nhận quyết định kháng nghị giám đốc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, sửa bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, theo đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong khu vực nghiên cứu, vận dụng vụ án tương tự để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-11tb-vc1-v2-ngay-12012022-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-ha-noi-ve-vu-an-boi-thuong-thiet-hai-do-co-quan-tien-hanh-to-tung-gay-ra-trong-hoat-ong-to-tung-hinh-su
-------------------------

22/05/2026

👉 LÀM SAO ĐỂ PHÂN BIỆT TỘI VU KHỐNG VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nếu có vấn đề gì chưa rõ xin vui lòng liên hệ lại với chúng tôi để được trao đổi và giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 45/TB-VC2-V1 NGÀY 30/6/2022 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN HÌNH SỰ...
22/05/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 45/TB-VC2-V1 NGÀY 30/6/2022 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN HÌNH SỰ BỊ CẤP PHÚC THẨM SỬA MỘT PHẦN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN TỘI “LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bị cáo Trương Đình Xuân vay mượn tiền bằng hình thức hợp đồng sau đó mới nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền 6.000.000.000đ. Trước khi bị cáo Xuân thực hiện hành vi phạm tội thì quan hệ giữa bị cáo và bị hại là quan hệ dân sự, nếu ai vi phạm thì giải quyết theo pháp luật dân sự. Sau khi nhận được tiền đến ngày 16/02/2019 là thời hạn trả nợ nhưng bị cáo không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà gian dối nhằm chiếm đoạt tài tiền của bà Hương, đây chính là thời điểm phạm tội. Đến ngày 16/7/2020, bị cáo Xuân bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Như vậy, bị cáo phải trả lãi cho bà Hương đối với số tiền 6.000.000.000₫ kề từ ngày 16/02/2019 đến ngày 16/7/2020 (ngày có quyết định khởi tố vụ án) là 17 tháng, lãi suất 10%/năm 0,83% tháng (6.000.000.000₫ x 0,83%)/30 ngày x 17 tháng = 846.600.000₫.

Bản án sơ thẩm tính lãi suất trên số tiền chiếm đoạt đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/11/2021, tức là tính lãi suất trong thời gian khởi tố, truy tố, xét xử là không đúng, đã gấy bất lợi cho bị cáo Xuân về phần bồi thường cho bị hại.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến các VKSND trong khu vực cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự trong thời gian đến./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-45tb-vc2-v1-ngay-3062022-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-a-nang-ve-vu-an-hinh-su-bi-cap-phuc-tham-sua-mot-phan-ve-trach-nhiem-dan-su-lien-quan-en-toi-lam-dung-tin-nhiem-chiem-oat-tai-san
-------------------------

22/05/2026

👉 LÀM SAO ĐỂ PHÂN BIỆT PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VỚI TÌNH THẾ CẤP THIẾT?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nếu có vấn đề gì chưa rõ xin vui lòng liên hệ lại với chúng tôi để được trao đổi và giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT KHI BÊN VAY VI PHẠM NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG👉 Tình huống pháp...
22/05/2026

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT KHI BÊN VAY VI PHẠM NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

👉 Tình huống pháp lý:

Trên thực tiễn nhiều tổ chức tín dụng đang xác định số tiền lãi chậm trả (phạt chậm trả) được tính trên số tiền lãi trên nợ gốc trong hạn và số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

👉 Nội dung đề xuất án lệ:

“[8] Đối với nội dung kháng nghị về nội dung tuyên án vi phạm về tính lãi suất: Bản án sơ thẩm buộc bà Đàm Thu H phải chịu lãi chậm trả 132.264.986đ (một trăm ba mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, chín trăm tám mươi sáu đồng) đối với khoản nợ lãi quá hạn là 1.023.150.260đ (một tỷ, không trăm hai mươi ba triệu, một trăm năm mươi nghìn, hai trăm sáu mươi đồng) là không có căn cứ và vi phạm Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy:

[9] Tại Điều 2 Hợp đồng cho vay số LN1806120725675 ngày 13/6/2018 giữa ngân hàng TMCP V và bà Đàm Thu H:

[10] - Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

[11] - Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

[12] Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự đã quy định: “Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”; điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số 10 dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn” và Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định nguyên tắc “chỉ xử lý một lần đối mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”. Do đó, chỉ áp dụng lãi chậm trả đối với lãi trong hạn chưa trả. Điều 2 hợp đồng cho vay số LN1806120725675 ngày 13/6/2018 đã nêu trên, thì lãi chậm trả được áp dụng để tính đối với số tiền lãi trong hạn chưa trả và không có quy định tính lãi chậm trả đối với số tiền lãi quá hạn chưa trả là đúng quy định. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP V khi tính lãi chậm trả theo Bảng kê tính lãi (Bút lục 261, 262), Ngân hàng TMCP V lại tính lãi chậm trả trên lãi quá hạn và lãi trong hạn chưa trả, với số tiền lãi chậm trả là 132.264.986 đồng là không phù hợp với quy định của hợp đồng cũng như quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ số tiền lãi chậm trả này là không chính xác.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/e-xuat-an-le-ve-viec-xac-inh-lai-suat-khi-ben-vay-vi-pham-nghia-vu-thanh-toan-trong-hop-ong-tin-dung
-------------------------

21/05/2026

👉 LÀM SAO ĐỂ PHÂN BIỆT TỘI HÀNH HẠ NGƯỜI KHÁC VỚI TỘI NGƯỢC ĐÃI HOẶC HÀNH HẠ ÔNG BÀ, CHA MẸ, VỢ CHỒNG, CON, CHÁU HOẶC NGƯỜI CÓ CÔNG NUÔI DƯỠNG MÌNH?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nếu có vấn đề gì chưa rõ xin vui lòng liên hệ lại với chúng tôi để được trao đổi và giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CẦM CỐ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở, ĐÒI TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC T...
21/05/2026

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CẦM CỐ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở, ĐÒI TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 47/2023/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 47/2023/DS-GĐT ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A, về việc tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, đòi tài sản.

👉 Nội dung hủy án:

“[2] Tại Thông báo phát hiện vi phạm ngày 17/6/2022, bà Tr cho rằng, nhà, đất số 534 V là 01 trong 04 tài sản của vợ chồng ông Ng, bà H đã bị kê biên theo Quyết định kê biên số 09/QĐ-CCTHADS ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bà Tr theo Quyết định giám đốc thẩm số 195/2019/DS-GĐT ngày 04/10/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó,“Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền” ngày 25/9/2014 được lập giữa ông Võ Tiến C với vợ, chồng ông Ng, bà H và “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” ngày 16/4/2019 được lập giữa ông Trần Thanh Ph với vợ, chồng ông Ng, bà H là giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở” giữa nguyên đơn là ông Trần Thanh Ph, bị đơn là ông Lê Minh Ng, bà Võ Thị Thúy H, nhưng không đưa bà Tr vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà...
[4.1] Về nội dung kháng nghị nhà, đất số 534 V là tài sản dùng để thi hành án, đã được Chi cục Thi hành án ra quyết định kê biên, thi hành án cho bà Tr nên Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục thụ lý, giải quyết tranh chấp đối với nhà, đất 534 V theo đơn khởi kiện của ông Ph là trái pháp luật:

Mặc dù tài sản là nhà, đất 543 V đã được Cơ quan Thi hành án cưỡng chế, kê biên để đảm bảo việc thi hành án cho bà Tr; tuy nhiên nguyên đơn là ông Trần Thanh Ph khi khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết tranh chấp “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” giữa ông và vợ, chồng ông Ng, bà H có liên quan đến số tiền cầm cố và lãi suất; yêu cầu giải quyết việc cầm cố tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm sẽ làm rõ việc cầm cố tài sản là nhà, đất 534 V có đúng quy định của pháp luật hay không để xác định tính có hiệu lực của Hợp đồng cầm cố nên không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là trái pháp luật.

[4.2] Về nội dung kháng nghị Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Trần Bích Tr vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Theo “Hợp đồng cầm cố nhà và đất”, ngày 16/4/2019, vợ chồng ông Ng, bà H cầm có tài sản là nhà, đất số 534 Võ Thị Sáu cho ông Ph. Quá trình giải quyết vụ án, ông Ph có yêu cầu nếu ông Ng, bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ông thì phát mãi tài sản là nhà, đất đã cầm cố để thu hồi nợ. Như vậy, yêu cầu của ông Ph có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Bích Tr vì tài sản là nhà, đất số 534 V đã bị Cơ quan thi hành án kê biên, cưỡng chế để thực hiện theo một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhằm đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bà Tr. Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án không đưa bà Tr vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở chấp nhận.

[4.3] Về nội dung kháng nghị các đương sự trong vụ án có mối quan hệ thân thích: Ông Võ Tiến C, bà Trần Kim H là cha mẹ ruột của bà Võ Thị Thúy H; ông Lê Minh Ph là cháu bà H nên “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” ngày 16/4/2019 và “Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền” ngày 25/9/2014 giữa các đương sự là giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án:

[4.3.1] Xét chứng cứ là “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” ngày 16/4/2019 do ông Trần Thanh Ph giao nộp:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ các mâu thuẫn sau:

+ Lý do gì số tiền ông Ng, bà H thế chấp cho ông Ph 11.500.000.000 đồng nhưng lại không sử dụng để trả nợ cho Ngân hàng Pbank trong khi số nợ của Ngân hàng Pbank cả gốc và lãi chỉ có khoảng 1.800.000.000 đồng? Số tiền 11.500.000.000 đồng vợ chồng ông Ng đã sử dụng vào mục đích gì?

+ Theo “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” ngày 16/4/2019 ông Ng, bà H phải trả lãi suất là 1%/tháng/số tiền cầm cố nhà, đất 534 V là 11.500.000.000 đồng, thì việc ông Ng, bà H phải trả thêm tiền thuê lại nhà, đất ông Ng, bà H đã cầm cố với số tiền 90.000.000 đồng/tháng trong khi giá trị nhà, đất tại thời điểm cầm cố lớn hơn rất nhiều so với số tiền cầm cố là có dấu hiệu không bình thường. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa thể hiện vợ, chồng ông Ng đã trả tiền thuê nhà hàng tháng cho ông Ph chưa? Ngoài ra, việc bàn giao nhà cho bên nhận cầm cố, sau đó cho thuê lại ngay trong ngày, trong cùng hợp đồng là mâu thuẫn với việc bàn giao tài sản và thỏa thuận này có dấu hiệu không bình thường trong việc lập hợp đồng cầm cố tài sản nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, làm rõ.

[4.3.2] Xét chứng cứ là “Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền” ngày 25/9/2014 do ông Võ Tiến C giao nộp:

Biên bản thỏa thuận trên bằng giấy đánh máy vi tính, có chữ ký của bên cho mượn tiền là ông Võ Tiến C (Bên A),và bên mượn tiền là vợ, chồng ông Ng, bà H (Bên B). Ông C đồng ý cho ông Ng, bà H mượn số tiền 5.200.000.000 đồng trước thời điểm vợ, chồng ông Ng, bà H nhận chuyển nhượng và xây dựng mới nhà, đất 534 V, giữa các bên không thỏa thuận thời hạn, nghĩa vụ trả nợ. Tại Biên bản hòa giải ngày 31/3/2021, ông C xác định đây là quan hệ vay mượn tiền nên nhà, đất 534 V đã nhận chuyển nhượng là tài sản thuộc về vợ chồng ông Ng, bà H. Như vậy, giao dịch này không phải quan hệ góp vốn, các đương sự chưa cung cấp được chứng cứ để chứng minh giá trị nhận chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất, giá trị xây dựng mới sau khi nhận chuyển nhượng thuộc quyền sở hữu chung tài sản và quyền sở hữu tài sản của ông C, ông Ng, bà H nên việc ông C cho rằng vợ, chồng ông Ng, bà H chỉ là người đứng tên dùm ông C và trong trường hợp ông Ng, bà H phải xử lý tài sản để trả nợ thế chấp, cầm cố thì phải trả cho ông C 50% giá trị tài sản mà không chịu bất kỳ ràng buộc nào được ghi nhận tại các điểm 2 “Bên A đồng ý để Bên B được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đối với tài sản là đất ở và nhà ở nêu trên khi nhận chuyển nhượng tài sản này và khi hoàn tất thủ tục hoàn công đối với nhà ở sau khi xây dựng mới, khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mới sau khi xây dựng nhà xong.”; điểm 3 “ Bên A đồng ý cho bên B được sử dụng tài sản nêu trên để thế chấp, cầm cố để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Bên B.”; điểm 4 “Khi Bên B bán tài sản nêu trên hoặc xử lý tài sản nêu trên để trả nợ thế chấp, cầm cố hay phải xử lý tài sản nêu trên do bất ký nguyên nhân nào thì Bên A được quyền thu hồi lại ngay số tiền tương ứng với 50% giá trị tài sản từ số tiền bán hoặc xử lý tài sản nêu trên mà không phải chịu bất kỳ ràng buộc nào. Bên B chỉ được sử dụng tối đa 50% giá trị tài sản khi bán hoặc xử lý tài sản nêu trên để thực hiện nghĩa vụ thế chấp, cầm cố phát sinh nếu nghĩa vụ thế chấp, cầm cố phát sinh vượt quá 50% giá trị tài sản khi bán hoặc xử lý tài sản nêu trên thì Bên B tự chịu trách nhiệm thanh toán bằng tài sản khác” của Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền ngày 25/9/2014 là không có có sở chấp nhận.

[5] Xét về nội dung giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm khi ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 25/2021/QĐST-DS ngày 09/4/2021:

Tại Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn quyền sử dụng đất. Như vậy, Luật Đất đai năm 2013 không có quy định người sử dụng đất có quyền cầm cố quyền sử dụng đất. Việc cầm cố tài sản là quyền sử dụng đất là vi phạm khoản 1 Điều 310 Bộ luật Dân sự nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo hồ sơ vụ án thể hiện nhà, đất 543 Võ Thị Sáu đã được thế chấp cho Ngân hàng Pbank ngày 27/4/2016 và đã được Cơ quan Thi hành án cưỡng chế, kê biên để đảm bảo việc thi hành án. Tuy nhiên Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự vẫn công nhận các đương sự thỏa thuận Hợp đồng cầm cố ngày 16/4/2019 chấm dứt hết hiệu lực kể từ ngày 31/3/2021 (ngày hòa giải thành) là không đúng quy định của pháp luật (mặc nhiên Tòa án cấp sơ thẩm thừa nhận trước ngày 31/3/2021 hợp đồng cầm cố tài sản là quyền sử dụng đất có hiệu lực). Theo lời khai của ông Ph từ ngày cầm cố tài sản (16/4/2019), vợ chồng ông Ng, bà H đã trả lãi suất 1/% theo hợp đồng đến 16/8/2019 thì không trả nữa. Ông yêu cầu trả lãi suất kể từ ngày 16/8/2019 với mức lãi suất 0,8%/tháng. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi suất từ ngày 16/4/2019 đến ngày 31/3/2021 (ngày hòa giải thành) mà không đối trừ lãi suất ông Ng, bà H đã trả là chưa đúng quy định của pháp luật.

[6] Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” và “Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền” cũng như lời trình bày giữa các đương sự, trong khi các chứng cứ này có những nội dung thỏa thuận không bình thường, chưa được chứng minh làm rõ để công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là chưa có căn cứ vững chắc. Theo Đơn yêu cầu giám đốc thẩm và Thông báo phát hiện vi phạm của bà Trần Bích Tr cũng như nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định các đương sự trong vụ án có mối quan hệ thân thích: Ông Võ Tiến C, bà Trần Kim H là cha mẹ ruột của bà Võ Thị Thúy H (cha mẹ vợ của ông Ng); ông Lê Minh Phương là cháu của bà H. Quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ mối quan hệ thân thích này để xem xét, đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện để giải quyết vụ án và đánh giá chứng cứ, xem xét “Hợp đồng cầm cố nhà và đất” và “Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền” là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ đối với bà Tr hay không như nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo đúng theo quy định của pháp luật.

[7] Do trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ, chưa thực hiện đầy đủ việc chứng minh, dẫn đến kết luận trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chưa phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 25/2021/QĐST-DS ngày 09/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây:
https://luatnghinhphong.vn/articles/nguon-an-le-ve-viec-tranh-chap-hop-ong-cam-co-quyen-su-dung-at-quyen-so-huu-nha-o-oi-tai-san-quyet-inh-giam-oc-tham-so-472023ds-gt
-------------------------

21/05/2026

👉 LÀM SAO ĐỂ PHÂN BIỆT PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT VỚI TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nếu có vấn đề gì chưa rõ xin vui lòng liên hệ lại với chúng tôi để được trao đổi và giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!

Address

Tầng 01 Tòa Nhà VietPhone Building-1, Số 64 Nguyễn Đình Chiểu, P. ĐaKao, Q. 1, Tp. HCM
Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Tuesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Wednesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Thursday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Friday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Nghinh Phong posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share