Luật Nghinh Phong

Directions Website

Luật Nghinh Phong Điện thoại liên hệ: 0901.28.28.86 Nhị Đồng 2, P. Dĩ An, Tp. Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
🏬 VP giao dịch: Tầng 01 số 24/23 đường số 9, Kp.1, P. Hiệp Bình Chánh, Tp.

📣 Công ty luật Nghinh Phong hoạt động chuyên sâu về các lĩnh vực: Dân sự; Đất đai, nhà ở, xây dựng; Di chúc, thừa kế; Hôn nhân & gia đình; Lao động; Kinh doanh - Thương mại; Sở hữu trí tuệ; Tài chính, bảo hiểm, ngân hàng; Kế toán, thuế; Hành chính; Hình sự; Thi hành án.
💪 Nhận tư vấn dịch vụ pháp lý thường xuyên; Nhận đại diện theo uỷ quyền; Nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong các vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính; Nhận bào chữa cho các bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.
🎁 Giải quyết nhanh chóng, kịp thời; Chi phí hợp lý, tiết kiệm; Quy trình làm việc rõ ràng; Báo cáo tiến độ đầy đủ.
🏆TẬN TÂM - UY TÍN- CHUYÊN NGHIỆP LÀM NÊN THƯƠNG HIỆU KHÁC BIỆT VÀ ĐÁNG TIN CẬY CỦA NGHINH PHONG.
-------------------------
☎️ 0901.28.28.86
🏆 https://luatnghinhphong.vn/
✉️ [email protected]
🏬 Trụ sở chính: Tầng 01 Toà nhà VietPhone Building-1, số 64 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Q.1, Tp.HCM.
🏬 Chi nhánh: 32 đường E, Kp. Thủ Đức, Tp.HCM.

27/09/2026

👉 THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VÀ THỜI HẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH ĐƯỢC XÁC ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 80/TB-VKS-HC NGÀY 28/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN “KHIẾU...
27/09/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 80/TB-VKS-HC NGÀY 28/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN “KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Ngày 23/10/2017, Sở TN&MT tỉnh K cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612 cho ông N. V. M. Ông M xác nhận ngày 30/10/2017, ông nhận được Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612, đến tháng 03/2022 ông mới đọc nội dung và phát hiện Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ghi sai diện tích đất ở đô thị. Ngày 14/9/2022, ông M có Đơn kiến nghị gửi Giám đốc Sở TN&MT tỉnh K đề nghị xem xét lại diện tích đất ở đô thị đã cấp cho ông. Tại Công văn số 3060/STNMT-TTr ngày 21/10/2022, Sở TN&MT tỉnh K trả lời đơn kiến nghị của ông M và khẳng định: việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 453612 cho ông M là cấp đúng diện tích đất, loại đất và đúng quy định của pháp luật.

Ngày 10/10/2023, ông M nộp đơn khởi kiện tại Toà án yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Do Công văn số 3060/STNMT-TTr ngày 21/10/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K có nội dung thể hiện diễn biến việc ra quyết định hành chính, kết quả kiểm tra, rà soát của cơ quan chức năng để ra kết luận về nội dung đơn kiến nghị của ông M nên công văn này được xác định là quyết định giải quyết khiếu nại và là quyết định hành chính bị kiện theo qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Như vậy, căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm tính từ ngày 21/10/2022 nên việc ông M khởi kiện tại Toà án vẫn còn thời hiệu khởi kiện.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, ông M nhận được Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612 của Sở TN&MT tỉnh K vào ngày 30/10/2017 đứng tên ông N. V. M. Đây là thời điểm ông M biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, nhưng đến ngày 10/10/2023 ông M mới khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án nhân dân tỉnh K để yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 453612 là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Trên đây là những vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh K trong việc giải quyết vụ án hành chính nêu trên mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K không phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tương tự./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-80tb-vks-hc-ngay-28102024-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-cap-cao-tai-a-nang-ve-vu-an-khieu-nai-quyet-inh-hanh-chinh-trong-linh-vuc-quan-ly-at-ai

-------------------------

27/09/2026

👉 NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG👉 Tình huống pháp lý:Tr...
27/09/2026

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

👉 Tình huống pháp lý:

Trong bối cảnh quan hệ lao động ngày càng đa dạng và phức tạp, tranh chấp liên quan đến việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đang trở thành một trong những nhóm tranh chấp phổ biến trong thực tiễn xét xử. Khi xảy ra hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, pháp luật lao động quy định người sử dụng lao động phải thực hiện nhiều nghĩa vụ tài chính đối với người lao động, bao gồm trả tiền lương trong thời gian người lao động không được làm việc, bồi thường do chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước và các quyền lợi khác theo quy định của Bộ luật Lao động. Tuy nhiên, việc xác định khoản tiền lương nào được sử dụng làm căn cứ tính các nghĩa vụ này lại là vấn đề thường xuyên phát sinh tranh cãi trong thực tiễn.

Khó khăn chủ yếu xuất phát từ thực tế cơ cấu thu nhập của người lao động hiện nay không còn chỉ bao gồm mức lương cơ bản hoặc lương theo chức danh công việc. Nhiều doanh nghiệp xây dựng cơ chế thu nhập với nhiều thành phần khác nhau như phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp chuyên môn, tiền thưởng công việc, hỗ trợ chuyên cần, hỗ trợ điện thoại, hỗ trợ đi lại, hỗ trợ ăn trưa, nhà ở và nhiều khoản hỗ trợ khác. Trong không ít trường hợp, các khoản này được cộng gộp thành một mức thu nhập tổng thể được ghi nhận trong hợp đồng lao động hoặc bảng lương hàng tháng. Chính điều này dẫn đến cách hiểu khác nhau về khái niệm “tiền lương” khi áp dụng các quy định về bồi thường trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ hợp đồng lao động.

Về mặt pháp lý, khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Đồng thời, Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tiền thưởng là khoản tiền hoặc tài sản mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc. Mặc dù pháp luật đã có sự phân biệt nhất định giữa tiền lương và tiền thưởng, song trong thực tiễn vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau đối với các khoản hỗ trợ hoặc các khoản thu nhập phát sinh có điều kiện.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[2.3] Về mức lương, các khoản bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: căn cứ Hợp đồng lao động số 001/HDLDNNN/YTH ngày 09/5/2024 các bên thỏa thuận: mức lương cơ bản 7.000.000 đồng, phụ cấp chức vụ 900.000 đồng, phụ cấp chuyên môn 500.000 đồng; thưởng công việc 16.560.000 đồng; các khoản hỗ trợ khác: chuyên cần 300.000 đồng, đi lại 350.000 đồng, điện thoại 390.000 đồng, phụ cấp khác 1.000.000 đồng; tổng cộng 27.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Đối chiếu quy định trên thì thấy rằng, Hợp đồng số 001 có quy định tiền thưởng công việc là 16.560.000 đồng, không nằm trong tiền lương, các khoản hỗ trợ khác bao gồm: chuyên cần 300.000 đồng, đi lại 350.000 đồng, điện thoại 390.000 đồng, phụ cấp khác 1.000.000 đồng chỉ được chi trả khi người lao động thực tế làm việc tại Công ty, từ ngày 24/7/2024 thì nguyên đơn không còn làm việc tại Công ty N không được chi trả các khoản này. Từ tháng 5/2024 đến tháng 6/2024 bị đơn Công ty C1 cũng đóng bảo hiểm xã hội cho ông Z với mức lương 8.400.000 đồng/ tháng. Do đó, chỉ có căn cứ xác định mức lương bồi thường cho ông Z từ ngày 01/8/2024 đến ngày 14/4/2026 là 8.400.000 đồng/ tháng (mức lương cơ bản 7.000.000 đồng, phụ cấp chức vụ 900.000 đồng, phụ cấp chuyên môn 500.000 đồng); Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức lương 27.000.000 đồng/ tháng là chưa đúng quy định của pháp luật….”.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/e-xuat-an-le-ve-xac-inh-tien-luong-khi-giai-quyet-tranh-chap-lao-ong-oi-voi-hop-ong-lao-ong

-------------------------

27/09/2026

👉 PHÂN BIỆT MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO VỚI MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

26/09/2026

👉 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 11/2024/DS-GĐT NGÀY 22/4/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂ...
26/09/2026

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 11/2024/DS-GĐT NGÀY 22/4/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO)

Quyết định giám đốc thẩm số 11/2024/DS-GĐT ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là ông Phạm Thanh H với bị đơn là ông Trần Thái M và bà Nguyễn Thị N.

👉 Nội dung hủy án:

“[2] Hai biên lai chuyển tiền đề ngày 10/9/2011 và ngày 24/10/2011 thể hiện: ông H đã chuyển 02 lần, mỗi lần 5000 Bảng Anh vào tài khoản của ông M tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Như vậy, việc ông H chuyển số tiền 10.000 Bảng Anh vào tài khoản của ông M là có thật; ông M, bà N không có chứng cứ chứng minh về việc được ông H tặng cho số tiền này. Do đó, không có cơ sở xác định số tiền 10.000 Bảng Anh là tiền ông H tặng cho ông M, bà N. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, buộc ông M, bà N trả cho ông H số tiền 300.000.000 đồng (tương đương với số tiền đã mượn là 10.000 Bảng Anh) là có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông M, bà H, hai bức hình chụp chung giữa hai gia đình, từ đó xác định số tiền 10.000 Bảng Anh ông H chuyển cho ông M là tiền tặng cho và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là không có cơ sở.”

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/nguon-an-le-ve-viec-tranh-chap-oi-tai-san-quyet-inh-giam-oc-tham-so-112024ds-gt-ngay-2242024-cua-toa-an-nhan-dan-toi-cao

-------------------------

26/09/2026

👉 NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG LẼ CÔNG BẰNG ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 146/TB-VKSTC NGÀY 26/7/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI VỀ “YÊU CẦU CÔNG ...
26/09/2026

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 146/TB-VKSTC NGÀY 26/7/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI VỀ “YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM CÁC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI”

👉 Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

- Đối với việc thứ nhất, thuộc trường hợp không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm lại ra phán quyết công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam là không đúng nên đã bị cấp giám đốc thẩm huỷ án và giao hồ sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại.

Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố H chưa yêu cầu Ngân hàng DBS cung cấp đủ tài liệu chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu quy định tại Điều 434 Bộ Luật TTDS cụ thể: Quyết định OS 1133/2012, tài liệu số ORC 2018/2013 ngày 25/3/2013 của Tòa Thượng thẩm Singapore (Quyết định 1133) không thể hiện nội dung về hiệu lực thi hành Quyết định. Theo điểm b khoản 1 Điều 434, Ngân hàng DBS phải nộp cho Tòa án văn bản của Tòa án Singapore hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của Singapore xác nhận Quyết định 1133 có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam. Nhưng, Ngân hàng DBS mới nộp cho Tòa án văn bản xác nhận hiệu lực thi hành Quyết định 1133 của ông Govinda Pannir Selvam (Thẩm phán Tòa án Tối cao Singapore đã nghỉ hưu) và Văn bản của Đại sứ quán nước Cộng hòa Singapore tại Việt Nam xác nhận Đạo luật về Thời hiệu là đạo luật có hiệu lực và hiện đang thi hành tại Singapore. Tuy nhiên, cả hai văn bản này đều không phải là văn bản pháp lý có giá trị chứng minh.

Tòa Thượng thẩm Singapore ban hành Quyết định 1133 vắng mặt ông B, bà L. Nhưng, Ngân hàng DBS mới cung cấp được cho Tòa án tài liệu về việc Tòa thượng thẩm Singapore tống đạt Thông báo triệu tập của Tòa án và Bản tuyên thệ tới ông B, bà L bằng cách gửi thư bảo đảm tại Bưu điện Singapore. Chưa có xác nhận của Bưu điện Singapore.

Tại thời điểm giải quyết việc dân sự trên, giữa Việt Nam và Singapore chưa ký kết hoặc cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

Đối với việc trên, lẽ ra Tòa án hai cấp phải căn cứ quy định tại Khoản 1, 2 Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Khoản 4 Điều 22 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao để ban hành Văn bản gửi Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và áp dụng nguyên tắc có đi có lại giữa Việt Nam và Singapore để đưa ra phán quyết thì mới đúng pháp luật và toàn diện.

- Đối với việc thứ hai, thuộc trường hợp công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài. Toà án cấp sơ thẩm đã công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài là đúng. Toà án cấp phúc thẩm không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài là không có căn cứ pháp luật nên đã bị cấp giám đốc thẩm huỷ quyết định phúc thẩm giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Theo “Phán quyết trọng tài số 5171 (2016) S.Z.A.Zi do người yêu cầu cung cấp (bản dịch) thì ngày 22/2/2017, người bị yêu cầu đã gửi đơn lên Tòa án nhân nhân trung cấp QC phản đối hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Căn cứ quy định tại điều 66 “Quy tắc trọng tài Ủy ban trọng tài QC”, thì thủ tục trọng tài của vụ kiện này đã bị đình chỉ.

Ngày 19/4/2017, Tòa án nhân dân trung cấp QC đã ra Quyết định dân sự số Y01MT261 (2017), xác định điều khoản trọng tài quy định tại Điều XI “Hợp đồng dịch vụ” giữa Công ty Y và Công ty S là hợp pháp, có hiệu lực, Ủy ban Trọng tài QC có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận trọng tài giữa Công ty Y và Công ty S. Căn cứ Điều 11 trong “Hợp đồng dịch vụ” ngày 07/9/2009 được kí giữa ba bên Công ty Y (người yêu cầu) Công ty S (người bị yêu cầu thứ nhất) và Công ty GM (người bị yêu cầu thứ hai) quy định “Luật áp dụng trọng tài là pháp luật nước Cộng hòa Nhân dân TH”. Do đó, Ủy ban Trọng tài QC đã khôi phục trọng tài và ra phán quyết giải quyết tranh chấp giữa các bên là đúng theo thỏa thuận của các bên và đúng với Quy tắc trọng tài của Ủy ban Trọng tài QC. Do đó, căn cứ Điều 10, Điều 13 Quy tắc trọng tài của Ủy ban Trọng tài QC không chấp nhận phản đối của Công ty S về năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài của Công ty Y là đúng.

Như vậy, có cơ sở xác định Phán quyết số 5171 (2016) S.Z.A.Zi có hiệu lực thi hành. Thỏa thuận trọng tài là hợp pháp, thành phần của Trọng tài, thủ tục giải quyết tranh chấp phù hợp với thỏa thuận trọng tài của Công ty Y, phù hợp với Quy tắc trọng tài Ủy ban Trọng tài QC, TQ.

Quyết định sơ thẩm căn cứ Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài; Căn cứ Điều 424; Điều 430; Điều 458; Điều 461 Bộ luật TTDS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 tuyên xử Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết số 5171 (2016) S.Z.A.Zi ngày 15/8/2017 của Ủy ban Trọng tài QC, TQ là đúng vì TQ và Việt Nam đều là thành viên của Công ước này. Quyết định phúc thẩm áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 459 Bộ luật TTDS năm 2015 chấp nhận kháng cáo của Công ty S sửa quyết định sơ thẩm là chưa xem xét toàn diện việc dân sự nêu trên.

Từ kết quả giải quyết 02 việc dân sự cụ thể nêu trên, khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các việc dân sự tương tự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần lưu ý phân biệt trường hợp nào áp dụng nguyên tắc có đi có lại, trường hợp nào áp dụng Luật Tương trợ tư pháp; trường hợp nào áp dụng Công ước New York năm 1958 cũng như việc áp dụng các hiệp định song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc công nhận. Từ đó, căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam đưa ra phán quyết đúng quy định của pháp luật về việc công hoặc không công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát việc giải quyết một số việc dân sự về kinh doanh, thương mại “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các phán quyết của trọng tài nước ngoài”. Viện KSND tối cao thông báo để Viện KSND các cấp tham khảo, vận dụng nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các việc dân sự về kinh doanh, thương mại./.

👉 Xem nội dung chi tiết tại đây: https://luatnghinhphong.vn/articles/thong-bao-rut-kinh-nghiem-so-146tb-vkstc-ngay-2672024-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-toi-cao-tai-ha-noi-ve-yeu-cau-cong-nhan-va-cho-thi-hanh-tai-viet-nam-cac-phan-quyet-cua-trong-tai-nuoc-ngoai

-------------------------

26/09/2026

👉 PHÂN BIỆT SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI MANG THAI HỘ?

📍 Lưu ý quan trọng: Video được tạo dựng bởi AI theo chủ đề admin muốn chia sẻ, nội dung và hình thức của video này tuy chưa phải là hoàn thiện nhất và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót không đáng có, nhưng với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, Admin xin tiếp thu và lĩnh hội mọi ý kiến đóng góp phản hồi từ quý vị để sớm khắc phục nhằm hoàn thiện thêm cho video, góp phần phục vụ chất lượng tốt nhất cho những lần sau.
Xin trân trọng cảm ơn!

Address

Tầng 01 Tòa Nhà VietPhone Building-1, Số 64 Nguyễn Đình Chiểu, P. ĐaKao, Q. 1, Tp. HCM
Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Tuesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Wednesday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Thursday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30
Friday 08:00 - 12:00
13:30 - 17:30

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Nghinh Phong posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share