Luật sư tư vấn pháp luật

Luật sư tư vấn pháp luật - Tư vấn pháp luật miễn phí;
- Thực hiện các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng;
- Bảo vệ, bào chữa đại diện hợp pháp tại các cấp Tòa...

- Tư vấn pháp luật miễn phí cho cá nhân, hộ gia đình, tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp;
- Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại các cấp Toà;
- Đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký đầu tư, đăng ký nhãn hiệu độc quyền và các lĩnh vực sở hữu trí tuệ khác;
- Mua bán, sáp nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp..vv
- Hôn nhân và gia đình (kết hôn, ly hôn, con nuôi, truy nhận cha cho con...

);
- Tuyên bố chết, mất tích;
- Thực hiện tất cả các dịch vụ pháp lý về nhà đất (công chứng mua bán, khai di sản thừa kế, tặng cho, kê khai thuế, đăng bộ (cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất, QSHNO và tài sản khác gắn liền với đất), hợp thức hoá nhà, đất; chuyển mục đích sử dụng đất, xin phép xây dựng, hoàn công công trình;
- Lập di chúc, thỏa thuận tài sản trước, trong và sau hôn nhân;
- Soạn thảo các loại văn bản, hợp đồng thương mại, Hợp đồng hợp tác kinh doanh...

BỊ XÚC PHẠM, BÔI NHỌ TRÊN MẠNG XÃ HỘI, NGƯỜI BỊ HẠI CÓ QUYỀN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG KHÔNG?      Chỉ vì một mâu thuẫn cá nhân...
10/08/2026

BỊ XÚC PHẠM, BÔI NHỌ TRÊN MẠNG XÃ HỘI, NGƯỜI BỊ HẠI CÓ QUYỀN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG KHÔNG?
Chỉ vì một mâu thuẫn cá nhân, không ít người đã lựa chọn đăng bài viết, bình luận hoặc chia sẻ thông tin trên Facebook, Zalo với những lời lẽ xúc phạm, bịa đặt hoặc lan truyền thông tin sai sự thật nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm và uy tín của người khác. Có trường hợp chỉ sau vài giờ, bài viết đã được chia sẻ rộng rãi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc, cuộc sống và các mối quan hệ của người bị nhắc đến.
Nhiều người cho rằng đây chỉ là những lời nói trên mạng xã hội, cùng lắm thì xóa bài hoặc xin lỗi là xong, không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ngược lại, cũng có người nghĩ rằng nếu bị bôi nhọ thì chỉ có thể yêu cầu gỡ bài viết mà không thể yêu cầu xử lý hay bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không xem không gian mạng là nơi nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, người có hành vi bôi nhọ, xúc phạm người khác trên Facebook, Zalo có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại.
1. Hành vi bôi nhọ, xúc phạm người khác trên Facebook, Zalo có vi phạm pháp luật không:
Theo Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
Đồng thời, Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
"Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác."
Như vậy, việc đăng tải bài viết, hình ảnh, video hoặc bình luận trên Facebook, Zalo có nội dung xúc phạm, bịa đặt hoặc làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hành vi xâm phạm quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Tùy từng trường hợp, người thực hiện hành vi có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự.
2. Người bôi nhọ trên mạng xã hội có thể bị xử phạt vi phạm hành chính không:
Theo điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP), hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Như vậy, không phải cứ đăng bài trên Facebook hay Zalo là được quyền nói gì cũng được. Trường hợp cá nhân sử dụng mạng xã hội để xúc phạm, bôi nhọ hoặc lan truyền thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng đến người khác thì ngoài việc buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm, người thực hiện hành vi còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
3. Khi nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
Không phải mọi trường hợp xúc phạm trên mạng xã hội đều bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, nếu hành vi có tính chất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến danh dự, nhân phẩm hoặc bịa đặt thông tin nhằm hạ thấp uy tín của người khác thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể:
Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội làm nhục người khác. Người có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của điều luật này.
Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội vu khống. Trường hợp bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý hình sự.
Việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trên cơ sở hành vi cụ thể, hậu quả xảy ra và các tài liệu, chứng cứ của vụ việc.
4. Người bị bôi nhọ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không:
Theo Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định theo quy định của pháp luật.
Do đó, khi bị bôi nhọ hoặc xúc phạm trên Facebook, Zalo, người bị hại không chỉ có quyền yêu cầu người vi phạm gỡ bỏ bài viết, xin lỗi và cải chính công khai mà còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được hành vi vi phạm đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
5. Cần làm gì khi bị bôi nhọ trên mạng xã hội:
Khi phát hiện mình bị bôi nhọ hoặc xúc phạm trên Facebook, Zalo, người bị hại nên nhanh chóng lưu giữ các tài liệu, chứng cứ như bài viết, bình luận, hình ảnh, video, tin nhắn, đường liên kết (link) bài viết, thời gian đăng tải và các tài liệu liên quan khác.
Tùy từng trường hợp, người bị hại có thể yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ nội dung, xin lỗi, cải chính công khai, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Do đó, mạng xã hội là nơi để kết nối, chia sẻ thông tin và bày tỏ quan điểm, nhưng không phải là nơi để tùy tiện xúc phạm, bôi nhọ hay lan truyền thông tin sai sự thật về người khác. Mọi hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân trên Facebook, Zalo đều có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, từ xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại cho đến truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ.
Mọi thông tin cần hỗ trợ, tư vấn xin vui lòng liên hệ:
- Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2
- Trưởng chi nhánh: Luật sư Phan Văn Tú
- Địa chỉ liên lạc: Số 254, Ấp Tam Đông, xã Đông Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Hotline: 0963.665.079
- Zalo: 0332.734.032
- Website: https://www.luatsuuytin.vn/
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng.
Trân trọng!

TÒA ÁN TUYÊN GIAO CON CHO MẸ NUÔI DƯỠNG, NGƯỜI CHA CÓ CÒN QUYỀN YÊU CẦU THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON KHÔNG?      Gi...
22/07/2026

TÒA ÁN TUYÊN GIAO CON CHO MẸ NUÔI DƯỠNG, NGƯỜI CHA CÓ CÒN QUYỀN YÊU CẦU THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON KHÔNG?
Giả định "Tại Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, theo bản án, Tòa án đã giao cháu Nguyễn Thanh A cho chị Khuất Thị T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, do tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu Nguyễn Thanh A chưa đủ 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, sau một thời gian, người cha là anh Nguyễn Văn H đã khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con với lý do cho rằng điều kiện nuôi dưỡng của các bên đã có sự thay đổi".
Tình huống trên cho thấy, mặc dù bản án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật và Tòa án đã giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, nhưng trong một số trường hợp nhất định, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con vẫn có thể được xem xét. Điều này đặt ra vấn đề được nhiều người quan tâm: Sau khi bản án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, người không trực tiếp nuôi con còn có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con hay không.
Trên thực tế, điều kiện về kinh tế, chỗ ở, môi trường sống cũng như khả năng chăm sóc, giáo dục con của cha hoặc mẹ có thể thay đổi theo thời gian. Có trường hợp người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, cũng có trường hợp cha, mẹ thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho con.
Vậy theo quy định của pháp luật, việc Tòa án giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn có đồng nghĩa với việc người cha vĩnh viễn mất quyền yêu cầu được trực tiếp nuôi con hay không. Trong những trường hợp nào người cha có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con?.
1. Tòa án giao con cho mẹ nuôi dưỡng, người cha có mất quyền yêu cầu nuôi con không:
Theo khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Việc Tòa án quyết định giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất của con tại thời điểm giải quyết vụ án.
Do đó, Tòa án giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng không đồng nghĩa với việc người cha mất quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ chứng minh việc đối phương không có đảm bảo cuộc sống và không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, người cha vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Khi nào được yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
Theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc thỏa thuận này phù hợp với lợi ích của con;
- Người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
Ngoài ra, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì Tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của con trước khi đưa ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng.
Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ.
Như vậy, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con không được thực hiện chỉ dựa trên mong muốn của cha hoặc mẹ mà phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của con.
3. Người cha cần làm gì nếu muốn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
Khi có căn cứ cho rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là cần thiết và sẽ bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của con, người cha có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết, người yêu cầu cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là có căn cứ và cần thiết. Chẳng hạn, có căn cứ cho thấy người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện về kinh tế, thời gian, sức khỏe hoặc môi trường sống để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con; hoặc chứng minh bản thân hiện có điều kiện ổn định hơn, có khả năng bảo đảm cho con được phát triển tốt cả về vật chất lẫn tinh thần.
Trên cơ sở xem xét toàn diện các điều kiện của cha, mẹ, hoàn cảnh thực tế và quyền, lợi ích hợp pháp của con, Tòa án sẽ quyết định có chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay không.
Việc Tòa án giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn không làm mất quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của người cha. Nếu có căn cứ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là cần thiết để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của con, người cha vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Mọi thông tin cần hỗ trợ, tư vấn xin vui lòng liên hệ:
- Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2
- Trưởng chi nhánh: Luật sư Phan Văn Tú
- Địa chỉ liên lạc: Số 254, Ấp Tam Đông, xã Đông Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Hotline: 0963.665.079
- Zalo: 0332.734.032
- Website: https://www.luatsuuytin.vn/
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng.
Trân trọng!

NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI GI-ẾT NGƯỜI BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?      Không phải mọi trường hợp...
16/07/2026

NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI GI-ẾT NGƯỜI BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?
Không phải mọi trường hợp phạm tội gi-ết người đều bị áp dụng cùng một khung hình phạt. Việc xác định trách nhiệm hình sự và mức hình phạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó độ tuổi của người phạm tội là một trong những căn cứ quan trọng. Đối với người dưới 18 tuổi, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định một chế định xử lý riêng với mục tiêu đặt lợi ích của người chưa thành niên lên hàng đầu, kết hợp giữa tính nghiêm minh của pháp luật và chính sách nhân đạo, hướng đến giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng.
1. Người dưới 18 tuổi phạm tội gi-ết người có được giảm nhẹ hình phạt hay không ?
Tội gi-ết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâ.m phạm trực tiếp đến quyền sống của con người và bị xử lý rất nghiêm khắc theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả xảy ra và các tình tiết tăng nặng, người phạm tội có thể phải đối mặt với mức hình phạt từ 07 năm t.ù đến 20 năm t.ù, t.ù chung thân hoặc t.ử hình.
Tuy nhiên, đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, pháp luật hình sự Việt Nam không áp dụng cơ chế xử lý giống như đối với người đã thành niên. Thay vào đó, Bộ luật Hình sự quy định một chính sách hình sự riêng, đề cao mục tiêu giáo dục, giúp người chưa thành niên nhận thức được hành vi sai trái, sửa chữa lỗi lầm và có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.
Cụ thể, theo Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, mức hình phạt t.ù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được giới hạn thấp hơn so với khung hình phạt dành cho người thành niên, cụ thể như sau:
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là t.ù chung thân hoặc t.ử hình thì Tòa án chỉ được áp dụng mức hình phạt tối đa 18 năm t.ù. Trường hợp điều luật quy định hình phạt t.ù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất không vượt quá 03/04 mức phạt t.ù tối đa mà điều luật quy định.
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là t.ù chung thân hoặc t.ử hình thì mức hình phạt tối đa chỉ 12 năm t.ù. Trường hợp điều luật quy định hình phạt t.ù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất không vượt quá 01/02 mức phạt t.ù tối đa của khung hình phạt tương ứng.
Có thể thấy, việc "giảm" hình phạt trong trường hợp này không phải là sự miễn trừ trách nhiệm hình sự hay đương nhiên được hưởng khoan hồng, mà là giới hạn mức hình phạt tối đa theo chính sách xử lý đặc thù dành cho người dưới 18 tuổi. Khi quyết định hình phạt, Tòa án vẫn phải xem xét toàn diện các yếu tố của vụ án như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Như vậy, người dưới 18 tuổi phạm tội gi-ết người vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng được áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với người thành niên theo giới hạn mà Điều 101 Bộ luật Hình sự quy định. Đồng thời, pháp luật Việt Nam không áp dụng hình phạt t.ử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, kể cả trong trường hợp phạm tội gi-ết người thuộc khung hình phạt có quy định mức án cao nhất là t.ử hình.
2. Có áp dụng hình phạt t.ử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gi-ết người hay không?
Câu trả lời là KHÔNG. Vậy khẳng định này được căn cứ ở đâu?
Theo khoản 2 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015, người dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội không thuộc đối tượng bị áp dụng hình phạt t.ử hình, kể cả khi hành vi phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng mà điều luật có quy định mức hình phạt cao nhất là t.ử hình.
Quy định này xuất phát từ chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, trên cơ sở ghi nhận người dưới 18 tuổi là chủ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Vì vậy, việc xử lý đối với người chưa thành niên không chỉ nhằm trừng trị hành vi phạm tội mà còn hướng đến mục tiêu giáo dục, cải tạo và tạo điều kiện để họ sửa chữa sai lầm, tái hòa nhập cộng đồng.
Đối với tội gi-ết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, mặc dù khung hình phạt cao nhất đối với người thành niên có thể là t.ử hình, nhưng khi người phạm tội chưa đủ 18 tuổi thì Tòa án không được phép tuyên hình phạt t.ử hình. Thay vào đó, mức hình phạt được xác định theo Điều 101 Bộ luật Hình sự, với giới hạn tối đa là:
- Không quá 18 năm t.ù đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là t.ù chung thân hoặc t.ử hình.
- Không quá 12 năm t.ù đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong cùng trường hợp.
Như vậy, có thể khẳng định rằng pháp luật hình sự Việt Nam tuyệt đối không áp dụng hình phạt t.ử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, kể cả đối với tội gi-ết người hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm với chính sách bảo vệ, giáo dục và tạo cơ hội phục hồi đối với người chưa thành niên.
Người dưới 18 tuổi phạm tội gi-ết người không được miễn trách nhiệm hình sự và vẫn phải chịu sự xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên và chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, pháp luật đã thiết lập một cơ chế xử lý riêng đối với nhóm chủ thể này.
Theo đó, mặc dù tội gi-ết người là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt cao nhất có thể là t.ử hình đối với người thành niên, nhưng người dưới 18 tuổi sẽ không bị áp dụng hình phạt t.ử hình. Đồng thời, mức hình phạt tù cũng được giới hạn theo độ tuổi, bảo đảm phù hợp với khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và mục tiêu giáo dục, cải tạo, giúp họ có cơ hội sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập xã hội.
Có thể thấy, chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội gi-ết người của pháp luật Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và tính nhân đạo trong bảo vệ, giáo dục người chưa thành niên. Điều này không đồng nghĩa với việc khoan dung hay dung túng cho hành vi phạm tội, mà là sự cá thể hóa trách nhiệm hình sự trên cơ sở độ tuổi, mức độ phát triển về nhận thức và khả năng phục hồi của người phạm tội, qua đó vừa bảo đảm công lý, vừa thể hiện giá trị nhân văn của pháp luật hình sự Việt Nam.
Mọi thông tin cần hỗ trợ, tư vấn xin vui lòng liên hệ:
- Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2
- Trưởng chi nhánh: Luật sư Phan Văn Tú
- Địa chỉ liên lạc: Số 254, Ấp Tam Đông, xã Đông Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Hotline: 0963.665.079
- Zalo: 0332.734.032
- Website: https://www.luatsuuytin.vn/
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng.
Trân trọng!

CHO NGƯỜI QUEN VAY TIỀN NHƯNG KHÔNG CÓ GIẤY VAY, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC KHÔNG?      Trong cuộc sống, việc cho người thân, bạn b...
11/07/2026

CHO NGƯỜI QUEN VAY TIỀN NHƯNG KHÔNG CÓ GIẤY VAY, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC KHÔNG?
Trong cuộc sống, việc cho người thân, bạn bè hoặc người quen vay tiền thường xuất phát từ sự tin tưởng hơn là các ràng buộc pháp lý. Vì vậy, không ít trường hợp các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, chuyển khoản hoặc giao tiền trực tiếp mà không tiến hành lập Giấy vay tiền hay Hợp đồng vay tài sản và các giấy tờ xác nhận việc nhận bàn giao tiền khi thực hiện cho vay.
Khi mối quan hệ còn tốt, việc trả nợ thường diễn ra bình thường. Tuy nhiên, đến khi người vay liên tục trì hoãn, né tránh hoặc thậm chí phủ nhận việc đã vay tiền, người cho vay mới nhận ra mình không có bất kỳ Giấy tờ nào để chứng minh đối với khoản vay đó. Điều này khiến nhiều người lo ngại rằng nếu không có Giấy vay tiền thì sẽ không thể đòi lại số tiền đã cho vay. Vậy theo quy định của pháp luật, cho người khác vay tiền nhưng không lập giấy vay tiền có cơ sở để yêu cầu bên vay trả nợ hay không. Nếu phát sinh tranh chấp thì bên cho vay tiền cần cung cấp những chứng cứ, tài liệu nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
1. Không có Giấy vay tiền bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả nợ không:
Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay và khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng , chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có sự thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Bên cạnh đó, theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Giao dịch dân sự có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch phải được lập thành văn bản hoặc phải tuân thủ hình thức nhất định”.
Pháp luật không quy định Hợp đồng vay tài sản đều phải lập thành văn bản. Việc các bên không lập Giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc giao dịch vay đó, không có giá trị pháp lý hoặc người cho vay tiền mất quyền yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
2. Không có Giấy vay tiền thì bên cho vay tiền cần cung cấp những chứng cứ, tài liệu nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Mặc dù pháp luật không quy định Hợp đồng vay tài sản phải được lập thành văn bản, nhưng khi phát sinh tranh chấp giữa các bên, người cho vay tiền có nghĩa vụ chứng minh việc các bên đã giao kết hợp đồng vay tài sản và quan hệ vay tài sản đã thực sự phát sinh trên thực tế.
Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
Trên thực tế, Giấy vay tiền chỉ là một trong những căn để chứng minh việc giữa các bên đã xác lập quan hệ vay tài sản. Trường hợp không có Giấy vay tiền, bên cho vay vẫn có thể sử dụng các tài liệu, chứng cứ khác như tin nhắn, email, ghi âm, ghi hình, sao kê chuyển khoản có ghi rõ nội dung cho vay, người làm chứng hoặc các tài liệu thể hiện việc người vay đã nhận tiền và thừa nhận nghĩa vụ trả nợ.
Trên cơ sở các chứng cứ do các bên cung cấp, Tòa án sẽ xem xét, đánh giá toàn diện nội dung, bản chất vụ việc theo quy định của pháp luật để xác định có hay không việc các bên đã xác lập quan hệ vay tài sản và làm căn cứ giải quyết vụ án.
3. Người vay tiền không trả nợ, người cho vay có thể làm gì?
Trong trường hợp có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc giữa các bên đã xác lập quan hệ vay tài sản nhưng người vay không thực hiện hoặc cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn trả nợ, người cho vay tiền có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ tiền hoặc tài sản đã vay khi đến hạn theo thỏa thuận.
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tùy từng trường hợp cụ thể, bên vay còn có thể phải trả lãi theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của Bộ luật Dân sự. Bên cạnh đó, theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Vì vậy, khi người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, người cho vay cần chủ động chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu và chứng cứ có liên quan để thực hiện việc khởi kiện trong thời hiệu theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để xác định có hay không quan hệ vay tài sản, từ đó xem xét nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền vay, tiền lãi (nếu có) và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Việc không có giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc người cho vay tiền mất quyền yêu cầu người vay hoàn trả khoản tiền đã vay. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người cho vay cần chủ động lưu giữ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giao nhận tiền ngay từ thời điểm phát sinh giao dịch.
Để hạn chế những tranh chấp có thể xảy ra, khi cho người khác vay tiền, các bên nên lập giấy vay hoặc hợp đồng vay bằng văn bản, ghi rõ số tiền vay, thời hạn trả, lãi suất (nếu có), phương thức thanh toán và có chữ ký của các bên. Trường hợp giao tiền bằng hình thức chuyển khoản, nên ghi rõ nội dung chuyển tiền để tạo căn cứ chứng minh khi phát sinh tranh chấp.
Mọi thông tin cần hỗ trợ, tư vấn xin vui lòng liên hệ:
- Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2
- Trưởng chi nhánh: Luật sư Phan Văn Tú
- Địa chỉ liên lạc: Số 254, Ấp Tam Đông, xã Đông Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Hotline: 0963.665.079
- Zalo: 0332.734.032
- Website: https://www.luatsuuytin.vn/
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng.
Trân trọng!

NGƯỜI NHẬN TIỀN DO CHUYỂN KHOẢN NHẦM NHƯNG KHÔNG TRẢ LẠI THÌ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?      Trong thời đại công nghệ số, các gi...
09/07/2026

NGƯỜI NHẬN TIỀN DO CHUYỂN KHOẢN NHẦM NHƯNG KHÔNG TRẢ LẠI THÌ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Trong thời đại công nghệ số, các giao dịch chuyển khoản ngân hàng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày. Chỉ với vài thao tác trên điện thoại, việc thanh toán tiền hàng, chuyển tiền cho người thân hay thực hiện các giao dịch kinh doanh có thể hoàn tất trong vài giây. Sự tiện lợi này giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian, nhưng cũng kéo theo không ít rủi ro khi chỉ cần nhập sai một con số trong số tài khoản hoặc chọn nhầm người nhận là tiền có thể được chuyển đến một tài khoản hoàn toàn xa lạ.
Thực tế cho thấy, không ít trường hợp người chuyển tiền phát hiện sai sót ngay sau khi giao dịch thành công. Có người chỉ chuyển nhầm vài trăm nghìn đồng, nhưng cũng có trường hợp số tiền lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng. Trong tâm trạng lo lắng, họ tìm mọi cách liên hệ với ngân hàng, nhờ hỗ trợ kết nối với người nhận để mong được hoàn trả số tiền đã chuyển nhầm. Tuy nhiên, không phải lúc nào mọi việc cũng diễn ra thuận lợi như mong muốn.
Có những trường hợp người nhận thiện chí hợp tác và nhanh chóng hoàn trả số tiền không thuộc về mình. Thế nhưng cũng có những trường hợp người nhận biết rõ đó là khoản tiền chuyển nhầm nhưng vẫn cố tình im lặng, né tránh liên lạc hoặc sử dụng số tiền đó vào mục đích cá nhân. Điều này không chỉ khiến người chuyển tiền chịu thiệt hại về tài sản mà còn đặt ra nhiều tranh cãi về trách nhiệm, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý đối với người nhận tiền.
Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, khi nhận được tiền do người khác chuyển khoản nhầm, người nhận có bắt buộc phải hoàn trả hay không? Trường hợp cố tình không trả lại số tiền đã nhận nhầm thì sẽ bị xử lý như thế nào?
Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm và cần được hiểu đúng để tránh những hệ lụy pháp lý không đáng có:
Căn cứ tại Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản như sau:
- Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự 2015.
- Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự 2015.
Như vậy, theo quy định pháp luật thì người nhận tiền cho chuyển khoản nhầm thì phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đó cho chủ sở hữu. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì phải giao số tiền đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc liên với ngân hàng để để hỗ trợ trả lại.
Nhưng nếu người nhận tiền do chuyển khoản nhầm mà không chịu hoàn trả lại cho chủ sở hữu thì tùy vào mức độ, có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:
Xử phạt hành chính theo quy định tại điểm đ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 18 Nghị định 282/2025/ND-CP như sau:
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chiếm giữ tài sản của người khác.
- Hình thức xử phạt bổ sung:
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm;
+ Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm.
- Biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm;
+ Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm
Truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự 2015 về tội chiếm giữ trái phép tài sản:
1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, nếu người nhận tiền do chuyển khoản nhầm nhưng không hoàn trả số tiền cho người đã mất thì tùy vào số tiền mà người nhận chiếm giữ trái phép của người khác thì sẽ bị xử phạt hành chính từ 3 đến 5 triệu đồng hoặc bị bị xử hình sự với hính phạt cao nhất đến 05 năm.
Từ những quy định nêu trên có thể thấy, số tiền được chuyển khoản nhầm không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người nhận. Vì vậy, khi biết rõ khoản tiền được chuyển nhầm, người nhận có nghĩa vụ hoàn trả cho chủ sở hữu hoặc phối hợp với ngân hàng, cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Việc cố tình chiếm giữ, sử dụng hoặc không hoàn trả số tiền này không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà còn có thể khiến người vi phạm phải đối mặt với các chế tài nghiêm khắc, từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong bối cảnh các giao dịch điện tử ngày càng phổ biến, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức pháp luật, ứng xử trung thực và có trách nhiệm khi phát hiện tài khoản của mình nhận được tiền không rõ nguồn gốc hoặc do người khác chuyển nhầm. Một hành động hoàn trả kịp thời không chỉ thể hiện sự văn minh, thiện chí trong các quan hệ dân sự mà còn giúp tránh những rủi ro pháp lý không đáng có cho chính bản thân mình.
Đừng để một khoản tiền không thuộc về mình trở thành nguyên nhân khiến bản thân phải đối mặt với các chế tài của pháp luật. Trung thực hoàn trả tài sản nhận nhầm không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là chuẩn mực đạo đức cần được mỗi cá nhân tôn trọng và thực hiện.
Mọi thông tin cần hỗ trợ, tư vấn xin vui lòng liên hệ:
- Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2
- Trưởng chi nhánh: Luật sư Phan Văn Tú
- Địa chỉ liên lạc: Số 254, Ấp Tam Đông, xã Đông Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Hotline: 0963.665.079
- Zalo: 0332.734.032
- Website: https://www.luatsuuytin.vn/
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng.
Trân trọng!

Address

Ho Chi Minh City
700000

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:00
Tuesday 07:30 - 17:00
Wednesday 07:30 - 17:00
Thursday 07:30 - 17:00
Friday 07:30 - 17:00
Saturday 07:30 - 15:00

Telephone

0986424257

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư tư vấn pháp luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư tư vấn pháp luật:

Shortcuts

Share