Luật sư tư vấn pháp luật

Call Directions Website Contact the practice

Luật sư tư vấn pháp luật - Tư vấn pháp luật miễn phí;
- Thực hiện các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng;
- Bảo vệ, bào chữa đại diện hợp pháp tại các cấp Tòa...

- Tư vấn pháp luật miễn phí cho cá nhân, hộ gia đình, tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp;
- Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại các cấp Toà;
- Đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký đầu tư, đăng ký nhãn hiệu độc quyền và các lĩnh vực sở hữu trí tuệ khác;
- Mua bán, sáp nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp..vv
- Hôn nhân và gia đình (kết hôn, ly hôn, con nuôi, truy nhận cha cho con...);
- Tuyên bố chết, mất tích;
- Thực hiện tất cả các dịch vụ pháp lý về nhà đất (công chứng mua bán, khai di sản thừa kế, tặng cho, kê khai thuế, đăng bộ (cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất, QSHNO và tài sản khác gắn liền với đất), hợp thức hoá nhà, đất; chuyển mục đích sử dụng đất, xin phép xây dựng, hoàn công công trình;
- Lập di chúc, thỏa thuận tài sản trước, trong và sau hôn nhân;
- Soạn thảo các loại văn bản, hợp đồng thương mại, Hợp đồng hợp tác kinh doanh...

🚨 CHA/MẸ MUỐN THAY ĐỔI HỌ CỦA CON SAU LY HÔN CÓ CẦN SỰ ĐỒNG Ý CỦA NGƯỜI CÒN LẠI?Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ có thể mong ...
14/10/2026

🚨 CHA/MẸ MUỐN THAY ĐỔI HỌ CỦA CON SAU LY HÔN CÓ CẦN SỰ ĐỒNG Ý CỦA NGƯỜI CÒN LẠI?

Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ có thể mong muốn thay đổi họ của con từ họ cha sang họ mẹ hoặc ngược lại. Tuy nhiên, việc ai là người trực tiếp nuôi con không đồng nghĩa với việc người đó được toàn quyền quyết định thay đổi họ của con.

Vậy pháp luật quy định như thế nào về quyền thay đổi họ của con sau ly hôn? Có bắt buộc phải được sự đồng ý của người còn lại và của người con hay không?

⚠️ Cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi họ của con: Theo Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền yêu cầu thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại. Việc thay đổi họ phải được thực hiện theo đúng điều kiện và thủ tục pháp luật quy định.

🔹 Thay đổi họ của con dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cả cha và mẹ: Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 3884/VBHN-BTP - sau đây gọi tắt là Nghị định 123/2015/NĐ-CP, việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cha và mẹ, được thể hiện rõ trong Tờ khai. Vì vậy, sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con không đương nhiên được tự mình quyết định thay đổi họ của con mà không cần sự đồng ý của người còn lại.

⚠️ Con từ đủ 9 tuổi trở lên phải đồng ý: Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định việc thay đổi họ cho người từ đủ 9 tuổi trở lên còn phải có sự đồng ý của chính người con.

🔹 Thủ tục thay đổi họ của con: Theo Điều 28 Luật Hộ tịch 2014, người yêu cầu đăng ký thay đổi hộ tịch phải nộp Tờ khai theo mẫu và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền. Thời hạn giải quyết thông thường là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ; trường hợp cần xác minh, thời hạn có thể kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

👉 Như vậy, sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ có quyền yêu cầu thay đổi họ của con từ họ cha sang họ mẹ hoặc ngược lại. Tuy nhiên, đối với người con dưới 18 tuổi, việc thay đổi họ phải có sự đồng ý của cả cha và mẹ; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người con. Do đó, người trực tiếp nuôi con không đương nhiên có quyền tự quyết định việc thay đổi họ của con.

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/chame-muon-thay-doi-ho-cua-con-sau-ly-hon-co-can-su-dong-y-cua-nguoi-con-lai

🚨 TIÊU THỤ TÀI SẢN HOẶC CHỨA CHẤP TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ – NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU ÝTrong thực tế, vi...
07/10/2026

🚨 TIÊU THỤ TÀI SẢN HOẶC CHỨA CHẤP TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ – NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý

Trong thực tế, việc mua bán, trao đổi, cầm cố hoặc nhận giữ tài sản diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, nếu tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội thì người mua hoặc người nhận tài sản có đương nhiên bị xử lý hình sự hay không?

Không phải mọi trường hợp mua hoặc nhận tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để xác định trách nhiệm pháp lý, cần xem xét các dấu hiệu của Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

⚠️ Tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu như thế nào?

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, tài sản do người khác phạm tội mà có là tài sản mà người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được thông qua việc mua bán, trao đổi bằng tài sản có nguồn gốc trực tiếp từ hành vi phạm tội.

Tài sản trong trường hợp này có thể bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản, động sản, bất động sản, hoa lợi, lợi tức...

🔹 Khi nào hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản bị xử lý hình sự?

Theo Điều 323 Bộ luật Hình sự, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Để xem xét trách nhiệm hình sự, cần đặc biệt lưu ý các yếu tố sau:

🔹 Tài sản phải có nguồn gốc từ hành vi phạm tội: Không phải mọi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp đều thuộc trường hợp điều chỉnh của Điều 323 BLHS.

🔹 Người thực hiện phải “biết rõ” tài sản do phạm tội mà có: Việc tài sản có giá rẻ, không đầy đủ giấy tờ hoặc giao dịch có dấu hiệu bất thường không mặc nhiên chứng minh người mua biết rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản. Việc xác định phải dựa trên các tình tiết và chứng cứ cụ thể của vụ việc.

🔹 Hành vi phải được thực hiện “không hứa hẹn trước”: Nếu người thực hiện đã có sự thỏa thuận, hứa hẹn từ trước với người phạm tội về việc tiếp nhận hoặc tiêu thụ tài sản thì có thể phải xem xét trách nhiệm pháp lý dưới góc độ đồng phạm với tội phạm nguồn.

⚠️ Các dấu hiệu cơ bản của Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

🔹 Về chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của tội phạm này.

🔹 Về khách thể: Hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và có liên quan đến quyền sở hữu tài sản.

🔹 Về mặt khách quan: Người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có.

🔹 Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong đó nhận thức rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản nhưng vẫn thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ.

🚨 Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bị phạt bao nhiêu?

Theo Điều 323 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng các mức hình phạt tùy thuộc vào tính chất, mức độ hành vi, giá trị tài sản hoặc số tiền thu lợi bất chính.

🔹 Khung cơ bản: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

🔹 Khung từ 03 năm đến 07 năm: Áp dụng trong một số trường hợp như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tài sản trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc tái phạm nguy hiểm.

🔹 Khung từ 07 năm đến 10 năm: Khi tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng.

🔹 Khung từ 10 năm đến 15 năm: Khi tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

🔹 Phạm tội lần đầu có được giảm nhẹ hình phạt không?

“Phạm tội lần đầu” không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định một người có phạm tội hay không.

Trường hợp người phạm tội phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thì có thể được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, việc chưa từng bị kết án không đồng nghĩa với việc đương nhiên được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Hai điều kiện “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” phải được xem xét đồng thời.

⚠️ Chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm có bị xử phạt hành chính không?

Trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 323 BLHS, người thực hiện vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp pháp luật quy định.

Theo quy định hiện hành, hành vi mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có có thể bị phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng.

Ngoài ra, tùy trường hợp, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý bổ sung như trục xuất đối với người nước ngoài hoặc buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.

👉 Như vậy, không phải cứ mua hoặc nhận một tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp là đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý theo Điều 323 BLHS cần làm rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản, nhận thức của người thực hiện về nguồn gốc tài sản và điều kiện “không hứa hẹn trước”.

👉 Ngược lại, nếu một người biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn cố ý chứa chấp hoặc tiêu thụ, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

👉 Vì vậy, khi mua bán, nhận cầm cố hoặc nhận chuyển giao tài sản, mỗi cá nhân nên kiểm tra nguồn gốc, giấy tờ và quyền sở hữu tài sản, đặc biệt đối với những giao dịch có giá trị bất thường hoặc có dấu hiệu đáng ngờ, nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý.

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/tieu-thu-san-pham-hoac-chua-chap-tai-san-do-nguoi-khac-pham-toi-ma-co-nhung-van-de-phap-ly-can-luu-y

🚨 CÓ ĐƯỢC THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN?Nhiều người cho rằng, sau khi bản án ly hôn có hiệu lực thì người...
03/10/2026

🚨 CÓ ĐƯỢC THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN?

Nhiều người cho rằng, sau khi bản án ly hôn có hiệu lực thì người trực tiếp nuôi con đã được xác định và không thể thay đổi. Tuy nhiên, trên thực tế, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con của cha hoặc mẹ có thể thay đổi theo thời gian. Khi đó, pháp luật vẫn cho phép xem xét việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu đáp ứng các điều kiện nhất định.

Vậy sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ có được yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con không? Khi nào Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con?

⚠️ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con: Theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Tuy nhiên, việc thăm nom không được lợi dụng để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

🔹 Người trực tiếp nuôi con không được cản trở quyền thăm nom: Theo Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đồng thời, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

⚠️ Cản trở quyền thăm nom con có thể bị xử phạt: Pháp luật hiện hành có quy định về chế tài đối với hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con. Trường hợp có hành vi cản trở quyền thăm nom, chăm sóc con mà không thuộc trường hợp bị Tòa án hạn chế quyền thăm nom thì người vi phạm có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

🔹 Có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi bản án ly hôn có hiệu lực: Theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc chủ thể có thẩm quyền theo luật định.

🔹 Hai trường hợp được xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con: Việc thay đổi được xem xét khi cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con hoặc người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

🔹 Nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi phải được xem xét: Khi giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định pháp luật.

🔹 Con dưới 36 tháng tuổi có quy định riêng: Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc giao con dưới 36 tháng tuổi khi Tòa án giải quyết ly hôn. Theo nguyên tắc chung, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc cha, mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

👉 Như vậy, bản án ly hôn đã có hiệu lực không đồng nghĩa với việc người trực tiếp nuôi con được xác định cố định trong mọi trường hợp. Khi điều kiện thực tế thay đổi hoặc cha, mẹ có thỏa thuận phù hợp với lợi ích của con, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con vẫn có thể được Tòa án xem xét theo quy định pháp luật.

👉 Vậy người không trực tiếp nuôi con cần làm gì khi bị cản trở quyền thăm nom? Người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện chăm sóc con thì ai có quyền yêu cầu thay đổi?

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/co-duoc-thay-doi-nguoi-truc-tiep-nuoi-con-sau-ly-hon

🚨 KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN NHƯNG CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG, TÀI SẢN ĐƯỢC GIẢI QUYẾT THẾ NÀO?Không ít cặp đôi chung sống với n...
01/10/2026

🚨 KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN NHƯNG CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG, TÀI SẢN ĐƯỢC GIẢI QUYẾT THẾ NÀO?

Không ít cặp đôi chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống, hai bên có thể cùng tạo lập nhà đất, mua sắm tài sản hoặc đóng góp tiền bạc để phục vụ cuộc sống chung. Khi chấm dứt việc chung sống, việc xác định quyền đối với những tài sản này có thể phát sinh tranh chấp.

⚠️ Không đăng ký kết hôn không có nghĩa là mọi tài sản đều mặc nhiên thuộc về người đứng tên. Pháp luật có quy định riêng về việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

🔹 Không phát sinh quan hệ vợ chồng: Theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nam, nữ đủ điều kiện kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên vẫn được pháp luật điều chỉnh.

🔹 Ưu tiên thỏa thuận về tài sản: Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên trước hết được giải quyết theo thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.

🔹 Công việc nội trợ cũng được xem xét: Khi giải quyết quan hệ tài sản, pháp luật yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con. Đáng chú ý, công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

🔹 Có thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận, một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc xác định và chia tài sản chung được xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, trong đó có quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung tại Điều 219 Bộ luật Dân sự 2015.

👉 Như vậy, việc không đăng ký kết hôn không đồng nghĩa với việc một bên đương nhiên không có quyền đối với tài sản được tạo lập trong thời gian chung sống. Khi giải quyết, cần xem xét thỏa thuận giữa các bên, nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu và sự đóng góp của mỗi bên.

⚠️ Đặc biệt, trong một số trường hợp phát sinh từ trước đây, việc nam nữ chung sống như vợ chồng dù không đăng ký kết hôn có thể được xem xét theo quy định chuyển tiếp và pháp luật áp dụng tại thời điểm bắt đầu chung sống.

👉 Vậy tài sản do hai người cùng mua nhưng chỉ đứng tên một người có được chia không? Công việc nội trợ được tính như thế nào khi giải quyết tài sản? Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào đâu để giải quyết?

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/khong-dang-ky-ket-hon-nhung-chung-song-nhu-vo-chong-thi-tai-san-duoc-giai-quyet-nhu-the-nao

🚨 NGƯỜI ĐỦ 18 TUỔI NHƯNG TRƯỚC ĐÓ BỊ KẾT ÁN KHI CHƯA ĐỦ 16 TUỔI THÌ CÓ ĐƯỢC XEM LÀ “PHẠM TỘI LẦN ĐẦU” KHÔNG?Nhiều người ...
29/09/2026

🚨 NGƯỜI ĐỦ 18 TUỔI NHƯNG TRƯỚC ĐÓ BỊ KẾT ÁN KHI CHƯA ĐỦ 16 TUỔI THÌ CÓ ĐƯỢC XEM LÀ “PHẠM TỘI LẦN ĐẦU” KHÔNG?

Nhiều người cho rằng, một người đã từng bị Tòa án kết án thì khi tiếp tục phạm tội sẽ không còn được xem là “phạm tội lần đầu”. Tuy nhiên, pháp luật hình sự còn xem xét thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội trước đây, tình trạng án tích và quy định đặc thù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Vậy nếu một người hiện đã đủ 18 tuổi nhưng trước đó từng bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi, khi tiếp tục phạm tội thì có được xác định là “phạm tội lần đầu” hay không?

⚠️ “Phạm tội lần đầu” không đồng nghĩa với việc người đó chưa từng bị Tòa án xét xử: Theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017- sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự 2015, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo điểm a khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, người đã từng thực hiện hành vi phạm tội nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích hoặc đã được xóa án tích vẫn có thể được xác định là phạm tội lần đầu.

🔹 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án được coi là không có án tích: Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người dưới 18 tuổi bị kết án thuộc trường hợp luật định, trong đó có người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, được coi là không có án tích.

🔹 Đủ 18 tuổi nhưng trước đó bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi vẫn có thể được xác định là phạm tội lần đầu: Việc từng bị Tòa án kết án không đồng nghĩa với việc người đó luôn có án tích. Đối với trường hợp bị kết án khi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, pháp luật xác định người này không có án tích. Công văn số 206/TANDTC-PC năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao cũng giải đáp rằng người đủ 18 tuổi nhưng trước đó bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi thuộc trường hợp phạm tội lần đầu.

🔹 Không phải cứ phạm tội lần đầu là đương nhiên được giảm nhẹ: Điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự yêu cầu đồng thời phải “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Nếu chỉ đáp ứng một trong hai điều kiện thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.

👉 Như vậy, người đã từng bị kết án vẫn có thể được xác định là “phạm tội lần đầu” nếu thuộc trường hợp pháp luật coi là không có án tích hoặc đã được xóa án tích. Đối với người hiện đã đủ 18 tuổi nhưng trước đó bị kết án khi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, bản án trước đó không làm phát sinh án tích nên có thể được xác định là phạm tội lần đầu khi thực hiện hành vi phạm tội mới.

⚠️ Tuy nhiên, để được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài điều kiện phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội mới còn phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định pháp luật.

👉 Vậy “phạm tội lần đầu” được xác định dựa trên những trường hợp nào? Người dưới 18 tuổi bị kết án có án tích không? Nếu đã từng bị kết án thì trường hợp nào vẫn được xem là phạm tội lần đầu?

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/nguoi-du-18-tuoi-nhung-truoc-do-bi-ket-an-khi-chua-du-16-tuoi-co-duoc-xem-la-pham-toi-lan-dau-khong

🚨 GỬI NHẦM TIỀN VÀO TÀI KHOẢN NGƯỜI KHÁC, NGƯỜI NHẬN CÓ ĐƯỢC GIỮ KHÔNG?Chỉ vì một chút bất cẩn khi giao dịch, nhiều ngườ...
25/09/2026

🚨 GỬI NHẦM TIỀN VÀO TÀI KHOẢN NGƯỜI KHÁC, NGƯỜI NHẬN CÓ ĐƯỢC GIỮ KHÔNG?

Chỉ vì một chút bất cẩn khi giao dịch, nhiều người có thể chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác do nhập sai số tài khoản, sai thông tin người nhận hoặc nhầm số tiền. Vậy khi nhận được khoản tiền này, người nhận có được quyền giữ hoặc sử dụng hay không?

⚠️ Việc tiền đã được chuyển vào tài khoản không đồng nghĩa với việc người nhận đương nhiên có quyền sở hữu số tiền đó. Theo quy định của pháp luật, người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền đối với tài sản.

🔹 Người nhận tiền chuyển nhầm phải hoàn trả: Theo Điều 579 và Điều 580 Bộ luật Dân sự 2015, người nhận tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

🔹 Có thể bị xử phạt hành chính: Trường hợp cố tình chiếm giữ hoặc sử dụng trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và buộc trả lại tài sản theo quy định pháp luật.

🔹 Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người cố tình không trả lại tài sản bị giao nhầm sau khi chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp yêu cầu nhận lại, nếu tài sản đáp ứng điều kiện luật định, có thể bị truy cứu về Tội chiếm giữ trái phép tài sản.

👉 Như vậy, người nhận tiền chuyển khoản nhầm không được tự ý xem khoản tiền đó là tài sản của mình. Việc cố tình giữ, rút hoặc sử dụng số tiền mà biết rõ không thuộc về mình có thể dẫn đến nghĩa vụ hoàn trả và trong một số trường hợp còn có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự.

⚠️ Người chuyển tiền nhầm cũng cần lưu ý: khi phát hiện giao dịch sai, nên nhanh chóng liên hệ ngân hàng để thông báo và thực hiện các thủ tục cần thiết nhằm hỗ trợ thu hồi khoản tiền đã chuyển.

👉 Vậy người nhận tiền chuyển nhầm phải làm gì? Nếu cố tình không trả lại thì bị phạt bao nhiêu? Khi nào hành vi chiếm giữ tiền chuyển nhầm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/gui-nham-tien-vao-tai-khoan-nguoi-khac-nguoi-nhan-co-duoc-giu-khong

🌳 CÂY CỐI GÂY THIỆT HẠI CHO NGƯỜI KHÁC, CHỦ SỞ HỮU HAY ĐƠN VỊ QUẢN LÝ CÂY XANH PHẢI BỒI THƯỜNG?Cây cối mang lại nhiều lợ...
23/09/2026

🌳 CÂY CỐI GÂY THIỆT HẠI CHO NGƯỜI KHÁC, CHỦ SỞ HỮU HAY ĐƠN VỊ QUẢN LÝ CÂY XANH PHẢI BỒI THƯỜNG?

Cây cối mang lại nhiều lợi ích cho môi trường và đời sống. Tuy nhiên, khi cây bị gãy cành, bật gốc hoặc đổ ngã gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe hoặc tính mạng của người khác thì ai sẽ là người phải bồi thường? Chủ sở hữu cây, người được giao quản lý hay đơn vị quản lý cây xanh?

⚠️ Theo quy định của pháp luật, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra không chỉ phụ thuộc vào việc ai là chủ sở hữu mà còn phải xem xét người đang chiếm hữu, người được giao quản lý cây và nguyên nhân dẫn đến thiệt hại.

🔹 Chủ sở hữu phải chủ động bảo đảm an toàn: Theo Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015, nếu cây cối có nguy cơ gây thiệt hại đến bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu phải thực hiện các biện pháp cần thiết như chặt cây, tỉa cành hoặc xử lý nguy cơ mất an toàn. Nếu gây thiệt hại thì chủ sở hữu cây cối phải bồi thường theo quy định.

🔹 Ai phải bồi thường khi cây gây thiệt hại? Điều 604 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Vì vậy, không phải mọi trường hợp trách nhiệm đều thuộc về chủ sở hữu cây mà cần xác định cụ thể chủ thể đang quản lý, chiếm hữu cây và nguyên nhân gây thiệt hại.

🔹 Mức bồi thường được xác định như thế nào? Theo Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại thực tế về nguyên tắc phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Tuy nhiên, mức bồi thường có thể được xem xét giảm hoặc thay đổi trong một số trường hợp; lỗi của người bị thiệt hại và việc không áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế thiệt hại cũng có thể được xem xét.

⚠️ Không phải trường hợp nào cây đổ gây thiệt hại cũng phải bồi thường. Nếu thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường có thể được loại trừ theo khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, để được xem là sự kiện bất khả kháng, sự kiện phải đáp ứng các điều kiện theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015.

🔹 Đối với cây xanh do đơn vị quản lý: Nếu cây xanh thuộc phạm vi quản lý của công ty hoặc đơn vị được giao quản lý mà thiệt hại xảy ra do việc kiểm tra, chăm sóc, cắt tỉa hoặc xử lý cây không bảo đảm thì trách nhiệm bồi thường có thể được xem xét đối với đơn vị quản lý. Việc xác định trách nhiệm cần căn cứ vào tình trạng thực tế của cây, quá trình quản lý và nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại.

👉 Như vậy, khi cây cối gây thiệt hại, không thể chỉ dựa vào việc “ai sở hữu cây” để xác định trách nhiệm. Cần xem xét đồng thời chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc được giao quản lý cây, nguyên nhân gây thiệt hại, tình trạng của cây và lỗi của các bên liên quan.

📌 Người bị thiệt hại nên chủ động ghi nhận hiện trường, thu thập hình ảnh, video, chứng từ về thiệt hại và thông báo cho chủ thể có trách nhiệm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

👉 Vậy chủ sở hữu có luôn phải bồi thường khi cây đổ gây thiệt hại không? Đơn vị quản lý cây xanh phải chịu trách nhiệm trong trường hợp nào? Khi nào được miễn hoặc giảm trách nhiệm bồi thường?

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/cay-coi-gay-thiet-hai-cho-nguoi-khac-chu-so-huu-hay-don-vi-quan-ly-cay-xanh-phai-boi-thuong

🚨 NGƯỜI MƯỢN XE GÂY TAI NẠN, CHỦ XE CÓ PHẢI BỒI THƯỜNG KHÔNG?Việc cho người thân, bạn bè hoặc người quen mượn xe để đi l...
19/09/2026

🚨 NGƯỜI MƯỢN XE GÂY TAI NẠN, CHỦ XE CÓ PHẢI BỒI THƯỜNG KHÔNG?

Việc cho người thân, bạn bè hoặc người quen mượn xe để đi lại khá phổ biến. Tuy nhiên, nếu người mượn xe gây tai nạn làm thiệt hại về tài sản, sức khỏe hoặc tính mạng của người khác thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ai? Người trực tiếp điều khiển xe hay chủ sở hữu xe?

⚠️ Theo quy định của pháp luật, việc xác định trách nhiệm bồi thường cần căn cứ vào người đang chiếm hữu, sử dụng phương tiện, nguyên nhân gây tai nạn, lỗi của các bên và cách thức chủ xe giao xe.

Theo quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015:

🔹 Phương tiện giao thông cơ giới được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ.

🔹 Trường hợp chủ sở hữu đã giao xe cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người được giao xe có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

🔹 Nếu xe bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng xe trái pháp luật phải bồi thường. Tuy nhiên, nếu chủ sở hữu có lỗi trong việc để xe bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì có thể phải liên đới bồi thường.

👉 Như vậy, người mượn xe gây tai nạn không đồng nghĩa với việc chủ xe luôn phải bồi thường. Trách nhiệm của mỗi bên sẽ được xác định dựa trên tình huống cụ thể và nguyên nhân dẫn đến thiệt hại.

⚠️ Ngoài trách nhiệm dân sự, trong một số trường hợp, chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển và gây hậu quả thuộc trường hợp luật định có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 264 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

📌 Để xác định trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tai nạn, cần xem xét các vấn đề như: ai là người điều khiển xe, chủ xe có giao xe hợp pháp hay không, người mượn xe có đủ điều kiện điều khiển phương tiện, nguyên nhân gây tai nạn và lỗi của từng bên.

👉 Vậy người mượn xe gây tai nạn phải bồi thường trong những trường hợp nào? Khi nào chủ xe phải liên đới bồi thường? Chủ xe giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển có thể bị xử lý hình sự ra sao?

🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/nguoi-muon-xe-gay-tai-nan-chu-xe-co-phai-boi-thuong-khong

🚨 BỊ BÔI NHỌ, XÚC PHẠM TRÊN FACEBOOK, ZALO CÓ THỂ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG KHÔNG?Nhiều người cho rằng những lời nói, bình luận...
10/09/2026

🚨 BỊ BÔI NHỌ, XÚC PHẠM TRÊN FACEBOOK, ZALO CÓ THỂ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG KHÔNG?

Nhiều người cho rằng những lời nói, bình luận trên Facebook, Zalo chỉ là chuyện trên mạng, cùng lắm chỉ cần xóa bài hoặc xin lỗi. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác.

⚠️ Theo quy định của pháp luật, hành vi đăng tải, chia sẻ, bình luận những nội dung xúc phạm, bịa đặt, vu khống hoặc làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Theo từng trường hợp, người thực hiện hành vi có thể:

🔹 Bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

🔹 Bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành Tội làm nhục người khác theo Điều 155 hoặc Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

🔹 Phải bồi thường thiệt hại nếu hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín gây thiệt hại cho người khác theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

👉 Người bị bôi nhọ, xúc phạm có thể yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại nếu có căn cứ.

⚠️ Đặc biệt, khi bị xúc phạm trên Facebook, Zalo, cần nhanh chóng lưu giữ chứng cứ như bài viết, bình luận, hình ảnh, video, tin nhắn, đường link, thời gian đăng tải và những tài liệu chứng minh thiệt hại.

📌 Mạng xã hội không phải là nơi nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật. Một bài đăng, bình luận hoặc thông tin được chia sẻ trên mạng vẫn có thể làm phát sinh trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi.

👉 Vậy trường hợp nào bôi nhọ trên Facebook, Zalo có thể bị xử lý hình sự? Người bị xúc phạm được yêu cầu bồi thường những khoản nào?
🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/bi-boi-nho-xuc-pham-tren-facebook-zalo-co-duoc-boi-thuong

🚨 TRẺ EM GÂY THIỆT HẠI THÌ CHA MẸ CÓ PHẢI BỒI THƯỜNG KHÔNG?Nhiều người cho rằng, “trẻ em gây thiệt hại thì cha mẹ đương ...
06/09/2026

🚨 TRẺ EM GÂY THIỆT HẠI THÌ CHA MẸ CÓ PHẢI BỒI THƯỜNG KHÔNG?
Nhiều người cho rằng, “trẻ em gây thiệt hại thì cha mẹ đương nhiên phải bồi thường” hoặc “trẻ em còn nhỏ, không nhận thức được nên không phải bồi thường”. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác.
⚠️ Theo quy định của pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định dựa trên độ tuổi của trẻ, tài sản của trẻ và người đang trực tiếp quản lý trẻ tại thời điểm xảy ra thiệt hại.
👉 Theo Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015:
🔹Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
🔹 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
🔹 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
🔹Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
⚠️ Đáng chú ý, nếu người dưới 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian trường học trực tiếp quản lý, trường học phải bồi thường, trừ trường hợp chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý. Khi đó, cha mẹ hoặc người giám hộ có thể phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
👉 Ngoài ra, tùy trường hợp, thiệt hại được bồi thường có thể bao gồm thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các chi phí hợp lý khác theo quy định tại Điều 589, Điều 590, Điều 591 và Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015.
📌 Như vậy, không phải cứ trẻ em gây thiệt hại thì cha mẹ trong mọi trường hợp đều phải trực tiếp bồi thường. Cần căn cứ vào độ tuổi của trẻ, tài sản của người gây thiệt hại, người có trách nhiệm quản lý trẻ và hoàn cảnh cụ thể khi thiệt hại xảy ra.
👉 Vậy trường hợp nào cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường? Khi nào trường học hoặc người giám hộ phải chịu trách nhiệm?
🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://luatsuuytin.vn/tre-em-gay-thiet-hai-cha-me-co-phai-boi-thuong-khong

Address

Ho Chi Minh City
700000

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:00
Tuesday 07:30 - 17:00
Wednesday 07:30 - 17:00
Thursday 07:30 - 17:00
Friday 07:30 - 17:00
Saturday 07:30 - 15:00

Telephone

0986424257

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư tư vấn pháp luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư tư vấn pháp luật:

Shortcuts

Share