VHP LAWYERS

VHP LAWYERS VISION - HONOR - PROSPERITY
(1)

Những Tín Hiệu Tích Cực Cho Người Mua Nhà, Đất Trong Thời Gian Tới Nhìn Từ Nghị Quyết 229/NQ-CP.1- Chủ đầu tư sẽ buộc ph...
21/08/2026

Những Tín Hiệu Tích Cực Cho Người Mua Nhà, Đất Trong Thời Gian Tới Nhìn Từ Nghị Quyết 229/NQ-CP.

1- Chủ đầu tư sẽ buộc phải công khai dự án có đang thế chấp ngân hàng, tranh chấp hay không.
2- Niên hạn chung cư không đồng nghĩa với sở hữu có thời hạn — hai khái niệm khác nhau.
3 - Đất nền trong đô thị sẽ khan hiếm dần.
4- Người bị thu hồi đất có thể được ưu tiên mua nhà ngay trên khu vực đã thu hồi.
5- Cửa khai giá thấp trong hợp đồng đang hẹp lại và rủi ro không giảm.
Xem chi tiết tại: https://vhplawyers.com/nhung-tin-hieu-tich-cuc-cho-nguoi-mua-nha-dat-trong-thoi-gian-toi-nhin-tu-nghi-quyet-229-nq-cp/

Nghị Quyết 229/NQ-CP ngày 13/8/2026  Những Vấn Đề Chủ Đầu Tư Nên Lưu Tâm😎1- Cơ chế gỡ "dự án da beo" — Nhà nước thu hồi ...
21/08/2026

Nghị Quyết 229/NQ-CP ngày 13/8/2026 Những Vấn Đề Chủ Đầu Tư Nên Lưu Tâm
😎
1- Cơ chế gỡ "dự án da beo" — Nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại khi đã thỏa thuận được phần lớn
2- Niên hạn căn hộ chung cư — không đồng nghĩa với sở hữu có thời hạn, cần phân biệt rõ
3- Chế tài với đất bỏ hoang đến từ 2026, thuế đến từ 2027
4- Cơ chế đặc thù cho vướng mắc lịch sử — nhưng "không hợp thức hóa các hành vi vi phạm"
5- Chưa rõ định hướng xử lý chuyển tiếp dự án đang làm dở thủ tục khi Luật mới có hiệu lực

Xem chi tiết tại: https://vhplawyers.com/nghi-quyet-229-nq-cp-nhung-dieu-chu-dau-tu-nen-luu-tam/

XÁC NHẬN HOÀN THÀNH NGHĨA VỤ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Khi thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp để hoàn tất thủ tục xác nhậ...
11/08/2026

XÁC NHẬN HOÀN THÀNH NGHĨA VỤ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU

Khi thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp để hoàn tất thủ tục xác nhận không nợ/đã hoàn thành nghĩa vụ thuế thì Doanh nghiệp cần có xác nhận của Hải Quan về việc không nợ thuế xuất xuất nhập khẩu.

Việc xác nhận của Hải Quan có thể trên cơ sở trả lời Văn bản của Cơ quan Thuế hoặc Văn bản của Doanh nghiệp (theo mẫu).

Để chủ động Doanh nghiệp chỉ cần quét QR ở hình và điền thông tin hoặc tải bản word về tự điền và gửi bưu điện, việc này CÓ THỂ hỗ trợ quá trình xác nhận hoàn tất nghĩa vụ thuế tại Cơ quan Thuế được nhanh chóng hơn.

Xin lưu ý rằng, hình chụp kèm theo bên dưới do người viết nhìn thấy từ sự chia sẻ của các hội/nhóm. Người viết đã thử truy cập và điền thông tin để kiểm chứng và kết quả là xuất được file PDF (tải file Word chưa thử). Tuy nhiên, tại thời điểm Quý vị thao tác, link có thể không còn hữu dụng, nếu điều đó sảy ra là ngoài mong muốn và khả năng kiểm soát của người viết.

Thân ái!😘

⚖️ THẮNG KIỆN TRỌNG TÀI RỒI, NHƯNG SỔ ĐỎ VẪN ĐỨNG TÊN NGƯỜI KHÁC – XỬ LÝ SAO?Một tình huống nhiều doanh nghiệp có thể gặ...
28/07/2026

⚖️ THẮNG KIỆN TRỌNG TÀI RỒI, NHƯNG SỔ ĐỎ VẪN ĐỨNG TÊN NGƯỜI KHÁC – XỬ LÝ SAO?
Một tình huống nhiều doanh nghiệp có thể gặp:
Bạn chuyển nhượng đất cho đối tác. Đối tác đã sang tên sổ đỏ. Sau đó tranh chấp, hai bên ra Trọng tài thương mại. Trọng tài phán: hợp đồng vô hiệu, trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Câu hỏi: 👉 Sổ đỏ đang đứng tên bên kia, làm sao đưa về lại tên bạn?
Từ ngày 01/7/2026, Án lệ số 90/2026/AL của Tòa án nhân dân tối cao có hiệu lực, và nó khiến câu hỏi này trở nên đáng lưu ý hơn bao giờ hết.
Án lệ xác định: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – kể cả việc cập nhật sang tên trên sổ – mang bản chất “quyết định hành chính”, và chỉ TÒA ÁN mới có thẩm quyền hủy.
Điều này có nghĩa: ✅ Nếu ra Tòa án: kết quả có đường đi trọn vẹn đến khâu chỉnh lý sổ. ⚠️ Nếu ra Trọng tài: trọng tài giải quyết được hợp đồng và việc hoàn trả giữa hai bên, nhưng khâu điều chỉnh lại thông tin trên sổ đỏ có thể gặp vướng.
Điều này KHÔNG có nghĩa trọng tài mất giá trị – trọng tài vẫn nhanh, kín, chuyên môn cao. Vấn đề là cách phối hợp giữa phán quyết trọng tài và thủ tục đất đai còn cần được hướng dẫn rõ hơn.
Nếu doanh nghiệp của bạn đang có hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất, hoặc đang cân nhắc chọn trọng tài hay tòa án khi có tranh chấp – đây là điều nên lưu ý ngay từ khâu soạn hợp đồng.
📖 Phân tích chi tiết: [link ở comment 👇]

Người Phụ Thuộc Mà Người Nộp Thuế Có Trách Nhiệm Nuôi Dưỡng Bao Gồm Những Ai?Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/...
13/07/2026

Người Phụ Thuộc Mà Người Nộp Thuế Có Trách Nhiệm Nuôi Dưỡng Bao Gồm Những Ai?

Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 hướng dẫn thi hành Luật Thuê thu nhập cá nhân 2025, theo đó quy định:
1 - Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng như sau:
a) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật, con riêng của vợ, con riêng của chồng) dưới 18 tuổi;
b) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên trong các trường hợp sau: người mất năng lực hành vi dân sự; người khuyết tật; người không có khả năng lao động;
c) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12), không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức thu nhập quy định do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định;
d) Vợ hoặc chồng của người nộp thuế; cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha nuôi, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế;
đ) Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng, bao gồm anh ruột, chị ruột, em ruột của người nộp thuế; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người nộp thuế; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của người nộp thuế; cháu ruột của người nộp thuế; người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
Người phụ thuộc quy định tại điểm này là cá nhân đang sống cùng người nộp thuế và người nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 104, 105 và 106 của Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật liên quan khác.
2 - Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
b) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Người không có khả năng lao động quy định tại Điều này là người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên xác định theo quy định của pháp luật.
3 - Người nộp thuế tự đăng ký số lượng người phụ thuộc kèm theo giấy tờ hợp pháp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc đăng ký, thu nhập của người phụ thuộc.

Lưu ý: Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa, có thể tồn tại lỗi chính tả do việc sử dụng AI.
Nội dung bên trên chỉ tóm lược và mang tính chất tham khảo. Hãy liên hệ VHP Lawyers để được hướng dẫn, tư vấn cụ thể.

ĐƯỢC ỦY QUYỀN KÝ HỢP ĐỒNG MUA BÁN BẤT ĐỘNG SẢN CÓ PHẢI CHỊU THUẾ THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN KHÔNG ?1. Đặt vấ...
08/07/2026

ĐƯỢC ỦY QUYỀN KÝ HỢP ĐỒNG MUA BÁN BẤT ĐỘNG SẢN CÓ PHẢI CHỊU THUẾ THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN KHÔNG ?

1. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn giao dịch bất động sản, việc chủ sở hữu lập "Hợp đồng ủy quyền" cho một cá nhân khác thay mặt mình thực hiện các thủ tục, đàm phán và ký kết hợp đồng chuyển nhượng là rất phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người nhận ủy quyền thường băn khoăn rằng: Mình chỉ là người đi ký thay, làm thủ tục thay thì có phát sinh nghĩa vụ nộp thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) hay không?
Dưới góc độ pháp luật về Thuế, việc xác định nghĩa vụ thuế không chỉ phụ thuộc vào tên gọi của Hợp đồng mà dựa trên bản chất của giao dịch và quyền hạn thực tế của người được ủy quyền.

2. Người được ủy quyền có phải chịu thuế không?
Căn cứ vào Điều 11 và điểm b khoản 6 Điều 57 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, pháp luật chia hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng bất động sản thành 02 trường hợp với nghĩa vụ thuế hoàn toàn khác nhau đối với người nhận ủy quyền:

Trường hợp 1: Ủy quyền thuần túy (Người được ủy quyền chỉ nhận thù lao)
• Bản chất: Đây là trường hợp người nhận ủy quyền chỉ thay mặt chủ sở hữu đi làm các thủ tục hành chính, giấy tờ, tìm kiếm khách hàng, đại diện ký hợp đồng chuyển nhượng... mà không có quyền định đoạt, chiếm hữu hay hưởng lợi từ số tiền bán bất động sản đó. Đổi lại, họ được chủ tài sản trả một khoản tiền công, tiền thù lao dịch vụ.
• Nghĩa vụ thuế: Đoạn 2, điểm b khoản 6 Điều 57 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định rõ: "Đối với các hình thức ủy quyền chuyển nhượng bất động sản mà người nhận ủy quyền chỉ nhận thù lao, không có đầy đủ nội dung như quyền sở hữu đối với bất động sản... thì thực hiện nộp thuế theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này".
• Kết luận 1: Trong trường hợp này, người được ủy quyền KHÔNG phải nộp thuế TNCN từ việc chuyển nhượng bất động sản (khoản thuế 2% giá trị chuyển nhượng do chủ sở hữu gốc nộp). Tuy nhiên, người được ủy quyền PHẢI nộp thuế TNCN đối với khoản thù lao nhận được. Khoản thù lao này được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công (căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 8 của Nghị định).

Trường hợp 2: Ủy quyền định đoạt (Người được ủy quyền có đầy đủ quyền như chủ sở hữu)
• Bản chất: Hợp đồng ủy quyền trao cho người nhận ủy quyền toàn quyền: quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, thế chấp, định đoạt giá bán và toàn quyền giữ lại số tiền bán được. Đây thường là hình thức "mua bán ngầm" (đầu tư lướt sóng) để người mua tránh việc sang tên đổi chủ, né thuế trước bạ và thuế TNCN.
• Nghĩa vụ thuế: Theo Điều 11 và đoạn 1 điểm b khoản 6 Điều 57 Nghị định này, pháp luật Thuế xác định hoạt động ủy quyền này mang bản chất chuyển nhượng. Khi lập hợp đồng ủy quyền, người nộp thuế là cá nhân ủy quyền (chủ cũ nộp thuế TNCN 2%). Đồng thời, đối với người nhận ủy quyền, khi họ sử dụng hợp đồng ủy quyền này để chính thức ký hợp đồng bán bất động sản cho một bên thứ ba (họ thu tiền và hưởng lợi như chủ sở hữu), pháp luật xác định họ đang có thu nhập từ lần chuyển nhượng tiếp theo. Do đó, người nhận ủy quyền PHẢI kê khai và nộp thuế TNCN (2% giá chuyển nhượng) cho hành vi bán tài sản này.
• Kết luận 2: Nếu nhận ủy quyền "toàn quyền" và đại diện bán cho bên thứ ba, người được ủy quyền CÓ phải chịu thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản. Việc lạm dụng hình thức này để "né thuế" có thể dẫn đến rủi ro cơ quan Thuế áp dụng nghiệp vụ truy thu thuế 2 lần (một lần của người ủy quyền và một lần của người được ủy quyền).

3. Lưu ý về các trường hợp ủy quyền, chuyển nhượng được miễn thuế
Pháp luật có cơ chế miễn thuế nhằm hỗ trợ các giao dịch mang tính chất nội bộ gia đình ruột thịt. Căn cứ khoản 1 Điều 18 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thu nhập từ chuyển nhượng (bao gồm cả ủy quyền định đoạt bất động sản) sẽ được miễn thuế TNCN nếu thực hiện giữa:
• Vợ với chồng;
• Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi;
• Cha chồng, mẹ chồng với con dâu (kể cả khi chồng chết); cha vợ, mẹ vợ với con rể (kể cả khi vợ chết);
• Ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại;
• Anh, chị, em ruột với nhau.

Lưu ý về thủ tục: Ngay cả khi thuộc diện được miễn thuế, cá nhân vẫn bắt buộc phải thực hiện kê khai thuế đối với từng lần phát sinh giao dịch và nộp kèm các giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân (sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, đăng ký kết hôn...). Cơ quan Thuế sẽ căn cứ vào hồ sơ để thẩm định và ra quyết định thông báo miễn thuế hợp lệ. Nếu tự ý bỏ qua bước kê khai, người giao dịch có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về thủ tục thuế.

4. Tổng kết
Đối với câu hỏi: "Được ủy quyền ký hợp đồng mua bán bất động sản có phải chịu thuế không?" - Câu trả lời là CÓ PHẢI CHỊU THUẾ. Tùy thuộc vào phạm vi quyền hạn được ghi trong Hợp đồng ủy quyền, bạn sẽ phải nộp:
1. Thuế TNCN từ tiền lương/tiền công: Nếu bạn chỉ ký thay, làm thủ tục thay và nhận khoản thù lao công sức.
2. Thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản: Nếu bạn nhận ủy quyền có đầy đủ quyền định đoạt tài sản như chủ sở hữu và ký bán tài sản cho người khác để thu lợi.

Nội dung bài viết không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý chính thức và không thay thế cho các tư vấn chuyên nghiệp. Việc áp dụng pháp luật trên thực tế luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh, tình tiết cụ thể của từng hồ sơ vụ việc và sự đánh giá của cơ quan có thẩm quyền.

Người viết không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào đối với những rủi ro, tổn thất hoặc hệ quả phát sinh từ việc người đọc tự ý vận dụng các thông tin trong bài viết này vào các giao dịch, tranh chấp thực tiễn. Để đảm bảo an toàn pháp lý, khuyến nghị độc giả luôn tham vấn trực tiếp ý kiến của Luật sư, chuyên gia pháp lý hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra các quyết định hoặc thực hiện các giao dịch quan trọng.

CÓ ĐƯỢC ĐẶT CỌC, CHO THUÊ VÀ ỦY QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG THẾ CHẤP HAY KHÔNG?Trong thực tiễn, việc thực hiện các giao d...
07/07/2026

CÓ ĐƯỢC ĐẶT CỌC, CHO THUÊ VÀ ỦY QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG THẾ CHẤP HAY KHÔNG?

Trong thực tiễn, việc thực hiện các giao dịch đối với tài sản (như nhà, đất) đang được thế chấp tại ngân hàng diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, tính hợp pháp của các giao dịch như cho thuê, ủy quyền hay đặt cọc chuyển nhượng đối với những tài sản này thường là nguyên nhân dẫn đến nhiều băn khoăn và tranh chấp. Dựa trên hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp tại Công văn 4908/BTP-BTP ngày 1/7/2026 về hướng dẫn nghiệp vụ và tinh thần của Án lệ số 79/2025/AL1, bài viết dưới đây sẽ tóm lược một cách dễ hiểu nhất.

1. Quyền cho thuê tài sản đang thế chấp: Chỉ cần thông báo, không bắt buộc xin phép ngân hàng
Nhiều người quan niệm rằng khi tài sản đã được thế chấp, chủ tài sản sẽ không được phép cho thuê nếu chưa có sự đồng ý của ngân hàng. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên thế chấp hoàn toàn có quyền cho thuê, cho mượn tài sản của mình.
Pháp luật luôn đề cao nguyên tắc "tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận", do đó không bắt buộc phải có văn bản đồng ý của ngân hàng mới được quyền cho thuê. Điều kiện duy nhất đặt ra là chủ tài sản phải thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bên thuê và bên nhận thế chấp (ngân hàng) biết rõ về tình trạng tài sản đang bị thế chấp.
Lưu ý quan trọng: Trên thực tế, các hợp đồng thế chấp do ngân hàng soạn sẵn (hợp đồng theo mẫu) thường đưa vào điều khoản cấm hoặc hạn chế quyền cho thuê nếu không có văn bản chấp thuận của ngân hàng. Theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, nếu các điều khoản này mang tính chất miễn trừ trách nhiệm cho ngân hàng, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của người đi vay, thì khi xảy ra tranh chấp, Tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bên yếu thế (tức là bên không soạn thảo hợp đồng - bên đi vay).

2. Hợp đồng đặt cọc tài sản thế chấp: Giao dịch độc lập và có hiệu lực
Một vướng mắc phổ biến trên thực tế là việc người mua đặt cọc tiền để nhận chuyển nhượng tài sản đang "nằm" trong ngân hàng. Không ít trường hợp sau khi đặt cọc, người mua đổi ý và lấy lý do "tài sản đang thế chấp chưa giải chấp nên giao dịch vô hiệu" để đòi lại tiền.
Giải quyết vấn đề này, Án lệ số 79/2025/AL1 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra nguyên tắc xét xử:
• Tính độc lập của hợp đồng đặt cọc: Mục đích của hợp đồng đặt cọc là để bảo đảm các bên sẽ giao kết hợp đồng mua bán chính thức trong tương lai (sau khi tài sản được giải chấp). Bộ luật Dân sự không cấm giao dịch đặt cọc đối với tài sản đang thế chấp, do đó việc công chứng giấy đặt cọc không bắt buộc phải có văn bản đồng ý từ ngân hàng (trừ khi các bên có thỏa thuận khác).
• Bảo vệ sự tự nguyện: Nếu bên đặt cọc (người mua) đã biết rõ tài sản đang bị thế chấp nhưng vẫn tự nguyện thỏa thuận ký hợp đồng đặt cọc, thì giao dịch này được pháp luật công nhận là hợp pháp và có hiệu lực.
• Hệ quả khi vi phạm: Nếu sau đó người mua từ chối ký hợp đồng chuyển nhượng chính thức (vì những lý do như chê giá cao, đổi ý...), họ sẽ bị coi là vi phạm thỏa thuận và mất tiền cọc. Bên bán chỉ bị coi là có lỗi nếu đến hạn chót cam kết mà vẫn chưa hoàn thành việc giải chấp để sang tên tài sản cho bên mua.

3. Tính hợp pháp của giao dịch ủy quyền liên quan đến tài sản thế chấp
Bên cạnh đặt cọc, tư cách chủ thể trong việc ủy quyền giao dịch cũng được pháp luật làm rõ. Bộ luật Dân sự năm 2015 không có bất kỳ quy định nào hạn chế việc xác lập giao dịch ủy quyền đối với tài sản đang thế chấp.
Đặc biệt, trong giao dịch nhận tiền đặt cọc, Án lệ số 79/2025/AL1 xác định: Nếu người đứng ra ký giấy nhận tiền cọc không phải là chủ sở hữu (không đứng tên trên sổ đỏ), nhưng đã được chủ sở hữu ủy quyền hoặc đồng ý cho làm đại diện giao kết hợp đồng; đồng thời bên mua biết rõ điều này và không phản đối, thì người đại diện có đầy đủ tư cách chủ thể.
Hợp đồng đặt cọc trong trường hợp này vẫn phát sinh hiệu lực bắt buộc. Người mua không thể vin vào lý do "người nhận cọc không phải chủ đất" để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhằm thoái thác trách nhiệm và lấy lại tiền.

Kết luận
Có thể thấy, một tài sản dù đang bị thế chấp tại tổ chức tín dụng vẫn không bị "đóng băng" hoàn toàn các quyền giao dịch dân sự. Các hoạt động như cho thuê, ủy quyền hay nhận đặt cọc chuyển nhượng vẫn hợp pháp, miễn là các bên tham gia giao dịch bảo đảm tính trung thực, minh bạch thông tin và tuân thủ đúng nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận. Việc hiểu rõ bản chất pháp lý độc lập của các giao dịch này sẽ giúp người dân tự tin hơn, đồng thời bảo vệ tốt nhất quyền lợi chính đáng của mình trước những rủi ro tranh chấp.

Bài viết này được tổng hợp và biên soạn dựa trên các tài liệu pháp lý (Công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp và Án lệ số 79/2025/AL1) nhằm mục đích cung cấp thông tin, kiến thức pháp lý mang tính chất tham khảo chung.
Nội dung bài viết không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý chính thức và không thay thế cho các tư vấn chuyên nghiệp. Việc áp dụng pháp luật trên thực tế luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh, tình tiết cụ thể của từng hồ sơ vụ việc và sự đánh giá của cơ quan có thẩm quyền. Tác giả/Người viết không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào đối với những rủi ro, tổn thất hoặc hệ quả phát sinh từ việc người đọc tự ý vận dụng các thông tin trong bài viết này vào các giao dịch, tranh chấp thực tiễn. Để đảm bảo an toàn pháp lý, khuyến nghị độc giả luôn tham vấn trực tiếp ý kiến của Luật sư, chuyên gia pháp lý hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra các quyết định hoặc thực hiện các giao dịch quan trọng.

Cùng Thành Lập Công Ty Nhưng Không Góp Vốn Thì Đương Nhiên Mất Quyền Lợi ?Để trả lời câu hỏi trên, Chúng ta sẽ xem nội d...
03/07/2026

Cùng Thành Lập Công Ty Nhưng Không Góp Vốn Thì Đương Nhiên Mất Quyền Lợi ?

Để trả lời câu hỏi trên, Chúng ta sẽ xem nội dung Bản án số 46/2025/KDTM-PT ngày 7/5/2025 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM.
Tòa án nhân dân Cấp cao tại Tp.HCM đã hủy bản án sơ thẩm với những nhận định:
- Căn cứ Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty tại thời điểm thành lập thì phần vốn chưa góp đủ được coi là nợ của thành viên góp vốn đối với Công ty, thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn phần vốn cam kết góp mà không đương nhiên mất tư cách thành viên.
- Báo cáo tài chính, báo cáo thuế mà công ty nộp cho cơ quan thuế là chưa đầy đủ, cần thu thập chứng cứ chứng minh việc phân chia lợi nhuận hàng năm của công ty.
- Các tài liệu về việc phân chia lợi nhuận hàng năm do công ty năm giữ, nên nguyên đơn không thể tự mình thụ thập được; vì thế, Toà án cần phải thu thập tài liệu chứng cứ.
Các vấn đề rút ra từ bản án nêu trên:
1- Sự kiện mấu chốt quyết định bản chất vụ án
• Về tư cách thành viên: Ông Trần Hải L có tên trên Giấy chứng nhận ĐKKD liên tục từ năm 2005 đến nay (từ 50% xuống 20% vốn). Bị đơn (Công ty G1 và Giám đốc T1) cáo buộc ông L không góp vốn thực tế nên không công nhận tư cách thành viên, nhưng không cung cấp được chứng cứ, cũng chưa từng làm thủ tục pháp lý nào để xử lý phần vốn này.
• Về chia lợi nhuận và chứng cứ: Ông L đòi chia lợi nhuận 14 năm (2008-2021). Tuy nhiên, toàn bộ sổ sách, báo cáo tài chính do Bị đơn nắm giữ. Tòa sơ thẩm đã bác đơn của ông L vì cho rằng nguyên đơn "không đưa ra được chứng cứ chứng minh công ty có lãi".
2- Câu hỏi mấu chốt để giải quyết vụ án
• Về Nội dung: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty, việc một thành viên bị cáo buộc "chưa nộp đủ vốn" có làm họ đương nhiên mất tư cách thành viên khi tên họ vẫn nằm trên Giấy ĐKKD hợp pháp không?
• Về Tố tụng: Khi tài liệu chứng minh lợi nhuận hoàn toàn do một bên (bị đơn) nắm giữ, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải tự chứng minh công ty có lãi mà Tòa không tự mình đi thu thập chứng cứ là đúng hay sai?
3- Giải pháp của Tòa án
• Tòa Phúc thẩm viện dẫn Điều lệ Công ty cùng Luật DN: Vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ, người góp thiếu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chứ không đương nhiên mất tư cách thành viên.
• Tòa Phúc thẩm khẳng định Tòa sơ thẩm đã sai lầm. Căn cứ Khoản 2 Điều 97 BLTTDS, khi đương sự không thể tiếp cận chứng cứ (do bị đơn giữ), Tòa án bắt buộc phải tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ.
• Hủy bản án sơ thẩm, giao xét xử lại để Tòa sơ thẩm thực hiện đúng quy trình thu thập tài liệu tài chính và đưa ông N (người từng là thành viên giai đoạn đó) vào tham gia tố tụng.

Lưu ý: Nội dung bên trên được tóm tắt, phân tích từ Bản án số 46/2025/KDTM-PT ngày 7/5/2025 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM. Tòa án áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 cùng những căn cứ khác để giải quyết vụ án. Việc tóm tắt, phân tích chỉ với mục đích tham khảo phục vụ nghiên cứu mà không phục vụ bất kỳ mục đích nào khác. Đồng thời, nội dung bên trên cũng không là ý kiến của chúng tôi cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào.

Tự Bảo Vệ Quyền Lợi Khi Nhận Quyết Định Bồi Thường Chậm Trễ (Từ thực tiễn xét xử tại Bản án số 427/2019/HC-PT ngày 09/7/...
30/06/2026

Tự Bảo Vệ Quyền Lợi Khi Nhận Quyết Định Bồi Thường Chậm Trễ

(Từ thực tiễn xét xử tại Bản án số 427/2019/HC-PT ngày 09/7/2019 của TAND Cấp cao tại TP.HCM)

Trong quá trình triển khai các dự án, đôi khi vì những lý do khách quan cơ quan chức năng có thể đã ban hành Quyết định bồi thường, thu hồi đất nhưng một thời gian dài sau đó mới bàn giao và chi trả cho người dân. Điều này vô tình dẫn đến việc mức giá đền bù bị chênh lệch và không còn sát với thực tế.
Nếu bạn rơi vào trường hợp này, hãy tham khảo Bản án số 427/2019/HC-PT để ứng xử đúng luật, cùng cơ quan nhà nước tìm ra giải pháp thỏa đáng. Thông qua phán quyết của Tòa án, bạn cần nắm các nguyên tắc sau:

1. Thời hiệu khiếu nại được tính từ ngày "Thực nhận" quyết định. Nếu được giao một quyết định đã ký từ nhiều tháng hoặc nhiều năm trước, đừng vội lo lắng về việc "đã hết hạn khiếu nại". Tòa án đã làm rõ nguyên tắc Thời hạn để người dân thực hiện quyền khiếu nại (thường là 90 ngày) được bắt đầu tính từ ngày thực tế nhận được và ký nhận quyết định đó, chứ không phải tính từ ngày văn bản được ký ban hành. Quyền lợi khiếu kiện của bạn vẫn được pháp luật bảo lưu trọn vẹn.

2. Quyết định bồi thường cần được gửi/giao trực tiếp đến người dân.
Tòa án nhận định, theo quy định, cơ quan làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng có trách nhiệm "gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư" cho người có đất bị thu hồi. Việc cơ quan chức năng chỉ phát giấy mời, và nếu người dân chưa thể có mặt mà lập biên bản niêm yết vắng mặt tại trụ sở Ủy ban thì chưa đảm bảo tốt nhất quyền được tiếp cận thông tin của công dân.

3. Cơ chế bù đắp khi Nhà nước chậm chi trả tiền bồi thường.
Tòa án thấu hiểu rằng, việc chậm trễ bàn giao quyết định và chi trả tiền xuất phát từ lý do khó khăn nguồn vốn của dự án (hoàn toàn không phải do lỗi của người dân). Vì vậy, người dân không phải gánh chịu những thiệt thòi do trượt giá. Căn cứ theo Luật Đất đai (cụ thể như Điều 93 Luật Đất đai 2013), trong trường hợp Nhà nước chậm chi trả, cơ quan chức năng có trách nhiệm thanh toán thêm khoản tiền chậm nộp (tính theo tỷ lệ phần trăm/ngày trên số tiền chậm trả), hoặc xem xét điều chỉnh mức giá bồi thường sát với thời điểm thực tế bàn giao quyết định để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân.

Khi được mời lên trụ sở để nhận một Quyết định bồi thường đã được ký từ lâu với mức giá cũ, bạn hãy giữ thái độ bình tĩnh, hợp tác và thực hiện như sau:

I- Hợp tác nhận văn bản và cẩn trọng ghi chú ngày nhận thực tế
Không nên từ chối nhận quyết định. Việc tiếp nhận văn bản là cần thiết để có hồ sơ chính thức làm cơ sở xem xét và kiến nghị.
Khi ký vào Sổ giao nhận hoặc Biên bản làm việc, bạn hãy chủ động và lịch sự ghi chú thêm dòng chữ "Tôi thực nhận văn bản này vào ngày ... tháng ... năm ..." ngay cạnh chữ ký của mình. Việc này giúp chốt chính xác mốc thời gian minh bạch, bảo vệ quyền khiếu nại của bạn trong giới hạn luật định.

II- Thể hiện nguyện vọng một cách lịch sự vào biên bản
Nếu được yêu cầu nhận tiền ngay nhưng bạn thấy mức giá không còn phù hợp, hãy nhẹ nhàng, lịch sự trình bày quan điểm rõ ràng và ghi ý kiến vào biên bản làm việc.
Đề nghị làm rõ nguyên nhân chậm trễ bằng văn bản. Bạn có thể làm Đơn kiến nghị gửi đến cơ quan chức năng trả lời bằng văn bản về lý do dẫn đến sự chậm trễ bàn giao quyết định. Việc cơ quan nhà nước phản hồi lý do chậm trễ sẽ là cơ sở để bạn chứng minh mình không có lỗi, từ đó thuận lợi yêu cầu áp dụng chính sách hỗ trợ bổ sung.
II - Có quyền Khiếu nại/Khởi kiện theo luật và vận dụng "Tiền lệ xét xử"
Nếu quá trình đối thoại chưa mang lại kết quả thỏa đáng, bạn có quyền làm Đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND, hoặc Đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân.
Trong quá trình tiếp công dân, hòa giải hoặc đính kèm hồ sơ, bạn có thể photo Bản án số 427/2019/HC-PT của TAND Cấp cao tại TP.HCM và đề nghị Quý cơ quan tham khảo trong trường hợp có nội dung tương tự.

Lưu ý: Nội dung bên trên được tóm lược dựa trên Bản án số 427/2019/HC-PT ngày 09/7/2019 của TAND Cấp cao tại TP.HCM (https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta335072t1cvn/chi-tiet-ban-an). Việc tóm lược có sử dụng AI với mục đích tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu mà không phải là ý kiến tư vấn của tác giả cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào.

KÝ QUỸ ĐỂ MUA BĐS HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI DƯỚI GÓC NHÌN TỪ BẢN ÁN CỦA TÒA ÁNKhi mua nhà ở dự án, ở giai đoạn chưa đủ ...
29/06/2026

KÝ QUỸ ĐỂ MUA BĐS HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI DƯỚI GÓC NHÌN TỪ BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN

Khi mua nhà ở dự án, ở giai đoạn chưa đủ điều kiện mở bán, Chủ đầu tư (CĐT) yêu cầu khách hàng nộp tiền "Ký quỹ" qua ngân hàng để giữ chỗ.

Nhiều nhà đầu tư (NĐT) rỉ tai nhau rằng "Dự án chưa có giấy phép mà thu tiền là huy động vốn trái luật. Nếu đổi ý không mua nữa, cứ kiện ra Tòa là lấy lại được 100% tiền!"

Sự thật pháp lý có "Dễ ăn" như lời đồn? Có thực sự là CĐT đang lách luật? NĐT Có lấy lại được tiền không ?

Hãy tìm Bản án số 499/2025/DS-PT ngày 12/05/2025 của TAND TP.HCM để tìm ra câu trả lời!

Address

Quận 4
Ho Chi Minh City
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when VHP LAWYERS posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to VHP LAWYERS:

Shortcuts

Share