07/10/2026
🚨 TIÊU THỤ TÀI SẢN HOẶC CHỨA CHẤP TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ – NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý
Trong thực tế, việc mua bán, trao đổi, cầm cố hoặc nhận giữ tài sản diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, nếu tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội thì người mua hoặc người nhận tài sản có đương nhiên bị xử lý hình sự hay không?
Không phải mọi trường hợp mua hoặc nhận tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để xác định trách nhiệm pháp lý, cần xem xét các dấu hiệu của Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.
⚠️ Tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu như thế nào?
Theo quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, tài sản do người khác phạm tội mà có là tài sản mà người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được thông qua việc mua bán, trao đổi bằng tài sản có nguồn gốc trực tiếp từ hành vi phạm tội.
Tài sản trong trường hợp này có thể bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản, động sản, bất động sản, hoa lợi, lợi tức...
🔹 Khi nào hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản bị xử lý hình sự?
Theo Điều 323 Bộ luật Hình sự, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để xem xét trách nhiệm hình sự, cần đặc biệt lưu ý các yếu tố sau:
🔹 Tài sản phải có nguồn gốc từ hành vi phạm tội: Không phải mọi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp đều thuộc trường hợp điều chỉnh của Điều 323 BLHS.
🔹 Người thực hiện phải “biết rõ” tài sản do phạm tội mà có: Việc tài sản có giá rẻ, không đầy đủ giấy tờ hoặc giao dịch có dấu hiệu bất thường không mặc nhiên chứng minh người mua biết rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản. Việc xác định phải dựa trên các tình tiết và chứng cứ cụ thể của vụ việc.
🔹 Hành vi phải được thực hiện “không hứa hẹn trước”: Nếu người thực hiện đã có sự thỏa thuận, hứa hẹn từ trước với người phạm tội về việc tiếp nhận hoặc tiêu thụ tài sản thì có thể phải xem xét trách nhiệm pháp lý dưới góc độ đồng phạm với tội phạm nguồn.
⚠️ Các dấu hiệu cơ bản của Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
🔹 Về chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của tội phạm này.
🔹 Về khách thể: Hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và có liên quan đến quyền sở hữu tài sản.
🔹 Về mặt khách quan: Người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có.
🔹 Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong đó nhận thức rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản nhưng vẫn thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ.
🚨 Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bị phạt bao nhiêu?
Theo Điều 323 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng các mức hình phạt tùy thuộc vào tính chất, mức độ hành vi, giá trị tài sản hoặc số tiền thu lợi bất chính.
🔹 Khung cơ bản: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
🔹 Khung từ 03 năm đến 07 năm: Áp dụng trong một số trường hợp như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tài sản trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc tái phạm nguy hiểm.
🔹 Khung từ 07 năm đến 10 năm: Khi tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng.
🔹 Khung từ 10 năm đến 15 năm: Khi tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
🔹 Phạm tội lần đầu có được giảm nhẹ hình phạt không?
“Phạm tội lần đầu” không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định một người có phạm tội hay không.
Trường hợp người phạm tội phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thì có thể được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, việc chưa từng bị kết án không đồng nghĩa với việc đương nhiên được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Hai điều kiện “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” phải được xem xét đồng thời.
⚠️ Chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm có bị xử phạt hành chính không?
Trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 323 BLHS, người thực hiện vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp pháp luật quy định.
Theo quy định hiện hành, hành vi mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có có thể bị phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng.
Ngoài ra, tùy trường hợp, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý bổ sung như trục xuất đối với người nước ngoài hoặc buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.
👉 Như vậy, không phải cứ mua hoặc nhận một tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp là đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý theo Điều 323 BLHS cần làm rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản, nhận thức của người thực hiện về nguồn gốc tài sản và điều kiện “không hứa hẹn trước”.
👉 Ngược lại, nếu một người biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn cố ý chứa chấp hoặc tiêu thụ, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
👉 Vì vậy, khi mua bán, nhận cầm cố hoặc nhận chuyển giao tài sản, mỗi cá nhân nên kiểm tra nguồn gốc, giấy tờ và quyền sở hữu tài sản, đặc biệt đối với những giao dịch có giá trị bất thường hoặc có dấu hiệu đáng ngờ, nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý.
🔎 Xem chi tiết bài viết tại website của Công ty Luật TNHH Nhật Bình - Chi nhánh số 2: https://www.luatsuuytin.vn/tieu-thu-san-pham-hoac-chua-chap-tai-san-do-nguoi-khac-pham-toi-ma-co-nhung-van-de-phap-ly-can-luu-y