MITAL Legal - Tư vấn pháp luật

MITAL Legal - Tư vấn pháp luật Với bề dày năng lực thực chiến, MITAL Legal là đơn vị tư vấn và đại diện tố tụng hàng đầu trong các vụ việc về Thừa kế, Đất đai và Tranh chấp tài sản

𝗧𝗿𝗮𝗻𝗵 𝗰𝗵𝗮̂́𝗽 𝗱𝗶 𝘀𝗮̉𝗻 𝘁𝗵𝘂̛̀𝗮 𝗸𝗲̂́ - Đ𝘂̛̀𝗻𝗴 đ𝗲̂̉ 𝘁𝗮̀𝗶 𝘀𝗮̉𝗻 𝗹𝗮̀𝗺 𝗺𝗮̂́𝘁 đ𝗶 𝘁𝗶̀𝗻𝗵 𝘁𝗵𝐚̂𝗻Trong xã hội hiện đại, đất đai và tài ...
24/02/2026

𝗧𝗿𝗮𝗻𝗵 𝗰𝗵𝗮̂́𝗽 𝗱𝗶 𝘀𝗮̉𝗻 𝘁𝗵𝘂̛̀𝗮 𝗸𝗲̂́ - Đ𝘂̛̀𝗻𝗴 đ𝗲̂̉ 𝘁𝗮̀𝗶 𝘀𝗮̉𝗻 𝗹𝗮̀𝗺 𝗺𝗮̂́𝘁 đ𝗶 𝘁𝗶̀𝗻𝗵 𝘁𝗵𝐚̂𝗻

Trong xã hội hiện đại, đất đai và tài sản không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là kết tinh của cả một đời lao động. Thế nhưng, thực tế đau lòng cho thấy nhiều gia đình đang rơi vào mâu thuẫn gay gắt chỉ vì tranh chấp di sản thừa kế.

Không ít vụ việc xuất phát từ:
❗ Di chúc không hợp pháp
❗ Giả mạo chữ ký, che giấu thông tin tài sản
❗ Họp gia đình không minh bạch
❗ Thiếu hiểu biết pháp luật về quyền thừa kế

Hệ quả không chỉ là những phiên tòa kéo dài, mà còn là sự rạn nứt tình thân, thậm chí phát sinh xô xát, bạo lực.

Tại MITAL Legal, chúng tôi đồng hành cùng khách hàng bằng giải pháp toàn diện:

✅ Xác minh nguồn gốc và tình trạng pháp lý của di sản
✅ Thẩm định tính hợp pháp của di chúc
✅ Tư vấn chiến lược thương lượng – hòa giải hiệu quả
✅ Đại diện tố tụng bảo vệ quyền lợi tại Tòa án

Với kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực tranh chấp đất đai và thừa kế, chúng tôi không chỉ bảo vệ quyền lợi pháp lý mà còn hướng đến giải pháp bền vững, nhân văn.
-----
📩 Inbox ngay để được tư vấn sơ bộ.
MITAL Legal - Tư vấn pháp luật
Địa chỉ: TL08, Phường An Phú Đông, Tp. Hồ Chí Minh
Hotline: 0944.604.569

𝐇𝐨̂̃ 𝐭𝐫𝐨̛̣ 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐲́ đ𝐨̂̉𝐢 𝐭𝐞̂𝐧 𝐤𝐡𝐚𝐢 𝐬𝐢𝐧𝐡 - 𝐓𝐫𝐨̣𝐧 𝐠𝐨́𝐢, 𝐧𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐨́𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ đ𝐨̛𝐧 𝐠𝐢𝐚̉𝐧     Chúng tôi hiểu rằng có những lý ...
21/05/2024

𝐇𝐨̂̃ 𝐭𝐫𝐨̛̣ 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐲́ đ𝐨̂̉𝐢 𝐭𝐞̂𝐧 𝐤𝐡𝐚𝐢 𝐬𝐢𝐧𝐡 - 𝐓𝐫𝐨̣𝐧 𝐠𝐨́𝐢, 𝐧𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐨́𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ đ𝐨̛𝐧 𝐠𝐢𝐚̉𝐧

Chúng tôi hiểu rằng có những lý do khiến quý khách không mong muốn sử dụng tên hiện tại của mình. Tên xấu, không hợp phong thủy hoặc gây nhầm lẫn có thể làm bạn cảm thấy không thoải mái và muốn thay đổi. Để giúp quý khách thực hiện điều này, MITAL ATTORNEY sẽ có giải pháp đổi tên khai sinh cho bạn theo đúng quy định của pháp luật.
---------
MITAL Attorney & Law
26 Ung Văn Khiêm, Phường 26, Quận Bình Thạnh, HCM

𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐡𝐚̣̂𝐮 𝐪𝐮𝐚̉  𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐯𝐨̂ 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮1.1. Quy định chung về giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô h...
07/05/2024

𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐡𝐚̣̂𝐮 𝐪𝐮𝐚̉ 𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐯𝐨̂ 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮

1.1. Quy định chung về giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 131 BLDS. Khoản 1 Điều 131 là quy định có tính nguyên tắc chung cho việc xử lý hậu quả của giao dịch vô hiệu, đó là: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập”. Như vậy, khi hợp đồng vô hiệu là mọi thỏa thuận coi như không có, khác với trường hợp “chấm dứt hợp đồng” là trường hợp trước thời điểm chấm dứt hợp đồng thì hợp đồng có hiệu lực, các thỏa thuận của các bên vẫn có giá trị bắt buộc với các bên đến khi chấm dứt hợp đồng, việc thi hành đúng hợp đồng trước thời điểm chấm dứt hợp đồng phải được tôn trọng.

Khoản 2 Điều 131 BLDS quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận…Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”. Theo quy định của khoản 2 này thì việc trả lại hiện vật là ưu tiên, không thể trả bằng hiện vật thì mới trả tiền. Trong thực tế, nhiều khi tài sản không còn nguyên vẹn như khi giao nhưng tài sản chính vẫn còn thì vẫn phải trả, phải nhận, được bổ sung bằng việc thanh toán cho nhau những chi phí hợp lý. Đó là hướng xử lý phù hợp với nguyên tắc quy định ở khoản 1 Điều 131 BLDS.

Khoản 3 Điều 131 BLDS quy định: “Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó”. Đây là một quy định mới so với BLDS năm 2005. Khái niệm hoa lợi, lợi tức được quy định tại Điều 109 BLDS. Cần lưu ý phân biệt lợi tức là “khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản” với giá trị tăng thêm của tài sản do thị trường. Ví dụ: A bán một ngôi nhà cho B. B nhận nhà và trả đủ tiền mua nhà 5 tỷ đồng. B cho thuê nhà trong một năm được 150 triệu đồng. Sau một năm, A và B xác định hợp đồng mua bán nhà vô hiệu, giá nhà tăng lên là 7 tỷ đồng. Như vậy, lợi tức mà B được hưởng khi giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là 150 triệu đồng chứ không phải là chênh lệch giá nhà 2 tỷ đồng.

Khoản 4 Điều 131 BLDS quy định: “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Trong thực tiễn xét xử, việc xác định lỗi đang có một số nhầm lẫn. Lỗi là lỗi đối với thiệt hại nhưng cụ thể trong giao dịch vô hiệu thì thiệt hại là gì và xác định lỗi như thế nào. Thiệt hại vẫn xác định theo những quy định chung về xác định thiệt hại nhưng từ Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán thì thiệt hại từ giao dịch vô hiệu còn bao gồm chênh lệch giá tài sản từ thời điểm giao dịch đến thời điểm giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là hợp đồng chính vô hiệu nhưng những thỏa thuận về biện pháp bảo đảm có thể không vô hiệu nên Nghị quyết 01/2003 nêu trên đã quy định chỉ khi “không có đặt cọc và các bên không có thỏa thuận khác… thì thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch…”. Việc xác định lỗi cũng được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP. Từ giá trị pháp lý của giao dịch vô hiệu quy định ở khoản 1 Điều 131 cho thấy mọi thỏa thuận trong hợp đồng là không có giá trị ràng buộc (trừ các thỏa thuận về biện pháp bảo đảm) nên không thể xác định lỗi căn cứ vào những thỏa thuận trong hợp đồng. Lỗi được xác định là lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu chứ không phải là lỗi vi phạm hợp đồng.

Ví dụ: M trúng đấu giá một lô đất. Tuy M chưa trả tiền, chưa được giao đất, chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng ngày 15/01/2017 đã lập hợp đồng chuyển nhượng đất cho N với giá 5 tỷ đồng. Hợp đồng có điều khoản quy định N phải giao cho M 3 tỷ vào ngày 30/01/2017 và trả nốt 2 tỷ vào 30/6/2017. Thực tế, ngày 15/2/2017, N mới giao cho M 3 tỷ đồng và đến 30/9/2017 mới giao cho M đủ 5 tỷ đồng. M cho rằng N đã vi phạm hợp đồng, giá đất đã tăng, nên yêu cầu trả thêm tiền. N không đồng ý trả thêm tiền. Đến 15/01/2019, N khởi kiện, yêu cầu tuyên bố hợp đồng ngày 15/01/2017 vô hiệu, buộc M trả lại 5 tỷ đồng và bồi thường toàn bộ chênh lệch giá (giá đất ở thời điểm năm 2019 là 9 tỷ đồng). M đồng ý tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng không đồng ý bồi thường thiệt hại vì cho rằng N có lỗi vi phạm hợp đồng về thời gian trả tiền nên làm phát sịnh tranh chấp.

Đây là trường hợp hợp đồng vô hiệu do bên chuyển nhượng (M) chưa phải là chủ sử dụng đất hợp pháp nên vi phạm là vi phạm về nội dung hợp đồng. Trường hợp này, cả bên chuyển nhượng (M) và bên nhận chuyển nhượng (N) đều có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu. Vì hợp đồng vô hiệu nên việc N trả tiền chậm cũng không bị coi là có lỗi; N có trả tiền đúng hẹn thì hợp đồng vẫn vô hiệu. Do đó, M không thể lấy cớ N vi phạm hợp đồng để từ chối bồi thường. Ngược lại, N cũng biết rõ M chưa đủ điều kiện là chủ sử dụng hợp pháp mà vẫn ký hợp đồng với M nên N cũng có lỗi ngang với lỗi của M. Vì vậy, N chỉ được trả lại tiền đã giao (5 tỷ đồng) và một nửa chệnh lệch giá về quyền sử dụng đất (2 tỷ đồng).

1.2. Về phần hậu quả giao dịch vô hiệu chưa có yêu cầu giải quyết

Theo quy định của pháp luật thì việc giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu là khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên, có những vấn đề phát sinh sau khi giao nhận tài sản. Do đó, ngoài việc trả lại tài sản còn phải giải quyết những vấn đề phát sinh là sự thay đổi của tài sản, hoa lợi, lợi tức của tài sản, bồi thường thiệt hại.

Có vấn đề đặt ra trong thực tiễn xét xử là có buộc phải cùng giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu với tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Có quan điểm cho rằng Điều 131 đã quy định rõ “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” nên hậu quả của giao dịch vô hiệu phải được giải quyết trong cùng một vụ án với việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Đã có một số bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, thậm chí có cả quyết định giám đốc thẩm hủy bản án của tòa án cấp dưới vì lý do tuyên bố giao dịch vô hiệu mà không giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu.

Thực tế, pháp luật đang quy định không bắt buộc phải giải quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu trong cùng một vụ án.

Khoản 3 Điều 27 chương III Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đã quy định:

“3. Đối với tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:

a) Trường hợp một bên yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đấtvô hiệu và đều không có yêu cầu gì khác; nếu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì bên yêu cầu công nhận hợp đồngphải chịu án phí như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch; nếu Tòa án tuyên bố công nhận hợp đồng thì bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu phải chịu án phí như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch;

b) Trường hợp một bên yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồngmua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và có yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì ngoài việc chịu án phí không có giá ngạch được quy định tại điểm a khoản 3 Điều này, người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc bồi thường thiệt hại phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đối với giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ.”.

Theo quy định từ khoản 3 nêu trên thì có vụ án Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Quy định này của Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là pháp điển hóa các hướng dẫn trước đây của Tòa án nhân dân tối cao (khoản 3 Điều 17 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Quy định “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” là quy định của pháp luật nội dung, xác định quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Quy định của pháp luật nội dung là để các chủ thể biết các quyền, nghĩa vụ dân sự mà thực hiện, không phải cứ có quy định thì cơ quan nhà nước hay Tòa án phải can thiệp. Quy định “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường” không có nghĩa cứ có thiệt hại là Tòa án quyết định về bồi thường khi không có ai yêu cầu. Do đó, đã có quy định về quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự của pháp luật nội dung nhưng khi cần bảo vệ quyền dân sự bằng trình tự Tòa án thì phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng.

Khoản 1 Điều 5 BLTTDS đã quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Nội dung nguyên tắc này cũng đã được quy định từ BLTTDS năm 2004 (khoản 1 Điều 5 BLTTDS năm 2004). Như vậy, quy định về việc Tòa án có thể giải quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà không đồng thời giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu có cơ sở pháp lý là tuân thủ nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS.

Quy định Tòa án có thể giải quyết tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà không đồng thời giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu còn có cơ sở thực tiễn là:

Phần lớn các trường hợp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì người yêu cầu (nguyên đơn) không phải là người tham gia vào giao dịch dân sự vô hiệu mà họ chỉ là người có quyền lợi đối với đối tượng giao dịch. Ví dụ: Một đồng chủ sở hữu tự ý bán tài sản thuộc sở hữu chung. Người có quyền lợi bị xâm phạm là những người đồng chủ sở hữu không tham gia vào việc bán tài sản. Khi khởi kiện yêu cầu tuyên bố việc bán tài sản là giao dịch vô hiệu, nguyên đơn chỉ quan tâm đến quyền lợi của mình là mong được tuyên bố giao dịch vô hiệu, không quan tâm đến việc các bên mua bán trả lại tiền, bồi thường thiệt hại cho nhau thế nào. Trong khi đó, các bên tham gia vào giao dịch vô hiệu đều không muốn bị tuyên giao dịch vô hiệu nên ngoài việc không đồng ý tuyên bố giao dịch vô hiệu thì họ không hợp tác, gây khó khăn cho việc giải quyết như không yêu cầu giải quyết hậu quả, không khai báo về giá cả, không cho thẩm định thực tế, làm thay đổi hiện trạng tài sản…Do vậy, nếu không quy định có thể giải quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không đồng thời với giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu thì sẽ không bảo vệ được kịp thời quyền dân sự hợp pháp.

Thực tế có nhiều trường hợp họ không yêu cầu giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu không phải vì lý do chống đối việc giải quyết. Họ chỉ cần Tòa án phán quyết giao dịch vô hiệu hay có hiệu lực, nếu vô hiệu họ sẽ tự giải quyết hậu quả với nhau và không phải chịu án phí. Trong giao dịch về kinh doanh, thương mại, giá trị tài sản có thể rất lớn nhưng việc trả lại tài sản lại rất dễ dàng thì họ càng phải cân nhắc việc có cần Tòa án can thiệp hay không để tránh một khoản án phí rất lớn. Và đó cũng là xử xự hợp pháp phù hợp với nguyên tắc “tự định đoạt” của đương sự quy định tại Điều 5 BLTTDS.

Riêng đối với những tranh chấp về chia tài sản chung (bao gồm cả chia thừa kế), đòi lại tài sản, có liên quan đến giao dịch vô hiệu thì phải coi là một yêu cầu kép, trong đó có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Ví dụ: X yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà mà Y đã bán cho Z thì phải coi là X đã có yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà vô hiệu, yêu cầu buộc Z trả lại nhà, yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà. Do đó, X phải làm thủ tục là nguyên đơn đối với cả ba yêu cầu nêu trên. Nếu Z có yêu cầu bồi thường thiệt hại từ giao dịch vô hiệu thì đó là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì nó không trùng với phạm vi phải giải quyết từ yêu cầu của nguyên đơn.

Pháp luật hiện hành đang quy định có thể giải quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà không giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu nếu không có yêu cầu. Tuy nhiên, thực tế cũng đang có nhận thức khác nhau nên trong quá trình giải quyết, Tòa án phải làm rõ việc các đương sự có yêu cầu giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu hay không.

𝐓𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐛𝐨̂́ 𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐯𝐨̂ 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮Pháp luật hiện hành đang quy định có thể giải quyết yêu cầu tuyên bố giao dịc...
06/05/2024

𝐓𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐛𝐨̂́ 𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐯𝐨̂ 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮

Pháp luật hiện hành đang quy định có thể giải quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà không giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu nếu không có yêu cầu. Tuy nhiên, thực tế cũng đang có nhận thức khác nhau nên trong quá trình giải quyết.

1.Giao dịch dân sự vô hiệu và hợp đồng vô hiệu

Thực tiễn xét xử tranh chấp dân sự ở Việt Nam (bao gồm cả tranh chấp kinh doanh – thương mại, lao động) trong nhiều năm qua, có hiện tượng là số lượng các vụ án tranh chấp hợp đồng vô hiệu cao gấp nhiều lần các vụ án tranh chấp hợp đồng có hiệu lực. Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng có hiệu lực thì lại nhiều gấp nhiều lần quy định về giải quyết hợp đồng vô hiệu. Có thời kỳ còn không có quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp hợp đồng vô hiệu mà áp dụng hoàn toàn các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu (thời kỳ thi hành BLDS năm 1995). Tình hình này dẫn đến tình trạng có nhận thức và áp dụng không chính xác những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vô hiệu.

Theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo quy định tại Điều 116 BLDS thì “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự. Vì vậy, khi có những quy định riêng về hợp đồng thì áp dụng những quy định riêng, khi không có những quy định riêng thì phải áp dụng những quy định chung về giao dịch dân sự.

Hợp đồng là giao dịch dân sự có đặc trưng là giao dịch nhiều bên (ít nhất là hai bên) và phải có sự “thỏa thuận”. Cần lưu ý đặc trưng này để xác định thời điểm xác lập hợp đồng – một dấu hiệu quan trọng để xác định luật áp dụng (luật áp dụng là luật có hiệu lực ở thời điểm xác lập giao dịch). Thừa kế cũng là một giao dịch dân sự nhiều bên nhưng không đòi hỏi phải có thỏa thuận nên thời điểm xác lập giao dịch là thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết). Lập di chúc hay hứa thưởng là giao dịch dân sự đơn phương nên thời điểm xác lập giao dịch là thời điểm ký vào di chúc (di chúc viết) hay thời điểm công khai thông tin hứa thưởng. Đối với hợp đồng thì phải đến khi có sự thỏa thuận mới là có hợp đồng. Đó là thời điểm giao kết hợp đồng. Như vậy, thời điểm xác lập hợp đồng là thời điểm giao kết hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 400 BLDS và có quy định cụ thể với mỗi loại hình thức hợp đồng (như hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung hợp đồng; hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên cuối cùng ký vào văn bản).

Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm xác lập hợp đồng nhưng thời điểm giao kết hợp đồng không đồng nhất với khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng (Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định ở Điều 401 BLDS). Ví dụ: Hợp đồng mua bán nhà có hiệu lực ở thời điểm công chứng, nếu đã công chứng mà có tranh chấp là tranh chấp hợp đồng có hiệu lực. Hợp đồng mua bán nhà đã được ký nhưng chưa được công chứng, nếu có tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vô hiệu. Nếu văn bản mới chỉ có chữ ký một bên thì là trường hợp chưa có hợp đồng. Việc giải quyết tranh chấp đối với trường hợp chưa có hợp đồng không áp dụng các quy định về hợp đồng vô hiệu mà phải áp dụng các quy định khác về nghĩa vụ dân sự.

2.Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

Theo quy định tại Điều 122 BLDS thì giao dịch dân sự vô hiệu là “Giao dịch không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117”. Theo các quy định tại Chương VIII (Giao dịch dân sự) về giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch sẽ bị “tuyên bố vô hiệu” chứ không có quy định “hủy giao dịch”.

Theo quy định của BLDS thì các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu được áp dụng cho hợp đồng vô hiệu (Điều 407). Vì vậy, đối với hợp đồng vô hiệu thì cũng phải “tuyên bố hợp đồng vô hiệu”. Một số bản án tuyên “hủy hợp đồng vô hiệu” là không đúng vì “hủy hợp đồng” hay “chấm dứt hợp đồng” là chế tài dành cho tranh chấp hợp đồng có hiệu lực.

Quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu cũng được áp dụng cho hợp đồng vô hiệu. Theo quy định của điểm c khoản 1 Điều 688 BLDS thì các giao dịch được xác lập trước ngày BLDS có hiệu lực thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Vì vậy, đối với việc xác định thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu thì không phải áp dụng pháp luật ở thời điểm xác lập mà chỉ áp dụng quy định của BLDS.

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 132 BLDS, trong đó có một quy định mới rất quan trọng là: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực”. Như vậy, một hợp đồng chỉ vô hiệu về hình thức, sau 2 năm kể từ ngày giao kết không có yêu cầu tuyên bố vô hiệu thì sẽ có hiệu lực mà không cần phải tiếp tục hoàn thiện về hình thức. Chỉ có 2 trường hợp quy định ở khoản 3 Điều 132 thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự không bị hạn chế, đó là trường hợp vô hiệu do giả tạo (Điều 124 BLDS) và trường hợp vô hiệu do “có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội” (Điều 123 BLDS).

Cần lưu ý là không phải cứ “vi phạm điều cấm của luật” là trường hợp vi phạm thuộc Điều 123 BLDS (là trường hợp không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu). Ví dụ: Hợp đồng mua bán nhà ở thì pháp luật quy định là phải có công chứng (khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014). Một hợp đồng mua bán nhà ở chưa có công chứng, dù không có các vi phạm khác thì vẫn là vi phạm quy định của Luật Nhà ở. Theo quy định của khoản 9 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 thì “Thực hiện các giao dịch mua bán…không đúng quy định của Luật này” là “hành vi bị nghiêm cấm”. Do đó, hợp đồng mua bán nhà không có công chứng là một trường hợp “vi phạm điều cấm của luật”. Tuy nhiên, lại không phải là trường hợp quy định tại Điều 123 BLDS vì là vi phạm về hình thức của hợp đồng chứ không phải “có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của luật”.

𝐆𝐢𝐚̂́𝐲 𝐦𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 đ𝐚̂́𝐭 𝐯𝐢𝐞̂́𝐭 𝐭𝐚𝐲 𝐜𝐨́ 𝐠𝐢𝐚́ 𝐭𝐫𝐢̣ 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐲́ 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠?Hiện nay, kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch mu...
05/05/2024

𝐆𝐢𝐚̂́𝐲 𝐦𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 đ𝐚̂́𝐭 𝐯𝐢𝐞̂́𝐭 𝐭𝐚𝐲 𝐜𝐨́ 𝐠𝐢𝐚́ 𝐭𝐫𝐢̣ 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐲́ 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠?

Hiện nay, kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch mua bán nhà đất cũng ngày càng tăng, việc quan tâm đến các quy định pháp luật về vấn đề này là vô cùng cần thiết. Cụ thể, việc thắc mắc của người dân về Liệu giấy tờ mua bán đất viết tay thì có giá trị pháp lý hay không? Nếu không thì có ảnh hưởng gì đến quyền và lợi ích của các bên giao dịch không?

Giấy mua bán đất viết tay là gì?

Giấy mua bán đất viết tay được hiểu là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bằng giấy tờ không có công chứng hoặc chứng thực.

Cụ thể, giữa các bên giao dịch sau khi thống nhất trên cơ sở tự nguyện mua bán, sẽ lập nên một giấy viết tay được xem như là một hợp đồng mua bán. Trên giấy mua bán đất này có đầy đủ chữ ký của các bên, tuy nhiên không được công chứng, chứng thực.

Theo đó, một bản hợp đồng được viết theo hình thức là giấy mua bán nhà đất viết tay sẽ không có được sự công nhận của nhà nước và pháp luật mà chỉ có sự thoả thuận của các bên với nhau dành cho hoạt động mua bán này.
Giấy mua bán đất viết tay có hiệu lực pháp lý không?

Căn cứ theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định về Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực. Quy định rằng Luật Đất đai 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014.

Theo đó, từ ngày 01/7/2014 cho tới hiện nay, một hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bắt buộc phải được công chứng, chứng thực. Trường hợp hợp đồng không được công chứng, chứng thực thì hợp đồng sẽ trở nên vô hiệu.

Đồng thời tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được công chứng, chứng thực nên bị vô hiệu do không tuân thủ về mặt hình thức.

Tuy nhiên, trừ 02 trường hợp sau đây căn cứ tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Như vậy, giấy mua bán nhà đất viết tay không có công chứng, chứng thực sẽ bị vô hiệu vì không bảo đảm về mặt hình thức. Tuy nhiên, nếu đã thực hiện ít nhất ⅔ nghĩa vụ trong giao dịch thì người dân có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng mà không cần thực hiện việc công chứng, chứng thực.

𝗬𝗲̂𝘂 𝗰𝗮̂̀𝘂 𝗽𝗵𝗮̉𝗻 𝘁𝗼̂́ 𝘁𝗵𝗲𝗼 𝗕𝗼̣̂ 𝗹𝘂𝗮̣̂𝘁 𝗧𝗼̂́ 𝘁𝘂̣𝗻𝗴 𝗱𝗮̂𝗻 𝘀𝘂̛̣ 𝗻𝗮̆𝗺 𝟮𝟬𝟭𝟱 𝘃𝗮̀ 𝘃𝘂̛𝗼̛́𝗻𝗴 𝗺𝗮̆́𝗰 𝘁𝗿𝗼𝗻𝗴 𝘁𝗵𝘂̛̣𝗰 𝘁𝗶𝗲̂̃𝗻I. MỘT SỐ QU...
08/04/2024

𝗬𝗲̂𝘂 𝗰𝗮̂̀𝘂 𝗽𝗵𝗮̉𝗻 𝘁𝗼̂́ 𝘁𝗵𝗲𝗼 𝗕𝗼̣̂ 𝗹𝘂𝗮̣̂𝘁 𝗧𝗼̂́ 𝘁𝘂̣𝗻𝗴 𝗱𝗮̂𝗻 𝘀𝘂̛̣ 𝗻𝗮̆𝗺 𝟮𝟬𝟭𝟱 𝘃𝗮̀ 𝘃𝘂̛𝗼̛́𝗻𝗴 𝗺𝗮̆́𝗰 𝘁𝗿𝗼𝗻𝗴 𝘁𝗵𝘂̛̣𝗰 𝘁𝗶𝗲̂̃𝗻

I. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾM YÊU CẦU PHẢN TỐ

1. Về yêu cầu phản tố của bị đơn
Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”. Nghĩa là sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố của bị đơn với ý kiến của bị đơn dẫn đến trường hợp Tòa án không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc chỉ là ý kiến của bị đơn nhưng Tòa án lại xem xét giải quyết như yêu cầu phản tố của bị đơn. Những sai sót như vậy, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hoặc là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Trước đây, việc phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn được Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:
- Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết.

Ví dụ: Nguyên đơn A có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn B phải trả lại tiền thuê nhà còn nợ của năm 2005 là năm triệu đồng. Bị đơn B có yêu cầu đòi nguyên đơn A phải thanh toán cho mình tiền sửa chữa nhà bị hư hỏng và tiền thuế sử dụng đất mà bị đơn đã nộp thay cho nguyên đơn là ba triệu đồng. Trường hợp này, yêu cầu của bị đơn B được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn A.

- Chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Ví dụ: Nguyên đơn C có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu đối với một xe ô tô và buộc bị đơn D trả lại cho mình xe ô tô đó. Bị đơn D có yêu cầu Toà án không công nhận xe ô tô này thuộc sở hữu của C mà là của mình hoặc công nhận xe ô tô này thuộc sở hữu chung của C và D. Trường hợp này, yêu cầu của bị đơn D không được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn C.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ.

- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn.

2. Về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố
Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Quy định bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải là một quy định hoàn toàn mới của BLTTDS năm 2015. Bởi vì thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự nói chung trước đây theo BLTTDS năm 2004 thì nhiều trường hợp bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố ngay từ đầu mà có khi đưa ra yêu cầu phản tố trong thời gian chuẩn bị xét xử, có khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa làm cho thời gian giải quyết vụ án kéo dài và làm tăng tính phức tạp của bị án. Tuy nhiên, điểm hạn chế của BLTTDS năm 2015 là không quy định rõ bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy. Vì một vụ án có thể mở nhiều phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải khác nhau. Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không không nhất giữa các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, đôi khi là sự “lách luật” để có thể xem xét thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất.

Address

26 Ung Văn Khiêm, Phường 25, Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00

Telephone

+84899509595

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when MITAL Legal - Tư vấn pháp luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to MITAL Legal - Tư vấn pháp luật:

Share

Category