Công ty Sở Hữu Trí Tuệ Đông Dương

Công ty Sở Hữu Trí Tuệ Đông Dương Cung cấp các dịch vụ pháp lý, tham gia tố tụng trong các vụ án: hình sự, dân sự?

Công ty Sở hữu trí tuệ Đông Dương là tổ chức chuyên nghiệp về tư vấn, đại diện sở hữu trí tuệ đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đại diện sở hữu công nghiệp theo quyết định số 3566/QĐ-SHTT(mã số đại diện 209) và là đơn vị được Cục Bản quyền tác giả công nhận là tổ chức tư vấn, đại diện quyền tác giả, quyền liên quan theo văn bản số 237/BQTG-ĐK. Chúng tôi luôn nổ lực để trở thành đơn vị cung cấp dịch vụ sở hữu trí tuệ hàng đầu tại Việt Nam.

👉 Bún bò Huế tiếp tục được đăng ký sở hữu trí tuệCó một danh mục các món ăn đề xuất đăng ký nhãn hiệu chứng nhận "Huế - ...
10/02/2023

👉 Bún bò Huế tiếp tục được đăng ký sở hữu trí tuệ
Có một danh mục các món ăn đề xuất đăng ký nhãn hiệu chứng nhận "Huế - Kinh đô ẩm thực". Bún bò Huế là một trong những món ăn thuộc danh mục này. Như vậy, bún bò Huế đang đứng trước việc có thêm một lần có chứng nhận sở hữu trí tuệ nữa. Trước đó, năm 2016, bún bò Huế đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chứng nhận, có hạn sử dụng đến 2026. Theo chứng nhận này, ai muốn sử dụng logo (như đã được cấp giấy) phải xin phép Sở Du lịch Thừa Thiên-Huế, sau đó là xin phép Hiệp hội Du lịch Thừa Thiên-Huế. Nếu không có nhu cầu sử dụng logo này thì hoạt động bình thường.
Sau bún bò là bánh nậm, bánh lọc
Cũng theo danh sách Sở KH-CN Thừa Thiên-Huế cung cấp, có 6 nhóm món ăn được đăng ký nhãn hiệu chứng nhận "Huế - Kinh đô ẩm thực".
Nguồn:

Bún bò Huế sẽ là một trong những sản phẩm dự kiến được đăng ký nhãn hiệu chứng nhận "Huế - Kinh đô ẩm thực".

DỪNG ĐỂ MẤT BÒ MỚI LO LÀM CHUỒN(Nhân sự kiện Việt Nam chậm đăng ký thương hiệu Gạo ST25 tại Mỹ và thông điệp Ngày sở hữu...
10/05/2021

DỪNG ĐỂ MẤT BÒ MỚI LO LÀM CHUỒN
(Nhân sự kiện Việt Nam chậm đăng ký thương hiệu Gạo ST25 tại Mỹ và thông điệp Ngày sở hữu trí tuệ thế giới năm 2021)
http://credent.net/dung-de-mat-bo-roi-moi-lam-chuong

Luật sư Nguyễn Hoàng Hải (*)

Liên quan đến câu chuyện kỹ sư Hồ Quang Cua bị các doanh nghiệp tại Mỹ đăng ký thương hiệu gạo ST25 (gạo Sóc Trăng 25), một thương hiệu gạo đã đoạt giải tại cuộc thi Gạo ngon nhất thế giới diễn ra ở Philippines cuối năm 2019. Tại sao không đăng ký thương hiệu Gạo ST25 ở Mỹ sớm hơn và vai trò của các cơ quan Nhà nước như UBND tỉnh Sóc Trăng, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), Bộ Nông ngiệp và phát triển nông thôn,… sẽ hỗ trợ những gì cho kỹ sư Hồ Quang Cua trong quá trình đăng ký và đòi lại thương hiệu ST25 tại Hoa Kỳ cũng như một số nước khác trên thế giới trong thời gian tới?

Hiện nay theo dữ liệu được công bố tại Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (United States Patent and Trademark Office – USPTO) các đơn đăng ký cho thương hiệu Gạo ST25 tại Hoa Kỳ chỉ mới trong giai đoạn nộp và thẩm định nội dung đơn đăng ký, chưa được cấp văn bằng bảo hộ vì vậy cũng chưa hẳn kỹ sư Hồ Quang Cua đã mất thương hiệu Gạo ST25. Có nhiều cách thức để đăng ký thương hiệu Gạo ST25 tại Hoa Kỳ đó là đăng ký bằng cách nộp trực tiếp tại USPTO hoặc nộp thông qua Hệ thống Madrid (Madrid System) có chỉ định quốc gia muốn đăng ký đó là Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ đã tham gia và là thành viên của Nghị định thư Madrid từ ngày 02/11/2003, sau đó ngày 11/07/2021 Việt Nam mới là thành viên (Việt Nam là thành viên của Thoả ước Madrid rất sớm từ ngày 08/03/1949). Việc đăng ký trực tiếp tại Hoa Kỳ sẽ tốn kém hơn do ngoài lệ phí theo quy định phải nộp cho USPTO thì phí luật sư tại Hoa Kỳ cao hơn rất nhiều nhưng bù lại thời gian để được cấp văn bằng bảo hộ nhanh hơn. Còn nếu thông qua Hệ thống Madrid thì chi phí thấp hơn vì chỉ nộp phí cho Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) trong đó đã bao gồm phí của nước mà người nộp đơn chỉ định đăng ký tại Hoa Kỳ, nộp đơn theo hình thức này thì thời gian cấp văn bằng sẽ lâu hơn. Đối với trường hợp của kỹ sư Hồ Quang Cua thì nộp đơn đăng ký thương hiệu Gạo ST25 thông qua hệ thống Madrid là phù hợp nhất vì chỉ cần ngồi ở Việt Nam kỹ sư Hồ Quang Cua có thể nộp đơn cho WIPO từ đó WIPO sẽ thẩm định về hình thức đơn và chuyển đơn cho USPTO thẩm định nội dung đơn. Tuy nhiên để nộp được đơn cho WIPO thì kỹ sư Hồ Quang Cua phải có đơn đã được nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ (NOIP) trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ là cơ quan tiếp nhận đơn đăng ký các đối tượng sở hữu công nghiệp tại Việt Nam. Theo dữ liệu tại NOIP thì tính đến ngày 23/04/2021 thương hiệu ST25 có 5 đơn vị đã nộp đơn để xin cấp văn bằng bảo bộ, trong đó có 1 doanh nghiệp của Hoa Kỳ còn lại là doanh nghiệp Việt Nam, đơn nộp sớm nhất là ngày 20/03/2020 và muộn nhất là ngày 11/12/2020. Như vậy kỹ sư Hồ Quang Cua hiện nay vẫn chưa nộp đơn đăng ký bảo hộ thương hiệu ST25 cho sản phẩm gạo tại Việt Nam thì nói gì đến việc đăng ký tại Hoa Kỳ? trong thời gian vừa qua vai trò của các cơ quan Nhà nước ở đâu và làm gì để hỗ trợ cho kỹ sư Hồ Quang Cua?

Như vậy để lấy lại thương hiệu ST25 trước hết kỹ sư Hồ Quang Cua phải nộp đơn đăng ký bảo hộ tại NOIP, trên cơ sở của đơn này mới nộp đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid có chỉ định Hoa Kỳ, sẵn dịp này sẽ chỉ định một số thị trường khác như Liên minh châu Âu, Nhật bản, Trung Quốc, Ấn độ, Philipines,… là những nước mà Việt Nam sẽ dự định xuất khẩu gạo. Kỹ sư Hồ Quang Cua tự mình hoặc thông qua một đơn vị hoạt động dịch vụ sở hữu công nghiệp chuyên nghiệp mà không cần phải ngồi chờ đợi sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước. Sau đó thủ tục khiếu kiện tại USPTO sẽ được thực hiện sau khi có đơn đăng ký quốc tế đã nộp qua WIPO. Các thủ tục này hoàn toàn có thể thực hiện thông qua cổng thông tin trực tuyến tại WIPO, NOIP nên người nộp đơn cũng không phải đi lại nhiều. Việc đòi lại thương hiệu ST25 tại Hoa Kỳ mất nhiều thời gian và chi phí hơn có thể bằng con đường thương lượng hoặc qua con đường toà án đây là hành trình khá gian nan. Tuy nhiên đối với Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ thì họ sẽ áp dụng theo nguyên tắc ưu tiên cho người sử dụng trước (first to use) hơn là nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first to file), vì vậy kỹ sư Hồ Quang Cua sẽ có lợi thế hơn nếu có bằng chứng chứng minh gạo ST25 đã được xuất khẩu và tiêu thụ tại Hoa Kỳ trước ngày 18/06/2020 là ngày mà những đơn vị kia đã nộp xin bảo hộ tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên cung có thể Hoa Kỳ sẽ không cấp văn bằng bảo hộ cho gạo ST25 do tên gọi ST25 không đáp ứng quy định của luật Hoa Kỳ về nhãn hiệu.

Theo thông tin từ Cục Sở hữu trí tuệ thì(1) dấu hiệu ST25 (tên gọi cho giống lúa) không đáp ứng điều kiện bảo hộ thương hiệu do “không có khả năng phân biệt” theo quy định tại Điều 74.2.b của luật Sở hữu trí tuệ nghĩa là ST25 là tên của hàng hoá (lúa). Hiểu nôm na là trồng giống lúa ST25 cho ra lúa và sản xuất ra gạo của giống lúa ST25 thì gạo ST25 này cũng giống như Gạo Chợ Đào, Gạo Nàng Hương, Gạo tám xoan Hải Hậu, Gạo tám thơm Điện Biên, Gạo Trân Châu, Gạo trắng Cần Thơ,… do đó ST25 sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa là thương hiệu tại Việt Nam cũng như tại Hoa Kỳ và có thể là một số nước khác do là tên gọi chung cho một loại gạo nên không có khả năng phân biệt. Để một dấu hiệu có thể được bảo hộ phải đáp ứng quy định tại Điều 4.16 và Điều 74.1 khoản 1 của luật Sở hữu trí tuệ đó là thương hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau và thương hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ . Câu chuyện bảo hộ được hay không được hạ hồi tính sau nhưng qua sự việc này cho thấy kỹ sư Hồ Quang Cua và các cộng sự của mình cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quá chậm chạp và để đánh mất cơ hội đến với mình, mà cơ hội thì không nhiều đôi khi chỉ đến có một lần và ra đi thì đi mãi mãi.

Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể nhất là UBND tỉnh Sóc Trăng – nơi khởi đầu và làm nên thương hiệu gạo ST25 cũng cần phải vào cuộc mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn giúp kỹ sư Hồ Quang Cua đăng ký thương hiệu trong thời gian tới. Sau thương hiệu ST25, ST24 và còn nhiều ST gạo khác… cần phải có kế hoạch và lộ trình trong việc đăng ký từ rất sớm trước khi sản phẩm được thương mại hoá đưa ra thị trường. Những thương hiệu này sẽ là tài sản vô cùng quý giá của doanh nghiệp cũng như quốc gia, với một nước xuất khẩu gạo đứng hàng nhất nhì thế giới thì vai trò của thương hiệu gạo như ST25 hết sức quang trọng, do đó việc lấy lại và giữ được thương hiệu này cần phải làm ngay, cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía. Việc nhanh chân đăng ký ngay từ đầu sẽ đảm bảo sự chắc chắn và ít tốn kém hơn so với việc đăng ký muộn để rồi có nguy cơ mất, phải gian nan lắm mới đòi lại được. Bài học “mất bò mới lo làm chuồn” các doanh nghiệp Việt Nam đã được học nhiều trong thời gian qua với các thương hiệu như cà phê Trung Nguyên, nước mắm phú Quốc, bánh phồng tôm Sa Giang, kẹo dừa Thanh Long (thương hiệu bà Hai mắt kiếng – bà Hai Tỏ Bến Tre),… Âu đây cũng là bài học cho doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa, những doanh nghiệp khởi đầu của quá trình khởi nghiệp muốn gìn giữ và bảo vệ thương hiệu trước khi bước ra thị trường lớn – sân chơi thế giới.

Nhân sự kiện gạo ST25 mà nghĩ về thông điệp ngày Sở hữu trí tuệ thuế giới mà WIPO đưa ra cho năm nay (26/04/2021) đó là “Sở hữu trí tuệ & Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Mang ý tưởng của bạn đến với thị trường". Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa do tiềm lực còn yếu, tài sản trí tuệ là bệ đỡ cho doanh nghiệp, từ lúc hình thành ý tưởng, bắt tay vào nghiên cứu, cho ra những sản phẩm trí tuệ bao gồm các đối tượng như công nghệ, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, giống cây trồng và sản phẩm nông nghiệp, tác phẩm, văn hoá địa phương, pháp lý và giải quyết tranh chấp. Một khi sản phẩm trí tuệ đã được hình thành thì phải được hỗ trợ đăng ký và thức đẩy khai thác thương mại đưa vào thị trường. Thông điệp năm nay rất giống và khá trùng hợp với trường hợp của kỹ sư Hồ Quang Cua và cộng sự khi mà họ đã dành hơn 20 năm nghiên cứu miệt mài vẫn đang say sưa nghiên cứu cho ra những giống lúa gạo nổi tiếng khác.

(*)Luật sư điều hành Công ty luật Credent

(1)http://noip.gov.vn/vi_VN/web/guest/tin-tuc-su-kien/-/asset_publisher/7xsjBfqhCDAV/content/mot-so-van-e-lien-quan-en-thong-tin-thuong-hieu-gao-st25-bi-anh-cap-tai-hoa-ky

Doanh Nghiệp "CHẾT" nhưng không được "CHÔN" do vướng "THUẾ".Vướng mắc lớn nhất trong tiến trình giải thể làm cho DN khôn...
09/09/2020

Doanh Nghiệp "CHẾT" nhưng không được "CHÔN" do vướng "THUẾ".

Vướng mắc lớn nhất trong tiến trình giải thể làm cho DN không giải thể được chủ yếu nằm ở hồ sơ của cơ quan thuế, nghĩa là trước khi giải thể cơ quan thuế phải soát xét nghĩa vụ thuế của DN đã “hoàn thành” thì mới được giải thể, còn các nghĩa vụ khác với chủ nợ hay bên thứ ba đôi khi DN “liệu cơm gắp mắm” được. Không biết do thời gian 5 ngày có quá ngắn cho cơ quan thuế hay không mà hiện nay hồ sơ giải thể DN gần như “bất động’ tại cơ quan thuế. Rất ít hồ sơ được giải quyết ở khâu này vì nhiều lý do như cơ quan thuế không làm kịp, không muốn làm, DN không chịu “chi” hay còn lý do nào khác mà hàng triệu triệu hồ sơ giải thể vẫn còn nằm ở cơ quan thuế không được giải quyết. Điều này sẽ đẩy DN rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” hoạt động không được mà giải thể cũng không xong. Thực tế không phải hồ sơ giải thể nào cũng phức tạp đến mức làm hoài không xong, mà có nhiều hồ sơ rất đơn giản, phát sinh ít, DN không nợ cũng không vi phạm gì về thuế nhưng cơ quan thuế cứ “ngâm” hoài làm cho DN khá mệt mỏi. Mà thủ tục bên thuế chưa xong thì còn lâu mới giải thể được.

Xem thêm: http://credent.net/giai-the-doanh-nghiep-can-mot-khung-phap-ly-hoan-chinh

NGHỊ ĐỊNH SỐ 24/2019/NĐ-CPSỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 19/2011/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 3 NĂM 2011 CỦA CHÍNH...
09/03/2019

NGHỊ ĐỊNH SỐ 24/2019/NĐ-CP

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 19/2011/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 3 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NUÔI CON NUÔI

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi

1. Sửa đổi khoản 1 Điều 2 như sau:

“1. Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.”

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 3 như sau:

“1. Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 28 của Luật nuôi con nuôi, gồm trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em mắc các bệnh về máu; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác cần điều trị khẩn cấp hoặc cả đời.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:

“Điều 4. Hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo ở cơ sở nuôi dưỡng

Việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Luật nuôi con nuôi, pháp luật về tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản viện trợ, tài trợ cho các cơ sở nuôi dưỡng công lập và ngoài công lập và quy định cụ thể sau đây:

1. Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ nhân đạo thông qua chương trình, dự án, viện trợ phi dự án hoặc tài trợ cho Quỹ bảo trợ trẻ em.

2. Khi hỗ trợ nhân đạo, cá nhân, tổ chức không được yêu cầu cơ sở nuôi dưỡng cho trẻ em làm con nuôi; cơ sở nuôi dưỡng không được cam kết cho trẻ em làm con nuôi vì lý do đã nhận hỗ trợ nhân đạo.

Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ trợ nhân đạo bằng tiền thì phải thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng.

3. Khi hỗ trợ, tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo, ngoài việc thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cha mẹ nuôi nước ngoài, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam và cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm như sau:

a) Cha mẹ nuôi nước ngoài thông tin cho tổ chức con nuôi nước ngoài về các khoản hỗ trợ nhân đạo đã thực hiện ở Việt Nam;

b) Định kỳ 06 tháng và hằng năm hoặc theo yêu cầu, tổ chức con nuôi nước ngoài báo cáo Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Cục Con nuôi) các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và của tổ chức;

c) Định kỳ 06 tháng và hằng năm hoặc theo yêu cầu, cơ sở nuôi dưỡng báo cáo việc tiếp nhận, sử dụng và quản lý các khoản hỗ trợ nhân đạo theo quy định của pháp luật và báo cáo Cục Con nuôi về việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.”

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

“Điều 6. Rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi

1. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã hàng tháng rà soát, đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi. Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa vào sống ở cơ sở nuôi dưỡng, cơ sở nuôi dưỡng đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi. Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì cơ sở nuôi dưỡng giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật nuôi con nuôi, xin ý kiến của cơ quan chủ quản. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, cơ quan chủ quản có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi.

3. Việc tìm người nhận trẻ em làm con nuôi được thực hiện như sau:

a) Khi tiếp nhận hồ sơ trẻ em theo quy định tại khoản 2 Điều này, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 của Luật nuôi con nuôi thì Sở Tư pháp giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi và giới thiệu người nhận con nuôi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, đối với trẻ em không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này thì Sở Tư pháp thông báo tìm người nhận trẻ em làm con nuôi. Sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 của Luật nuôi con nuôi, nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Sở Tư pháp gửi 01 bộ hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật nuôi con nuôi cho Cục Con nuôi để thông báo tìm người nhận con nuôi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của Luật nuôi con nuôi.

Đối với trẻ em thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này thì Sở Tư pháp xác nhận trẻ em đủ điều kiện được cho làm con nuôi và gửi Cục Con nuôi 01 bộ hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật nuôi con nuôi và khoản 3 Điều 16 của Nghị định này để tìm người nhận con nuôi đích danh có điều kiện phù hợp với việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em.”



Xem thêm: http://credent.net/nghi-dinh-so-242019ndcp-huong-dan-luat-nuoi-con-nuoi

NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2019/NĐ-CPVỀ HOẠT ĐỘNG TRIỂN LÃMChương I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1. Phạm vi điều chỉnh1. Nghị định này...
07/03/2019

NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2019/NĐ-CP
VỀ HOẠT ĐỘNG TRIỂN LÃM

Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về hoạt động tổ chức, phối hợp tổ chức triển lãm không vì mục đích thương mại thực hiện tại Việt Nam và đưa ra nước ngoài.

2. Nghị định này không điều chỉnh:

a) Triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh;

b) Các triển lãm xuất bản phẩm, bảo vật, cổ vật; triển lãm thuộc hệ thống bảo tàng;

c) Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội quốc gia thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

d) Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội của địa phương thực hiện theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố;

đ) Hoạt động trưng bày tác phẩm, hiện vật, tài liệu thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân tại trụ sở của tổ chức hoặc tại nhà riêng của cá nhân trong các hoạt động mang tính chất nội bộ.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức quốc tế; tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến hoạt động triển lãm quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Triển lãm là việc tổ chức trưng bày tác phẩm, hiện vật, tài liệu tập trung trong một thời gian, tại một không gian nhất định theo các hình thức khác nhau, bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau nhằm mục đích giới thiệu, công bố, phổ biến trong xã hội, cộng đồng.

2. Triển lãm không vì mục đích thương mại là triển lãm không bao gồm hoạt động mua bán hoặc tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán.

3. Hoạt động phối hợp trong triển lãm là các hoạt động diễn ra trước và trong quá trình triển lãm, có nội dung bổ sung thông tin, tuyên truyền hoặc làm phong phú cho hoạt động triển lãm.

Điều 4. Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm

1. Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động triển lãm.

2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược triển lãm.

3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động triển lãm.

4. Quản lý, chỉ đạo, thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động triển lãm.

5. Quản lý, tổ chức thực hiện, giao lưu, hợp tác quốc tế trong hoạt động triển lãm.

6. Cấp giấy phép, thu hồi giấy phép và tiếp nhận Thông báo tổ chức triển lãm.

7. Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động triển lãm.

8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động triển lãm.

Điều 5. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm.

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm; thẩm định nội dung, có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các triển lãm theo đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

4. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm tại địa phương. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động triển lãm tại địa phương.

Điều 6. Quyền của tổ chức, cá nhân khi tổ chức, tham gia tổ chức hoạt động triển lãm

1. Được tổ chức, tham gia tổ chức, đầu tư cho hoạt động triển lãm theo quy định của pháp luật.

2. Được bảo vệ các quyền lợi chính đáng, hợp pháp theo quy định của pháp luật.

3. Được tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập tác phẩm, hiện vật, tài liệu để phục vụ triển lãm theo quy định của pháp luật.


Xem thêm: http://credent.net/nghi-dinh-so-232019ndcp-hoat-dong-trien-lam

NGHỊ ĐỊNH SỐ 13/2019/NĐ-CPVỀ DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆChương I: QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối...
04/03/2019

NGHỊ ĐỊNH SỐ 13/2019/NĐ-CP

VỀ DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Chương I: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 58 của Luật khoa học và công nghệ liên quan đến doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng với các đối tượng sau:

a) Doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ từ kết quả khoa học và công nghệ;

b) Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ và thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ (bao gồm: công nghệ sau ươm tạo, hàng hóa, dịch vụ và các hình thức khác) là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ dựa trên việc áp dụng, ứng dụng hoặc phát triển kết quả khoa học và công nghệ.

2. Đất xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học của doanh nghiệp khoa học và công nghệ là đất xây dựng phòng thí nghiệm, đất xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đất xây dựng cơ sở thực nghiệm, đất xây dựng cơ sở sản xuất thử nghiệm.

Điều 3. Kết quả khoa học và công nghệ

1. Kết quả thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ, kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sau đây được gọi là kết quả khoa học và công nghệ. Kết quả khoa học và công nghệ là cơ sở để xem xét cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

2. Kết quả khoa học và công nghệ được thể hiện dưới một trong các hình thức sau:

a) Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chương trình máy tính đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả;

b) Giống vật nuôi mới, giống cây trồng mới, giống thủy sản mới, giống cây lâm nghiệp mới, tiến bộ kỹ thuật đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận;

c) Kết quả thực hiện nhiệm vụ đã đạt được các giải thưởng về khoa học và công nghệ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì, phối hợp tổ chức xét tặng giải thưởng hoặc đồng ý cho tổ chức xét tặng giải thưởng theo quy định của pháp luật về giải thưởng khoa học và công nghệ;

d) Các kết quả khoa học và công nghệ được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, công nhận theo quy định của pháp luật;

đ) Công nghệ nhận chuyển giao được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định của pháp luật.

3. Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là việc doanh nghiệp sử dụng kết quả khoa học và công nghệ để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh mới hoặc thay thế toàn bộ công nghệ hiện có trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Điều 4. Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1. Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ là căn cứ thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ và có hiệu lực trên toàn quốc.

2. Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ.

3. Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ là căn cứ áp dụng ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.


Xem thêm: http://credent.net/nghi-dinh-so-132019ndcp-ve-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe

NGHỊ QUYẾT SỐ 02/2019/NQ-HĐTPHƯỚNG DẪN ÁP DỤNG ĐIỀU 150 VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ ĐIỀU 151 VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TU...
25/02/2019

NGHỊ QUYẾT SỐ 02/2019/NQ-HĐTP

HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG ĐIỀU 150 VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ ĐIỀU 151 VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ


HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT NGHỊ:


Chương I: NHỮNG HƯỚNG DẪN CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự.

Điều 2. Về một số tình tiết định tội

1. Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

c) Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này.

2. Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

c) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này.

3. Thủ đoạn khác quy định tại khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự là các thủ đoạn như: bắt cóc; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; đầu độc nạn nhân; lợi dụng việc môi giới hôn nhân, môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc; lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân (ví dụ: lợi dụng tình trạng nạn nhân có người thân bị bệnh hiểm nghèo cần tiền chữa trị ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng) để thực hiện một trong các hành vi hướng dẫn tại khoản 1 Điều này.

4. Để bóc lột tình dục quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân nhằm chuyển giao cho người khác để thực hiện các hoạt động bóc lột tình dục (như tổ chức cho nạn nhân bán dâm, đưa nạn nhân đến các cơ sở chứa mại dâm để bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm, trình diễn khiêu dâm, làm nô lệ tình dục...) hoặc tiếp nhận nạn nhân để phục vụ nhu cầu tình dục của chính mình.

5. Để cưỡng bức lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc nạn nhân lao động trái ý muốn của họ.

6. Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân để chuyển giao nhằm lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.

Bộ phận cơ thể là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của con người.

Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để B lấy giác mạc của C (trên thực tế B chưa có hành vi lấy giác mạc của C).

7. Vì mục đích vô nhân đạo khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là sử dụng nạn nhân để làm thí nghiệm, buộc nạn nhân phải đi ăn xin hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác khác.

Điều 3. Về một số tình tiết định khung hình phạt

1. Có tổ chức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 150 và điểm a khoản 3 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.

2. Vì động cơ đê hèn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 150 và điểm g khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù; phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân; phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc.

Ví dụ: Nguyễn Văn A mang Nguyễn Thị C (là người yêu của A) đi bán cho người khác sau khi biết C có thai với mình.

3. Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 và điểm đ khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng được coi là đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu đã thực hiện thủ tục xuất cảnh đối với nạn nhân.

4. Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 và điểm e khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Ngày 15-6-2018, Nguyễn Văn A có hành vi mua bán người. Ngày 20-7-2018, A lại có hành vi mua bán người và bị bắt giữ. Cả hai lần phạm tội trên, Nguyễn Văn A đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người. Trong trường hợp này, Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán người theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 của Bộ luật Hình sự.



Xem thêm: http://credent.net/nghi-quyet-so-022019nqhdtp-huong-dan-ve-toi-mua-ban-nguoi-va-mua-ban-nguoi-duoi-16-tuoi

Address

60/1 Tôn Thất Tùng, Phường Bến Thành, Quận 1, TP. HCM
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:30
Tuesday 08:00 - 17:30
Wednesday 08:00 - 17:30
Thursday 08:00 - 17:30
Friday 08:00 - 17:30
Saturday 08:00 - 11:30

Telephone

+84938373373

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Sở Hữu Trí Tuệ Đông Dương posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công ty Sở Hữu Trí Tuệ Đông Dương:

Share