Triển Luật Law

Triển Luật Law - Dân sự, Hình sự
- Đất đai, thừa kế, Hôn nhân gia đình
- Tài chính ngân hàng ...

Tôi và chồng của tôi lấy nhau năm 2017. Tuy nhiên, vì một số lý do nên chúng tôi đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Giờ các...
18/05/2026

Tôi và chồng của tôi lấy nhau năm 2017. Tuy nhiên, vì một số lý do nên chúng tôi đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Giờ các con cũng đã lớn hơn, chúng tôi đã hóa giải được mâu thuẫn nên muốn quay về với nhau. Vậy xin hỏi, ly thân rồi thì có thể quay lại với nhau được không? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Khái niệm ly thân không có trong các văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành. Đây là cách thể hiện tình cảm bị rạn nứt giữa các cặp vợ chồng. Có thể hiểu ly thân là việc hai vợ chồng không sống chung với nhau khi quan hệ tình cảm có rạn nứt nhưng chưa thực hiện các thủ tục ly hôn.

Quan hệ vợ chồng chỉ chấm dứt bằng bản án hoặc quyết định của Toà án khi thực hiện thủ tục ly hôn (theo yêu cầu của một bên hoặc do hai bên thoả thuận với nhau). Được quy định tại khoản 14, Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo đó, ly thân chỉ là trạng thái mà hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa khi không còn tình cảm vợ chồng và chưa thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định tại Toà án cơ thẩm quyền. Ly thân không phải sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do đó, hai vợ chồng dù ly thân thì quan hệ hôn nhân và gia đình vẫn còn tồn tại, hai người vẫn là vợ, chồng hợp pháp và có đầy đủ quyền cũng như phải thực hiện mọi nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

[DI CHÚC CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI CÓ HIỆU LỰC KHÔNG?]Câu hỏi:Anh A, 16 tuổi, có một khoản tiền tiết kiệm đứng tên riêng và...
14/05/2026

[DI CHÚC CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI CÓ HIỆU LỰC KHÔNG?]

Câu hỏi:
Anh A, 16 tuổi, có một khoản tiền tiết kiệm đứng tên riêng và một chiếc xe máy được tặng cho hợp pháp. Do mắc bệnh nặng, anh A lập một bản di chúc bằng văn bản để định đoạt số tài sản trên cho em gái là B. Việc lập di chúc có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ anh A. Sau khi anh A qua đời, một số người thân trong gia đình cho rằng anh A chưa đủ 18 tuổi nên không có quyền lập di chúc, yêu cầu tuyên di chúc vô hiệu.
Trả lời:
Căn cứ theo khoản 2 Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Người lập di chúc
“2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”
Điều 630 BLDS 2015 quy định điều kiện để di chúc hợp pháp, gồm:
• Người lập di chúc minh mẫn, tự nguyện;
• Nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
• Hình thức di chúc phù hợp quy định pháp luật.
Theo đó, người chưa đủ 18 tuổi vẫn có quyền lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Anh B 16 tuổi đã lập di chúc cho em gái mình dưới sự đồng ý của cha mẹ anh A, cũng không có thông tin cho thấy anh A bị ép buộc hay mất năng lực nhận thức.
Do đó, không có căn cứ pháp lý để tuyên di chúc vô hiệu chỉ vì anh A chưa đủ 18 tuổi.

[NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC]Câu hỏi: A và B là vợ chồng hợp pháp, có tài sản chung và có 3 người...
12/05/2026

[NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC]

Câu hỏi:

A và B là vợ chồng hợp pháp, có tài sản chung và có 3 người con. Tuy nhiên tới năm 2012, A bắt đầu chung sống như vợ chồng với M và có 1 đứa con riêng. Khi A chết để lại di chúc hợp pháp, trong đó A để lại toàn bộ di sản cho bà M. B không đồng ý và yêu cầu chia di sản theo pháp luật do bà M không phải là vợ hợp pháp của A nên không có quyền được hưởng di sản. Vậy yêu cầu của bà B có đúng không?

Trả lời:

Theo Điều 624 và Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; di chúc hợp pháp sẽ được ưu tiên áp dụng so với thừa kế theo pháp luật.
Do đó, việc bà M không phải là vợ hợp pháp không làm mất hiệu lực của di chúc, nếu:
• Di chúc được lập minh mẫn, tự nguyện;
• Nội dung và hình thức phù hợp quy định pháp luật;
• Di chúc không bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Nói cách khác, bà M vẫn có quyền hưởng di sản theo di chúc, không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân hợp pháp hay không.
Mặc dù di chúc hợp pháp, nhưng pháp luật vẫn bảo vệ một số chủ thể thông qua chế định “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” theo Điều 644 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015, cụ thể
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Các đối tượng này được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, kể cả khi không được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc thuộc diện không được quyền hưởng di sản.
Như vậy:
• B là vợ hợp pháp của A (người để lại di chúc)
• Các con chung và con riêng của ông A, nếu thuộc diện quy định tại Điều 644 BLDS 2015 như nêu trên (con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động) cũng có quyền yêu cầu phần thừa kế bắt buộc tương ứng.

[Câu hỏi]: Bố mẹ tôi qua đời từ 1995 để lại mảnh đất đến nay hết thời hiệu chia di sản. Tôi đang quản lý sử dụng. Hàng t...
05/05/2026

[Câu hỏi]: Bố mẹ tôi qua đời từ 1995 để lại mảnh đất đến nay hết thời hiệu chia di sản. Tôi đang quản lý sử dụng. Hàng thừa kế thứ nhất chỉ còn 1 mình tôi. Tôi cần sang tên sổ đỏ. Nhờ luật sư làm giúp thủ tục.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi. Sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:

Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản:
“Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;”

Theo đó, trong trường hợp của bạn thì sau khi hết thời hiệu thừa kế, người đang quản lý di sản không tự động trở thành chủ sở hữu. Bạn cần thực hiện thủ tục đăng ký, cấp GCNQSDĐ lần đầu theo diện “đất sử dụng ổn định, không tranh chấp” hoặc yêu cầu tòa án công nhận quyền sở hữu của bạn đối với quyền sử dụng đất trên.

Các bước thực hiện:

• Bước 1: Thu thập hồ sơ chứng minh quyền sử dụng đất:
Di chúc (nếu có)
Giấy tờ về đất: quyết định giao đất, hóa đơn, bản đồ, trích lục…
Xác nhận quản lý, sử dụng ổn định của UBND phường/xã
Chứng cứ không có tranh chấp (ý kiến từ các đồng thừa kế, xác nhận khu phố...)

• Bước 2: Làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện sử dụng ổn định, không có giấy tờ.

• Bước 3: Nộp hồ sơ tại UBND cấp xã/phường hoặc Văn phòng đăng ký đất đai để được xem xét cấp giấy.

Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi chưa thể tư vấn đầy đủ cho bạn đươc. Bạn có thể liên hệ trực tiếp văn phòng để được tư vấn trực tiếp và toàn diện hơn từ đó đưa ra phương án giải quyết một cách đầy đủ và tốt nhất cho bạn

Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.

[DI CHÚC MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN SAU THỜI GIAN DÀI THÌ CÓ HIỆU LỰC KHÔNG?]Câu hỏi: Bà X qua đời đã 8 năm. Gần đây, ông Y (con...
21/04/2026

[DI CHÚC MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN SAU THỜI GIAN DÀI THÌ CÓ HIỆU LỰC KHÔNG?]

Câu hỏi:

Bà X qua đời đã 8 năm. Gần đây, ông Y (con út của bà X) mới phát hiện một bản di chúc viết tay do bà X lập khi còn sống. Bản di chúc này chưa từng được công chứng hoặc chứng thực. Sau khi tìm thấy di chúc, ông Y yêu cầu chia di sản của bà X theo nội dung di chúc. Vấn đề đặt ra là: di chúc viết tay được lập từ lâu như vậy có còn hiệu lực pháp luật và có được áp dụng để chia di sản hay không?

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 633 Bộ luật Dân sự hiện hành quy định Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
“Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.”
Theo đó, hình thức di chúc của bà X là di chúc bằng văn bản không có người làm chứng. Bạn xem bản di chúc có phải do bà X tự viết và ký vào văn bản di chúc không. Ngoài ra, để di chúc hợp pháp thì phải đáp ứng điều kiện tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:
“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”
Theo đó, di chúc viết tay không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực vẫn có thể có giá trị pháp lý, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
1. Người lập di chúc minh mẫn, tự nguyện tại thời điểm lập di chúc (Điều 630 BLDS);
2. Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
3. Hình thức hợp pháp: di chúc viết tay phải do chính người lập di chúc viết và ký tên (Điều 633 BLDS).
Nếu di chúc của bà X thỏa mãn các điều kiện nêu trên thì có hiệu lực pháp luật, dù mới được phát hiện sau 8 năm. Tuy nhiên cần phải xem xét ngoài di chúc này bà X có còn lập di chúc nào nữa không để tránh xảy ra tranh chấp khi chia di sản.

[Tình huống]: Ông A lập di chúc năm 2018 để lại toàn bộ căn nhà cho con trai là anh B. Đến năm 2022, ông A viết một văn ...
19/04/2026

[Tình huống]: Ông A lập di chúc năm 2018 để lại toàn bộ căn nhà cho con trai là anh B. Đến năm 2022, ông A viết một văn bản mới với nội dung “hủy bỏ toàn bộ di chúc lập năm 2018”. Một năm sau, ông A qua đời. Anh B yêu cầu được hưởng di sản theo di chúc 2018 vì cho rằng văn bản hủy di chúc không hợp lệ do viết tay nhưng không công chứng.

Trả lời:

Theo Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng các yêu cầu sau:
• Được lập bằng văn bản hoặc được thể hiện bằng hình thức di chúc viết tay hoặc công chứng, chứng thực.
• Không có sự ép buộc, đe dọa, lừa dối khi lập di chúc.

Di chúc do ông A lập năm 2018 có thể được xem là hợp pháp nếu nó đáp ứng các yêu cầu trên (văn bản viết tay, được lập đúng theo ý chí của ông A, không bị ép buộc).

Căn cứ khoản 1 Điều 640 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định
“Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào”

Văn bản hủy di chúc có thể được lập bằng tay hoặc công chứng. Không có yêu cầu bắt buộc phải công chứng khi hủy di chúc, miễn là văn bản đó thể hiện rõ ý chí của người lập di chúc và đáp ứng các điều kiện hợp pháp. Do ông A là người lập di chúc nên có quyền hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào trước khi chết. Năm 2022, ông A đã lập văn bản với nội dung “hủy bỏ toàn bộ di chúc lập năm 2018”. Văn bản này do chính người lập di chúc viết tay, thể hiện rõ ý chí hủy bỏ và Bộ luật dân sự không yêu cầu công chứng đối với văn bản hủy bỏ di chúc nên không bắt buộc phải công chứng, chứng thực.

Khi ông A qua đời vào năm 2023, văn bản hủy di chúc năm 2022 vẫn có hiệu lực pháp lý và đã hủy bỏ di chúc năm 2018. Do đó, di sản của ông A sẽ không được chia theo di chúc năm 2018, mà sẽ được chia theo pháp luật nếu ông A không lập di chúc khác hoặc không có các điều kiện hợp pháp khác về phân chia tài sản. Vì vậy, anh B sẽ không được hưởng di sản theo di chúc năm 2018, mà phải dựa vào pháp luật di sản để phân chia tài sản của ông A. Di sản sẽ được chia cho các thừa kế hợp pháp theo quy định của pháp luật, nếu không có di chúc hợp pháp còn hiệu lực.

[Câu hỏi]: Hiện tại chúng em đang có bé 29 tháng tuổi, em có tìm hiểu bé dưới 36 tháng thì sẽ được theo mẹ. Bố bé có ngo...
14/04/2026

[Câu hỏi]: Hiện tại chúng em đang có bé 29 tháng tuổi, em có tìm hiểu bé dưới 36 tháng thì sẽ được theo mẹ. Bố bé có ngoại tình từ khi em bầu tầm 4,5 tháng có bằng chứng, không chu cấp hàng tháng để nuôi bé từ khi bầu đến tầm bé 2 tuổi. Hiện tại bố bé có kinh tế hơn do ông bà bán đất cho tiền và đầu tư làm đất khoảng mấy tháng sẽ có tiền lãi về. Em làm tự do tại nhà và trước giờ cũng là tiền của em vì hàng tháng bố bé không đưa, đến giờ số lần bố bé đưa chắc trên dưới chục lần từ khi bầu. Như vậy em có chắc chắn đc quyền nuôi bé không ạ. Và chúng em đang có nhà sau hôn nhân là tiền ông bà cho mua, nhà không có sổ đứng tên em, có giấy chuyển nhượng tên chồng em, vậy em có được chia sau li hôn không ạ. Nhờ luật sư tư vấn giúp em. Em cảm ơn ạ

Trả lời:
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi. Sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy, trường hợp hồ sơ ly hôn của bạn được giải quyết trước khi con của bạn đủ 36 tháng tuổi thì bạn chỉ cần chứng minh mình có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định trên để giao con cho bạn chăm sóc.

Trường hợp bạn thực hiện thủ tục ly hôn khi con trên 36 tháng tuổi thì bạn phải chứng minh bạn đủ điều kiện để chăm sóc con và việc giao con cho bạn chăm sóc sẽ tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con bạn. Tòa án sẽ căn cứ vào chứng cứ mà các bên cung cấp và quy định pháp luật để tuyên giao con cho bạn hoặc chồng chăm sóc. Một số yếu tố mà bạn có thể chuẩn bị trước để chứng minh như sau:

- Các yếu tố vật chất có thể là: Mức thu nhập hàng tháng, điều kiện kinh tế, tài sản riêng hiện có, chỗ ở ổn định, các khoản phụ trợ khác…. mà có thể đảm bảo để nuôi con.
- Các yếu tố tinh thần bao gồm: Thời gian làm việc, thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm giành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn, sức khỏe… có thể dành tốt nhất cho con.
- Đối với vấn đề liên quan đến tài sản, tài sản này hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên mặc nhiên nó được xem là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì tiền mua nhà là do ông bà nội cho hai vợ chồng để mua.

Trường hợp bạn chứng minh được số tiền ông bà cho để mua nhà là tặng cho cả hai vợ chồng thì tài sản này sẽ được chia đôi theo đúng quy định. Trường hợp ông bà chỉ cho chồng bạn thì tòa án sẽ căn cứ vào công sức đóng góp để chia tài sản trên (Tòa án còn xem xét đến việc sửa chữa, xây dựng, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản). Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi chưa thể tư vấn đầy đủ cho bạn đươc. Bạn có thể liên hệ trực tiếp văn phòng để được tư vấn trực tiếp và toàn diện hơn từ đó đưa ra phương án giải quyết một cách đầy đủ và tốt nhất cho bạn.

[VỢ CHỒNG ĐÃ LY THÂN, CÓ ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN ĐƯỢC KHÔNG?]Câu hỏi: Vợ chồng anh Dương và chị Ánh sống ly thân 3 năm, không ...
09/04/2026

[VỢ CHỒNG ĐÃ LY THÂN, CÓ ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN ĐƯỢC KHÔNG?]

Câu hỏi:

Vợ chồng anh Dương và chị Ánh sống ly thân 3 năm, không còn tình cảm. Anh Dương muốn ly hôn đơn phương thì có được không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Theo Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao:
“Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng;”
Đối chiếu với tình huống của anh Dương:
• Vợ chồng đã sống ly thân 3 năm → Đây là dấu hiệu chứng minh quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
• Không còn tình cảm → Thể hiện mục đích hôn nhân (xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, nuôi dạy con cái) không đạt được.
Như vậy, việc anh Dương nộp đơn ly hôn đơn phương là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Về mặc thủ tục
• Anh Dương nộp đơn ly hôn đơn phương tại Tòa án nhân dân khu vực nơi chị Ánh cư trú (theo Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
• Hồ sơ gồm: đơn khởi kiện, bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao chứng thực CCCD của hai vợ chồng, giấy khai sinh con (nếu có), giấy tờ về tài sản chung, nợ chung (nếu có tranh chấp).

[DI CHÚC VIẾT TAY CÓ HỢP PHÁP KHÔNG?]Câu hỏi: Xin luật sư tư vấn điều kiện để di chúc viết tay là hợp pháp?Trả lời:Khoản...
06/04/2026

[DI CHÚC VIẾT TAY CÓ HỢP PHÁP KHÔNG?]

Câu hỏi: Xin luật sư tư vấn điều kiện để di chúc viết tay là hợp pháp?

Trả lời:
Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ như sau:
“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”.
Như vậy, di chúc nhà đất viết tay hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
(1) Điều kiện đối với người lập di chúc
- Độ tuổi được lập di chúc viết tay (không công chứng hoặc chứng thực): Phải từ đủ 15 tuổi trở lên, riêng trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (theo khoản 2 Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015).
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.
- Không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.
(2) Điều kiện về nội dung của di chúc
Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngoài những nội dung chủ yếu trên thì di chúc có thể có các nội dung khác.
Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
(3) Điều kiện về hình thức di chúc
Hình thức không được trái với quy định của của luật, cụ thể:
- Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
- Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
+ Phải có ít nhất là 02 người làm chứng: Ai cũng có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau:
• Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
• Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
• Người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi), người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

[Câu hỏi]: Cha mẹ tôi có 2 người con trai là tôi và anh trai tôi. Năm 2017 cha mẹ tôi lập di chúc để lại toàn bộ tài sản...
01/04/2026

[Câu hỏi]: Cha mẹ tôi có 2 người con trai là tôi và anh trai tôi. Năm 2017 cha mẹ tôi lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho anh trai tôi. Tuy nhiên, từ năm 2017 đến 2022 anh trai tôi không chăm sóc cha mẹ nên năm 2022 cha mẹ tôi lập một bản di chúc khác có nội dung để lại toàn bộ tài sản cho tôi. Vậy Luật sư cho tôi hỏi là trong 2 bản di chúc thì bản di chúc nào có giá trị.

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi. Sau đây là câu trả lời của chúng tôi về vấn đề của bạn.

Căn cứ Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

Điều 640 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc:
“Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.
2. Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.
3. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.”

Theo quy định trên thì, di chúc cha mẹ bạn lập năm 2022 với nội dung để lại toàn bộ tài sản cho bạn thì di chúc đó có hiệu lực. Di chúc được lập năm 2017 với nội dung để lại toàn bộ tài sản cho anh trai của bạn là không có hiệu lực.

Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.

[Câu hỏi]: Trước khi cưới cha mẹ tôi có cho tôi một căn nhà làm của hồi môn (Căn nhà này đứng tên của tôi). Hiện nay, tô...
31/03/2026

[Câu hỏi]: Trước khi cưới cha mẹ tôi có cho tôi một căn nhà làm của hồi môn (Căn nhà này đứng tên của tôi). Hiện nay, tôi và chồng tôi ly hôn thì chồng tôi yêu cầu chia đôi căn nhà này với lý do đây là tài sản chung của vợ chồng. Luật sư cho tôi hỏi căn nhà này có phải là tài sản chung không ạ?

Trả lời

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi. Sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:
“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy căn cứ quy định của pháp luật thì trường hợp bố mẹ bạn cho bạn một căn nhà làm của hồi môn thì đây là tài sản riêng của bạn, nếu bạn không thực hiện việc sáp nhập tài sản riêng thành tài sản chung của hai vợ chồng bằng văn bản được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì đây vẫn được xem là tài sản riêng của bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.

Address

213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Triển Luật Law posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Triển Luật Law:

Share