Công ty Luật QA & Cộng Sự

Công ty Luật QA & Cộng Sự Luật sư: Dân Sự, Hình Sự, Hành chính, đất đai, thừa kế, tư vấn đầu tư doanh nghiệp, kinh doanh thương mại, lao động,..

Công ty Luật QA & Cộng sự là một trong những tổ chức hành nghề luật uy tín hàng đầu tại Việt Nam. Hơn một thập kỷ cống hiến và phát triển không ngừng với sự dẫn dắt bởi Luật sư - Thạc sĩ - NCS Nguyễn Quốc Anh, công ty đã khẳng định vị thế của mình trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý chuyên sâu, mang lại sự an tâm và tin tưởng tuyệt đối cho khách hàng. Với tiêu chí hoạt động "Công lý của bạn và

sự cam kết của chúng tôi", QA & Cộng sự không chỉ là một đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý mà còn là người đồng hành, hỗ trợ khách hàng vượt qua mọi thử thách pháp luật. Chúng tôi cam kết luôn đặt lợi ích và quyền lợi chính đáng của khách hàng lên hàng đầu, lấy sự công bằng và minh bạch làm nền tảng cho mọi hoạt động. QA & Cộng sự, tự hào đã tham gia giải quyết thành công nhiều vụ án lớn, phức tạp trên nhiều lĩnh vực. Với kinh nghiệm thực tiễn và sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật, chúng tôi đã Bào chữa, Bảo vệ cho nhiều khách hàng trong các vụ án hình sự trọng điểm quốc gia có tác động xã hội và kinh tế sâu rộng, cũng như các vụ án tranh chấp dân sự, thương mại có tính chất phức tạp, giúp khách hàng đạt được lợi ích tối ưu. Bên cạnh tham gia giải quyết các vụ án tại Tòa án, QA & Cộng sự còn đồng hành cùng các Doanh nghiệp, nhà đầu tư thông qua dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên cho nhiều doanh nghiệp, giúp họ đảm bảo khung pháp lý vững chắc từ Thuế, Hợp đồng, Quản trị nội bộ đến giải quyết rủi ro pháp lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh tạo nền tảng để doanh nghiệp hoạt động ổn định và phát triển bền vững.

Đội ngũ luật sư tại QA & Cộng sự bao gồm những chuyên gia pháp lý hàng đầu, có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản và sở hữu kinh nghiệm thực tiễn phong phú luôn mang đến sự chuyên nghiệp, tận tâm và những giải pháp pháp lý tối ưu nhất cho khách hàng. “Mỗi vấn đề đều được giải quyết bằng các giải pháp sáng tạo và phù hợp nhất”. Công ty Luật QA & Cộng sự đã và đang trở thành lựa chọn hàng đầu của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp khi cần sự hỗ trợ pháp lý chuyên sâu. Chúng tôi không ngừng cải thiện để mang lại niềm tin và sự hài lòng cao nhất cho khách hàng. Hãy để QA & Cộng sự là người bạn đồng hành đáng tin cậy trên hành trình bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bạn! CÔNG TY LUẬT QA & CỘNG SỰ
Mã số thuế : 0314685516 ,
Trụ sở: - T12 -10 Mahattan - Vinhome Grand Park
P.Long Bình, TP.HCM
VPGD: - Số 34, Huỳnh Văn Lũy, P.Phú Lợi, TP.HCM

Hotline: 0919 403 605 & 0988 78 39 78

04/02/2026
03/02/2026

" KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN ĐỐI VỚI KHỞI KIỆN ĐÒI NỢ"

Đòi nợ là một trong những tranh chấp phổ biến hiện nay, các vụ án đòi nợ chiếm trên 50% các vụ tranh chấp thực tế được giải quyết tại Tòa án và Trọng tài.
Tuy nhiên nó vẫn chưa phản ánh đúng, đầy đủ số lượng tranh chấp đòi nợ. Trên thực tế việc đòi nợ còn diễn ra nhiều hơn rất nhiều so với số vụ án được giải quyết tại tòa án và trọng tài. Một trong những lý do trên đó là việc hiểu lầm về thời hiện khởi kiện vụ án đòi nợ, nói cách khác là nhận thức mình đã mất quyền khởi kiện nên không tiến hành việc khởi kiện để yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài giài quyết.

Đây là nhận thức sai lầm nghiêm trọng đặc biệt hiện nay có rất nhiều bài viết có nội dung như thời hiệu khởi kiện đòi nợ 3 năm đúng bằng thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng. Cách hiểu này là chưa toàn diện và chưa phù hợp thực tiễn xét xử tại Việt Nam. Các hiểu trên dẫn đến nhiều người tự xét thấy mình bị mất quyền khởi kiện nên đã không thực hiện quyền khởi kiện hợp pháp của mình.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc xác định thời hiện khởi kiện trong việc đòi nợ nên Công ty Luật IPIC viết bài này để giúp người dân có cái nhìn đúng, chính xác về thời hiệu khởi kiện đối với việc đòi nợ để yêu cầu tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật, chi tiết nội dung như sau:

I. Những kiến thức cơ bản về thời hiệu khởi kiện.
1.Thời hiệu khởi kiện là gì?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện” và theo khoản 4 điều 150 Bộ Luật dân sự 2015 thì “Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu”.
Như vậy, theo quy định khoản 3 và khoản 4 điều 150 thì thời hiệu khởi kiện chính là khoảng thời gian mà chủ thể được quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho mình nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

2. Áp dụng quy định về thời hiệu
Theo Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
“Điều 184. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.”
Như vậy, nếu đã hết thời hiệu khởi kiện nhưng một bên vẫn đi kiện và bên kia không yêu cầu thì Tòa vẫn sẽ giải quyết vụ án bình thường. Và nếu tại cấp sơ thẩm mà vấn đề thời hiệu chưa được đặt ra thì tại cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm sẽ không được đặt ra nữa.
Mặt khác nếu có một hoặc các bên đương sự trong vụ án yêu cầu áp dụng thời hiệu thì nếu thời hiệu đã hết, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
“Điều 217. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết”
Như vậy, trong trường hợp nếu hết thời hiệu khởi kiện mà các bên không yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện thì tòa án vẫn giải quyết vụ án bình thường. Tuy nhiên thường thì các bên bị kiện họ tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật hoặc họ có Luật sư tư vấn nên việc họ có yêu cầu xem xét thời hiệu khởi kiện là bình thường, trong trường hợp này vụ án bị đình chỉ giải quyết như quy định tại điểm e điều 217 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
Thiết nghĩ để bảo vệ được quyền lợi của mình thì các bên tranh chấp cần phải lưu ý về thời hiệu khởi kiện cũng như về quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhất tránh trường hợp đến lúc tòa đã xử xong mới biết đến việc đã hết thời hiệu khởi kiện.
Theo quy định pháp luật có những quan hệ tranh chấp, yêu cầu dân sư không áp dụng thời hiệu khởi kiện các bạn cần tìm hiểu và quan tâm đến những nội dung này để xem trường hợp tranh chấp của mình có thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện không.

3. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Theo quy định tại Điều 155 của BLDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
- Trường hợp khác do luật quy định.
Trên thực tế có nhiều trường hợp theo thực tiễn xét xử và hướng dẫn của tòa tối cao thì không xem xét thời hiệu khởi kiện như trường hợp yêu cầu thanh toán tiền theo thỏa thuận hợp đồng, những trường hợp tương tự như trên thì phải có kinh nghiệm thì có thể nắm bắt được, hoặc chỉ cần xác định lại quan hệ tranh chấp là có thể rơi vào trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện thì việc khởi kiện sẽ không rơi vào trường hợp hết thời hiệu khởi kiện. Do vậy cần nhờ luật sư tư vấn để bảo vệ quyền lợi của mình được tốt hơn.

4. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Tại Điều 156 của BLDS năm 2015 có quy định như sau: Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
- Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
- Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
+Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;
+Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
Như vậy, trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện thì một trong những việc cần làm là xem trong khoản thời hạn của thời hiệu khởi kiện có thời gian nào đáp ứng trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện hay không, nếu có thì thời gian đó không tính vào thời gian tính thời hiệu khởi kiện. Do vậy cần phải xem xét cẩn thận quá trình này để tính lại thời hiệu khởi kiện một cách chính xác tránh hiểu sai làm mất thời hiệu khởi kiện của mình.

5 .Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
Điều 157 BLDS năm 2015 “quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
- Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Các bên đả tự hòa giải với nhau.
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện theo các trường hợp nêu trên.”
Đây là một quy định rất thuận lợi cần được vận dụng và tính thời hiệu khởi kiện có lợi nhất cho bên khởi kiện. Nếu xác định thời hiệu khởi kiện tính thời điểm quyền nghĩa vụ bị xâm phạm thì thời điểm tính lại thời hiệu khởi kiện lại là thời điểm phát sinh một trong các sự kiện nêu trên. Thực tế quan hệ dân sự luôn dựa trên nguyên tắc trung thực, thiện chí. Do vậy, nếu trước khi khởi kiện các bên thường làm việc trực tiếp với nhau để giải quyết các tranh chấp, kết quả buổi làm việc có thể là biên bản làm việc, biên bản xác nhận nghĩa vụ, hoặc là cam kết thực hiện hợp đồng, cam kết hoàn trả tài sản…. tất cả nội dung này đều là cơ sở để tính lại thời hiện khởi kiện. Do vậy trước khi khởi kiện mà xác định thời hiệu khởi kiện đã hết thì cần làm việc lại với bên có nghĩa vụ để đạt được một trong ba trường hợp xảy ra trên để làm căn cứ tính lại thời hiệu khởi kiện, do quan hệ dân sự trên nguyên tắc thiện chí, trung thực nên các sự kiện tính lại thời hiệu khởi kiện vẫn thường thực hiện được. Đây là công việc có tính chuyên môn và đòi hỏi tế nhị, khôn khéo để tránh trường hợp bên có nghĩa vụ đề phòng cũng như thiếu thiện chí hợp tác trong việc xác định lại sự kiện trên. Khi làm việc nên lập văn bản để xác định lại nội dung làm việc nó là chứng cứ, cơ sở tính lại thời hiệu khởi kiện. Việc lấy lại thời hiệu khởi kiện nên thực hiện trước khi khởi kiện lên tòa án hoặc trọng tài tránh trường hợp bên có nghĩa vụ họ không thiện chí hợp tác từ chối nghĩa vụ của mình dẫn đến việc lấy lại thời hiệu không thể thực hiện được.

6.Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng
Theo quy định tại Điều 429 của BLDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Với quy định như trên thì chúng ta thầy rằng nếu hiểu thời hiệu đòi nợ là thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng thì thời hiệu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Cách hiểu này là không đúng và không phù hợp thực tiễn tố tụng Việt Nam.

II. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ!
Đối với việc khởi kiện về đòi nợ trên thực tiễn tố tụng Việt Nam đều xem đây là quan hệ đòi lại tài sản là quan hệ bảo vệ quyền sở hữu thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 của BLDS năm 2015.
Cũng theo khoản 3 điều 23 Nghị quyết số 03/2012 của Hội đồng Thẩm Nghị quyết số 03/2012 phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành quy định về thời hiệu khởi kiện theo Điều 159 BLTTDS năm 2011 có hướng dẫn việc áp dụng thời hiệu như sau: “Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất), thì giải quyết như sau:

a) Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự thì áp dụng thời hiệu quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đối với loại giao dịch đó.

Ví dụ: Tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng cho thuê tài sản được xác định theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là 02 năm.

b) Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Ví dụ 1:
Ngày 01-01-2008, A cho B vay 500 triệu đồng, thời hạn vay là 1 năm. Đến ngày 01-01-2009, B không trả tiền gốc và tiền lãi. Đến ngày 03-4-2011, A khởi kiện yêu cầu buộc B trả lại khoản tiền gốc và tiền lãi. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.”
Mặc dù nghị quyết này hướng dẫn Điều 159 BLTTDS năm 2011 tuy nhiên thực tiễn xét xử vẫn áp dụng nội dung của nghị quyết này và hiện nay chưa có văn bản hay hướng dẫn nào mới của Hội đồng thẩm phán tòa án Tối cao thay thế nghị quyết này.

Do vậy, trong trường hợp phát sinh tranh chấp đòi nợ, kể cả tranh chấp thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa, xây dựng, cung ứng dịch vụ thì đều áp dụng nội dung nghị quyết này để khởi kiện đòi nợ và quan hệ đòi nợ trên đều không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Chúng tôi với nhiều năm kinh nghiệm giải quyết nhiều tranh chấp về đòi nợ liên quan đến tranh chấp về hợp đồng mua bán, hợp đồng vay, hợp đồng tín dụng, hợp đồng xây dựng mặc dù đã hết thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng nhưng quan hệ đòi nợ, thanh toán vẫn được tòa thụ lý giải quyết và trong trường hợp này nếu đủ căn cứ tòa sẽ chấp nhận yêu cầu đòi nợ. Đối với phần lãi phát sinh thì tòa không chấp nhận vì tòa xem xét thời hiệu khởi kiện 3 năm để bác yêu cầu tính lãi.

Như vậy, đối với việc đòi đòi nợ không áp dụng thời hiệu khởi kiện, nên quý khách hàng, người dân cứ yên tâm khởi kiện đòi nợ mà không phải lo lắng hết thời hiệu khởi kiện.

Trên đây là bài viết không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ. Để được chúng tôi tư vấn pháp luật cho thời hiệu khởi kiện quý khách hàng vui lòng liên hệ với công ty chúng tôi.

Send a message to learn more

21/01/2026
Công ty Luật QA & Cộng Sự khai trương văn phòng tại Số 34 Huỳnh Văn Lũy, Phường Phú Lợi, Thành Phố Hồ Chí Minh.Công ty c...
21/01/2026

Công ty Luật QA & Cộng Sự khai trương văn phòng tại Số 34 Huỳnh Văn Lũy, Phường Phú Lợi, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Công ty chân thành cảm ơn quý khách hàng và quý đồng nghiệp đã gửi hoa chúc mừng.

⚖️"Vụ án Lừa đảo Chiếm đoạt Tài sản Bất động sản Bình Dương"==========================================Bản án phúc thẩm s...
14/01/2026

⚖️
"Vụ án Lừa đảo Chiếm đoạt Tài sản Bất động sản Bình Dương"
==========================================

Bản án phúc thẩm số 425/2024/HS-PT tường thuật vụ án hình sự liên quan đến bị cáo Nguyễn Hữu T, người đã lợi dụng danh nghĩa Công ty T9 để thực hiện hàng loạt hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các giao dịch bất động sản giả mạo tại Bình Dương. Bằng cách đưa ra thông tin gian dối về các dự án không có thật hoặc không thuộc quyền sở hữu của mình, bị cáo đã chiếm đoạt hàng tỷ đồng tiền đặt cọc từ nhiều nạn nhân khác nhau.
Dù có các kháng cáo yêu cầu thu hồi quyền sử dụng đất và kháng nghị từ Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đã bác bỏ việc đòi lại hiện vật do các giao dịch chuyển nhượng sau đó được xác định là có căn cứ pháp lý riêng biệt.
Cuối cùng, tòa quyết định tăng hình phạt đối với bị cáo từ 13 năm lên 15 năm tù giam nhằm tương xứng với mức độ nghiêm trọng và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Ngoài trách nhiệm hình sự, bị cáo còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về mặt dân sự cho bà Trần Thị H cùng các bị hại khác với tổng số tiền lên đến nhiều tỷ đồng.
===========================================
⚖️ CÔNG TY LUẬT TNHH QA & CỘNG SỰ – ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ TIN CẬY ⚖️
===========================================
Bạn đang gặp vướng mắc về pháp lý? Bạn cần một đơn vị luật sư uy tín, tận tâm để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình?
Với đội ngũ luật sư thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, Công ty Luật TNHH QA & Cộng sự tự hào cung cấp dịch vụ pháp lý toàn diện trong các lĩnh vực: ✅ Đất đai & Thừa kế: Giải quyết tranh chấp, làm thủ tục pháp lý nhà đất. ✅ Hình sự & Dân sự: Bảo vệ quyền lợi tại tòa án các cấp. ✅ Doanh nghiệp: Tư vấn đầu tư, kinh doanh thương mại và quả
n trị rủi ro pháp lý cho đơn vị. ✅ Lao động & Hành chính: Giải quyết các khiếu nại, hợp đồng lao động.
🌟 Phương châm của chúng tôi: "Công lý của bạn, sự cam kết của chúng tôi". Chúng tôi không chỉ cung cấp dịch vụ, chúng tôi cam kết đồng hành cùng bạn trên mọi chặng đường pháp lý.
--------------------------------------------------------------------------
📞 LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN:

☎️ Hotline: 0919 403 605 - 0988 78 39 78
🏚𝑻𝒓𝒖̣ 𝒔𝒐̛̉ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉: T12 -10, Manhattan, Vinhomes, Grand Park, P.Long Bình, TP.HCM.
📌Số 34 đường Huỳnh Văn Luỹ, Phường Phú Lợi, TP.HCM.
🌐𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.luatquocteqa.
--------------------------------------------------------------------------

10/01/2026

⚖️ CÔNG TY LUẬT QA & CỘNG SỰ - ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ TIN CẬY ⚖️

Bạn đang gặp vướng mắc về pháp lý? Bạn cần một đơn vị luật sư uy tín, tận tâm để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình?

Với đội ngũ luật sư thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, Công ty Luật TNHH QA & Cộng sự tự hào cung cấp dịch vụ pháp lý toàn diện trong các lĩnh vực:
✅ Đất đai & Thừa kế: Giải quyết tranh chấp, làm thủ tục pháp lý nhà đất.
✅ Hình sự & Dân sự: Bảo vệ quyền lợi tại tòa án các cấp.
✅ Doanh nghiệp: Tư vấn đầu tư, kinh doanh thương mại và quản trị rủi ro pháp lý cho đơn vị.
✅ Lao động & Hành chính: Giải quyết các khiếu nại, hợp đồng lao động.
🌟 Phương châm của chúng tôi: "Công lý của bạn, sự cam kết của chúng tôi". Chúng tôi không chỉ cung cấp dịch vụ, chúng tôi cam kết đồng hành cùng bạn trên mọi chặng đường pháp lý.
--------------------------------------------------------------------------
📞 LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN:
☎️ Hotline: 0919 403 605 - 0988 78 39 78
🏚𝑻𝒓𝒖̣ 𝒔𝒐̛̉ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉: T12 -10, Manhattan, Vinhomes, Grand Park, P.Long Bình, TP.HCM.
📌VPGD: Số 34, Huỳnh Văn Luỹ, P.Phú Lợi, TP.HCM.
🌐𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.luatquocteqa.com
--------------------------------------------------------------------------

Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến vụ tranh chấp hợp đồng mua bán công...
10/01/2026

Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến vụ tranh chấp hợp đồng mua bán công ty.
Vụ kiện bắt nguồn từ việc bà Hoàng Thị Mỹ P khởi kiện ông Quách Trương Minh N và bà Nguyễn Thị Vân A sau khi phát hiện các vấn đề giải phóng mặt bằng chưa hoàn tất tại dự án khu nhà ở.
Tòa án xác định hợp đồng này vô hiệu vì vi phạm quy định pháp luật về chuyển nhượng dự án bất động sản cho cá nhân.
Kết quả cuối cùng, hội đồng xét xử quyết định bác đơn kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Theo đó, các bị đơn có nghĩa vụ phải hoàn trả tiền đặt cọc cho nguyên đơn với tổng số tiền là 4,5 tỷ đồng. Các văn bản này cung cấp cái nhìn toàn diện về quy trình tố tụng, lập luận pháp lý và phán quyết chính thức của cơ quan tư pháp

🔯LUẬT SƯ QA & CỘNG SỰ – 𝐆𝐈𝐀̉𝐈 𝐏𝐇𝐀́𝐏 𝐏𝐇𝐀́𝐏 𝐋𝐘́ 𝐂𝐇𝐎 MỌI QUÝ KHÁCH

▶️Dân sự
▶️Hình sự
▶️Hành chính
▶️Đất đai
▶️Kinh doanh thương mại
▶️Tư vấn đầu tư doanh nghiệp
▶️Tranh chấp lao động
▶️Tranh chấp thừa kế
▶️Tách thửa, sang tên
▶️Xử lý di chúc và phân chia di sản
▶️Xử lý các hành vi bạo lực gia đình hoặc mâu thuẫn nghiêm trọng
▶️Hiểu luật giúp bạn bảo vệ giá trị gia đình theo cách đúng đắn nhất.

✳️LUẬT QA & CỘNG SỰ – Tận Tâm – Chuyên Nghiệp – Uy Tín
💗CÔNG TY LUẬT QA & CỘNG SỰ - Công lý của bạn, Sự cam kết của chúng tôi.

☎𝑯𝒐𝒕𝒍𝒊𝒏𝒆: 0919 403 605 & 0988 78 39 78

🌐𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.luatquocteqa.com
🏚𝑻𝒓𝒖̣ 𝒔𝒐̛̉ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉: T12 -10, Manhattan, Vinhomes, Grand Park, P.Long Bình, TP.HCM.
📌Số 34 đường Huỳnh Văn Luỹ, Phường Phú Lợi, TP.HCM.

Án lệ số 10/2016/AL về quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân...
28/12/2025

Án lệ số 10/2016/AL về quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 08/2014/HC-GĐT ngày 19-8-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án hành chính “Khiếu kiện Quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất” tại tỉnh Vĩnh Long giữa người khởi kiện là bà Võ Thị Lựu với người bị kiện là Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 1 phần “Xét thấy” của quyết định giám đốc thẩm nêu trên.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Quyết định về việc phê duyệt phương án hỗ trợ và tái định cư của Ủy ban nhân dân tỉnh có nội dung dẫn chiếu đến văn bản khác mà văn bản đó có nội dung tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người khởi kiện.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, nội dung của văn bản được dẫn chiếu thuộc quyết định hành chính và quyết định hành chính đó là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

- Khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 28 Luật tố tụng hành chính năm 2010 (tương ứng với khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015);

- Các điều 41, 42 Luật đất đai năm 2003;

- Nghị định số 197/NĐ-CP ngày 03-12-2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Từ khóa của án lệ:

“Quyết định hành chính”; “Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính”; “Thu hồi đất”; “Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 07-4-2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định số 567/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể về bồi thuờng, hỗ trợ và tái định cư dự án xây dựng Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long tại xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm, có nội dung:

“Phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án xây dựng Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long:

Tổng diện tích đất dự kiến thu hồi: 122.909m2

Tổng giá trị bồi thường dự kiến: 7.342.730.000đ”.

Ngày 17-9-2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định số 1768/QĐ-UBND, nội dung: Thu hồi 117.863,lm2 đất tại xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm do hộ gia đình, cá nhân và tổ chức quản lý sử dụng để thực hiện dự án xây dựng trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh và giao cho Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm quyết định thu hồi đất.

Ngày 02-10-2008, Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm ban hành Quyết định số 2592/QĐ-UBND, nội dung: Thu hồi 2.353,1m2 đất của bà Võ Thị Lựu, chiết thửa số 222, loại đất trồng lúa thuộc tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Rạch Cốc, xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm để xây dựng trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 01-12-2008, Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Vũng Liêm tiến hành lập tờ khai và kiểm kê về nhà, đất, cây trồng và vật kiến trúc của các hộ bị ảnh hưởng giải tỏa thuộc dự án xây dựng Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh.

Ngày 15-5-2009, Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long có Tờ trình số 177/TTr.STC gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc xin phê duyệt phương án đền bù giải tỏa mặt bằng công trình Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long, theo đó hộ bà Lựu được bồi thường hỗ trợ về đất số tiền là 155.155.000đ (theo quyết định thì giá đất bồi thường cho bà Lựu với giá là 50.000đ/m2); bồi thường hỗ trợ về tài sản trên đất, ổn định cuộc sống và đào tạo nghề số tiền là 19.286.200đ; tổng số tiền là 174.441.200đ.

Ngày 04-6-2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định số 1216/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh tại xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm, nội dung:

“Điều 1. Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình: Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh, tại xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm;

1. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: 9.467.085.000đ, bao gồm:

- Giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất: 8.071.914.000đ

- Giá trị nhà và vật kiến trúc: 161.560.000đ

- Giá trị cây trồng: 273.152.000đ

- Các khoản hỗ trợ: 654.600.000đ

- Các phí khác (chi phí các hội đồng 2%, chi phí đo đạc): 305.859.000đ

2. Kinh phí: Trong tổng dự toán công trình do chủ đầu tư chi trả;

Điều 2. Căn cứ vào Điều 1 của Quyết định này, Giám đốc Sở Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Vũng Liêm có trách nhiệm:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm chỉ đạo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Vũng Liêm tổ chức chi trả bồi thường đúng theo quy định hiện hành của Nhà nước và giải phóng mặt bằng cho đơn vị thi công,

- Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm trước ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả các số liệu, khối lượng và đơn giá, trong tờ trình số 177/TTr.STC ngày 15/5/2009”.

Không đồng ý với quyết định nêu trên, bà Lựu có đơn khiếu nại yêu cầu nâng giá bồi thường.

Ngày 28-10-2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm ban hành Quyết định số 2023/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của bà Lựu.

Ngày 08-8-2011, bà Lựu có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long yêu cầu hủy Quyết định số 1216/QĐ-UBND ngày 04-6-2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với phần áp giá, bồi thường; yêu cầu giải quyết lại nâng giá bồi thường đất bằng với giá thị trường chuyển nhượng ở nơi có đất thu hồi.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2012/HC-ST ngày 18-12-2012, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Lựu.

Ngày 29-12-2012, bà Lựu có đơn kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 96/2013/HCPT ngày 25-4-2013, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2012/HCST ngày 18-12-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long và đình chỉ giải quyết vụ án.

Ngày 28-6-2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long có Công văn số 1816/UBND-NC và ngày 02-8-2013, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long có Công văn số 547/TAT-HC đề nghị giám đốc thẩm Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 05/2014/KN-HC ngày 05-3-2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 96/2013/HC-PT ngày 25-4-2013 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đổc thẩm hủy Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên và giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Theo Điều 2 của Quyết định số 1216/QĐ-UBND ngày 04-6-2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh có quy định “Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả các số liệu, khối lượng và đơn giá, trong tờ trình số 177/TTr.STC ngày 15-5-2009”. Theo Tờ trình 177/TTr ngày 15-5-2009 của Sở Tài chính có quy định phần bồi thường cụ thể cho hộ bà Lựu, nên phần phê duyệt đó tác động trực tiếp, cụ thể đến quyền và lợi ích của hộ bà Lựu, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Lựu về phần bồi thường hỗ trợ cho gia đình bà trong Quyết định số 1216/QĐ-UBND ngày 04-6-2009 là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét làm rõ mục đích của việc thu hồi đất để xây dựng trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long là cơ sở kinh tế của Nhà nước hay của tư nhân để làm cơ sở giải quyết bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của gia đình bà Lựu theo đúng quy định của pháp luật.

Bà Lựu kháng cáo yêu cầu được bồi thường về đất theo giá thị trường. Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét đơn kháng cáo của bà Lựu về vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất cho gia đình bà Lựu có đúng quy định của pháp luật không, nhưng lại cho rằng Quyết định số 1216/QĐ-UBND ngày 04-6-2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long là quyết định mang tính tổng thể, không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính nên đã xử hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2012/HC-ST ngày 18-12-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long và đình chỉ giải quyết vụ án là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hành chính.

Bởi các lẽ trên và căn cứ khoản 3 Điều 219, khoản 3 Điều 225, khoản 1, 2 Điều 227 Luật tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận Kháng nghị số 05/2014/KN-HC ngày 05-3-2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 96/2013/HC-PT ngày 25-4-2013 cùa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2012/HC-ST ngày 18-12-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Theo Điều 2 của Quyết định số 1216/QĐ-UBND ngày 04-6-2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Trại giống vật nuôi nông nghiệp tỉnh có quy định “Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả các số liệu, khối lượng và đơn giá, trong tờ trình số 177/TTr.STC ngày 15-5-2009”. Theo Tờ trình 177/TTr ngày 15-5-2009 của Sở Tài chính có quy định phần bồi thường cụ thể cho hộ bà Lựu, nên phần phê duyệt đó tác động trực tiếp, cụ thể đến quyền và lợi ích của hộ bà Lựu, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính”.

🌀LUẬT SƯ QA – GIẢI PHÁP PHÁP LÝ CHO MỌI KHÁCH HÀNG
▶️Dân sự
▶️Hình sự
▶️Hành chính
▶️Đất đai
▶️Kinh doanh thương mại
▶️Tư vấn đầu tư doanh nghiệp
▶️Tranh chấp lao động
▶️Tranh chấp thừa kế
▶️Tách thửa, sang tên
▶️Xử lý di chúc và phân chia di sản
▶️Xử lý các hành vi bạo lực gia đình hoặc mâu thuẫn nghiêm trọng
▶️Hiểu luật giúp bạn bảo vệ giá trị gia đình theo cách đúng đắn nhất.
LUẬT QA & CỘNG SỰ – Tận Tâm – Chuyên Nghiệp – Uy Tín
💗CÔNG TY LUẬT QA & CỘNG SỰ - Công lý của bạn, Sự cam kết của chúng tôi.
☎𝑯𝒐𝒕𝒍𝒊𝒏𝒆: 0919 403 605 & 0988 78 39 78
🌐𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.luatquocteqa.com
🏚𝑻𝒓𝒖̣ 𝒔𝒐̛̉ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉: T12 -10, Manhattan, Vinhomes, Grand Park, P.Long Bình, TP.HCM.
📌VPGD: Số 34 đường Huỳnh Văn Luỹ, Phường Phú Lợi, TP.HCM.

Án lệ số 05/2016/AL về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế”Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 0...
28/12/2025

Án lệ số 05/2016/AL về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế”
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” tại Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân với bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải (Cesar Trai Nguyen), chị Nguyễn Thị Thuý Phượng, bà Nguyễn Thị Bích Đào; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Xê, Nguyễn Chí Đạt (Danforth Chi Nguyen), Nguyễn Thuần Lý, Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Thị Thuý Loan, Phạm Thị Liên, Phạm Thị Vui, Trần Đức Thuận, Trần Thành Khang.

Khái quát nội dung của án lệ:

Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Khoản 1 Điều 5 và Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004;

Từ khóa của án lệ:

“Yêu cầu khởi kiện”; “Yêu cầu phản tố”; “Công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 18-7-2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân trình bày: Cha mẹ các bà là cụ Nguyễn Văn Hưng (chết năm 1978), cụ Lê Thị Ngự (chết năm 1992) có 06 người con là bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải, bà Nguyễn Thị Xuân, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn Chí Trai. Ông Trai có vợ là bà Ông Thị Mạnh và có 05 người con là anh Nguyễn Thuần Lý, anh Nguyễn Thuần Huy, chị Nguyễn Thị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966) và anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968). Tại Quyết định số 413/2008 ngày 31-3-2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố ông Trai, bà Mạnh, anh Thuần Huy, chị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968) là đã chết.

Căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng, Phường 4, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh do cụ Hưng, cụ Ngự nhận chuyển nhượng đất của ông Đào Thành Phụng năm 1953, đến năm 1966 thì hai cụ xây dựng nhà ở như hiện nay. Nhà đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, chỉ mới kê khai năm 1999. Cụ Hưng, cụ Ngự chết đều không để lại di chúc, căn nhà hiện nay do chị Nguyễn Thị Thuý Phượng là con ông Nguyễn Chí Trải đang quản lý. Quá trình quản lý, chị Phượng cho bà Nguyễn Thị Bích Đào thuê một phần căn nhà để làm lò bánh mì. Khi chị Phượng ở đây có sửa chữa nhà nhưng không đáng kể. Vợ chồng ông Trải không có đóng góp gì vào việc xây dựng và sửa chữa vì ông Trải đi cải tạo, còn bà Tư vợ ông Trải không có nghề nghiệp, con còn bé không có thu nhập để có tiền đóng góp. Nếu chị Phượng có chứng cứ chứng minh chi phí sửa chữa và yêu cầu thì các bà sẽ trả.

Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế căn nhà này theo quy định của pháp luật và xin được nhận nhà, hoàn lại bằng tiền cho các thừa kế khác. Chị Phượng không thuộc diện thừa kế nên phải trả lại nhà, không đồng ý hỗ trợ chị Phượng đi nơi khác.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thuý Phượng trình bày: Chị thống nhất về quan hệ gia đình. Cha chị là ông Nguyễn Chí Trải, mẹ chị là bà Nguyễn Thị Tư có 03 người con gồm chị, anh Nguyễn Chí Đức, chị Nguyễn Thị Thuý Loan (anh Đức, chị Loan hiện sống ở Canada). Căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng là của ông bà nội chị mua từ năm 1953, khi đó là nhà ngói, vách ván. Năm 1955, cha chị kết hôn với mẹ chị và cha mẹ chị ở tại căn nhà này. Năm 1978 cha chị xuất cảnh sang Mỹ, mẹ chị chết năm 1980. Chị sống tại căn nhà này từ nhỏ đến nay, đã sửa chữa nhà nhiều lần như làm cửa nhôm, xây tường phần gác lửng, lát gạch men sân thượng, xây tường phía sau nhà. Chị có phần thừa kế của cha chị vì năm 2006 cha chị đã lập tờ cho đứt chị tài sản thừa kế ở Việt Nam nên chị được phần thừa kế mà cha chị được hưởng của cụ Hưng, cụ Ngự. Chị không đồng ý yêu cầu của các nguyên đơn, vì thời hiệu chia thừa kế đã hết, hiện tại chị và 02 con của chị đang sống tại căn nhà này. Chị có cho bà Nguyễn Thị Bích Đào thuê một phần nhà làm lò bánh mì, chị và bà Đào sẽ tự giải quyết với nhau về việc thuê nhà.

Bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải trình bày: Tại văn bản ngày 14-10-2009, ông Trải có đơn đề nghị có nội dung ngày 25-4-2006 ông có giấy cho đứt tài sản thừa kế của ông cho chị Phượng được hưởng phần tài sản thừa kế mà ông được hưởng của cha mẹ tại Việt Nam, nay ông xin huỷ bỏ văn bản trên và bằng văn bản này ông xin uỷ quyền cho bà Thưởng, bà Xuân thay mặt ông tại Tòa án, khi Tòa xét xử xong phần tài sản thừa kế của ông xin được trao hết cho con trai ông là anh Nguyễn Chí Đức hiện cư trú tại Canada.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22-4-2010, ông Trải có Đơn tường trình nội dung ông không đồng ý chia thừa kế nhà 263 Trần Bình Trọng mà giao cho chị Phượng tiếp tục trông nom để ở, ông và vợ ông đã có công sức đóng góp tiền của vào căn nhà này. Nhưng đến ngày 14-7-2010, ông Trải lại có văn bản có nội dung ông cho con trai là anh Nguyễn Chí Đức phần tài sản ông được nhận thừa kế của cha mẹ. Ngày 11-3-2011, ông Trải có Tờ tường trình nội dung ông đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm, ông không kháng cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Trinh (là con cụ Hưng, cụ Ngự) trình bày: Bà thống nhất như trình bày của các nguyên đơn về quan hệ gia đình và nguồn gốc tài sản. Năm 1966 nhà bị hư dột, cha mẹ bà có sửa lại nhà có sự đóng góp của các con trong đó có bà nhưng bà không yêu cầu phần bà đã đóng góp. Việc chị Phượng cho rằng cha mẹ chị và chị có đóng góp trong việc sửa chữa nhà là không đúng. Bà đề nghị kỷ phần thừa kế của bà giao cho bà Xuân, bà Thưởng quản lý; đề nghị bà Đào, chị Phượng trả lại nhà.

- Anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966), anh Nguyễn Thuần Lý trình bày: Cha mẹ các anh là ông Nguyễn Chí Trai, bà Ông Thị Mạnh cùng 03 người em của các anh đều đã chết trên biển khi vượt biên vào năm 1982. Các anh đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về việc chia thừa kế, xin được hưởng thừa kế tài sản của cụ Hưng, cụ Ngự và giao cho bà Thưởng, bà Xuân quản lý.

- Bà Nguyễn Thị Xê (là con của cụ Hưng, cụ Ngự) thống nhất với trình bày của các nguyên đơn về quan hệ gia đình và yêu cầu của các nguyên đơn, kỷ phần thừa kế bà được hưởng cho 02 con của bà là Phạm Thị Vui và Phạm Thị Liên.

- Lời khai của chị Nguyễn Thị Thuý Loan, anh Nguyễn Chí Đức theo giấy uỷ quyền lập ngày 21-5-2007 (đã được hợp pháp hoá lãnh sự) thì chị Loan, anh Đức ủy quyền cho chị Phượng quyết định mọi sự việc liên quan đến những tranh chấp hay phân chia tài sản và nhà đất bên Việt Nam (Giấy ủy quyền này do chị Phượng xuất trình theo đơn của chị Phượng đề ngày 25-3-2011, sau khi xét xử sơ thẩm).

Chị Loan có đơn (kèm theo văn bản uỷ quyền) có nội dung xin vắng mặt phiên toà ngày 13-8-2009. Về tài sản tranh chấp cha mẹ chị có tiền đóng góp, còn các cô chú khác không đóng góp gì. Sau năm 1975, mọi người đi hết, chỉ còn mình chị Phượng ở với ông bà, đề nghị Tòa cho chị Phượng ở lại nhà đất tranh chấp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày 18-11-2009, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Xác định nhà đất tại 263 Trần Bình Trọng là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Hưng, cụ Lê Thị Ngự; mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 10.655.687.000: 6 =1.775.947.800 đồng.

- Buộc mẹ con chị Phượng và bà Đào giao lại nhà đất tranh chấp cho bà Thưởng, bà Xuân. Bà Thưởng, bà Xuân có trách nhiệm trả cho các thừa kế khác bằng tiền mà họ được hưởng.

- Ghi nhận việc ông Nguyễn Chí Trải cho con là anh Nguyễn Chí Đức được nhận kỷ phần thừa kế của ông.

Ngày 30-11-2009, chị Nguyễn Thị Thuý Phượng có đơn kháng cáo có nội dung cho rằng cụ Hưng, cụ Ngự chết đã quá 10 năm nên thời hiệu khởi kiện về thừa kế không còn.

Ngày 15-3-2011, chị Phượng có đơn kháng cáo bổ sung nội dung:

- Cha chị là ông Trải không đồng ý chia và đồng ý cho chị quản lý căn nhà này. Các đồng thừa kế không có văn bản xác nhận nhà tranh chấp là tài sản chung chưa chia. Cha mẹ chị và các con trong đó có chị đã sống ổn định hơn 50 năm tại căn nhà này, đã bảo quản, giữ gìn căn nhà nhưng nay lại buộc mẹ con chị phải ra khỏi nhà là không thấu tình đạt lý.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 116/2011/DS-PT ngày 10-5-2011, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Ngày 16-6-2011, chị Nguyễn Thị Thuý Phượng có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 158/2014/KN-DS ngày 06-5-2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày 18-11-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Hưng (chết năm 1978), cụ Lê Thị Ngự (chết năm 1992) có 06 người con gồm bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải, bà Nguyễn Thị Xuân, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn Chí Trai. Vợ chồng ông Nguyễn Chí Trai, bà Ông Thị Mạnh có 05 người con là anh Nguyễn Thuần Lý, anh Nguyễn Thuần Huy, chị Nguyễn Thị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966), anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968). Ông Trai, bà Mạnh, anh Huy, chị Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968) bị tuyên bố chết ngày 31-3-2008 theo Quyết định số 413/2008 ngày 31-3-2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cụ Hưng, cụ Ngự chết đều không để lại di chúc. Các con của hai cụ và chị Phượng (con ông Trải) đều thừa nhận căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng, Phường 4, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh do cụ Hưng, cụ Ngự nhận chuyển nhượng của ông Đào Thành Phụng năm 1953 là tài sản của hai cụ tạo lập, hiện tại đang do chị Phượng quản lý, sử dụng.

Năm 2008, bà Xuân, bà Thưởng khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Hưng, cụ Ngự để lại.

Các đương sự đều xác định ông Trải định cư tại Mỹ trước ngày 01-7-1991. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của cụ Hưng vẫn còn là có cơ sở. Đối với di sản của cụ Ngự thì đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, nhưng ông Trải và các đồng thừa kế của hai cụ đều thừa nhận di sản của cụ Ngự là tài sản chung của các thừa kế chưa chia và đều nhất trí chia đều cho các thừa kế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ tiểu mục a điểm 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình để chia phần di sản của cụ Ngự cho các thừa kế là có căn cứ.

Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có chị Phượng. Như vậy, chị Phượng được hưởng một phần tài sản của mẹ là bà Tư, nhưng ông Trải đã định đoạt toàn bộ kỷ phần thừa kế mà ông được hưởng của cụ Hưng cho anh Đức là chưa đúng.

Chị Phượng sinh năm 1953 và các đương sự xác định chị Phượng ở tại nhà của ông, bà từ nhỏ đến nay. Từ năm 1982, chị Phượng đã là chủ hộ khẩu tại nhà đất này, cụ Ngự còn sống nhưng ở nơi khác, bà Thưởng chuyển hộ khẩu về tại đây từ năm 1979 nhưng không ở đây, nên chị Phượng đã trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất tranh chấp từ sau khi cụ Ngự chết đến nay. Các đương sự khác đều có nơi ở ổn định nơi khác. Khi chia thừa kế và tài sản chung, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét tạo điều kiện cho chị Phượng có chỗ ở mà buộc chị Phượng phải giao lại nhà cho các nguyên đơn trong đó có phần quyền tài sản chị Phượng được hưởng thừa kế của mẹ là bà Tư là chưa phù hợp.

Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297, khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011;

QUYẾT ĐỊNH

Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 116/2011/DS-PT ngày 10-5-2011 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày 18-11-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân với bị đơn là chị Nguyễn Thị Thuý Phượng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có chị Phượng.

Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.”.

🌀LUẬT SƯ QA – GIẢI PHÁP PHÁP LÝ CHO MỌI KHÁCH HÀNG

▶️Dân sự
▶️Hình sự
▶️Hành chính
▶️Đất đai
▶️Kinh doanh thương mại
▶️Tư vấn đầu tư doanh nghiệp
▶️Tranh chấp lao động
▶️Tranh chấp thừa kế
▶️Tách thửa, sang tên
▶️Xử lý di chúc và phân chia di sản
▶️Xử lý các hành vi bạo lực gia đình hoặc mâu thuẫn nghiêm trọng
▶️Hiểu luật giúp bạn bảo vệ giá trị gia đình theo cách đúng đắn nhất.

LUẬT QA & CỘNG SỰ – Tận Tâm – Chuyên Nghiệp – Uy Tín
💗CÔNG TY LUẬT QA & CỘNG SỰ - Công lý của bạn, Sự cam kết của chúng tôi.
☎𝑯𝒐𝒕𝒍𝒊𝒏𝒆: 0919 403 605 & 0988 78 39 78
🌐𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.luatquocteqa.com
🏚𝑻𝒓𝒖̣ 𝒔𝒐̛̉ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉: T12 -10, Manhattan, Vinhomes, Grand Park, P.Long Bình, TP.HCM.
📌VPGD: Số 34 đường Huỳnh Văn Luỹ, Phường Phú Lợi, TP.HCM.

Address

Số 34, Đường Huỳnh Văn Lũy, P. Phú Lợi
Ho Chi Minh City
75110

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 11:30

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật QA & Cộng Sự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share