23/08/2026
TẠP CHÍ SỞ HỮU TRÍ TUỆ: LỖ HỔNG QUYỀN TÁC GIẢ TRÊN NỀN TẢNG SỐ
Sự phát triển của kinh tế số đòi hỏi pháp luật bản quyền không thể chỉ dừng ở câu hỏi “có hợp đồng hay không”. Cần nhìn sâu hơn vào chuỗi quyền, phạm vi chuyển giao và quyền lực công nghệ mà hợp đồng tạo ra cho bên được ủy quyền.
Về vấn đề LỖ HỔNG QUYỀN TÁC GIẢ TRÊN NỀN TẢNG SỐ, PV Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo đã có buổi trao đổi với Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền Ls Đặng Thị Thuý Huyền. Sau đây là kết quả nghiên cứu, trao đổi.
1. Một chữ ký không thể biến quyền của người khác thành tài sản của mình:
Một chữ ký có thể trao quyền quản lý. Nhưng một chữ ký không thể biến quyền của người khác thành tài sản của mình. Vì vậy, lỗ hổng lớn nhất của bảo vệ bản quyền trên nền tảng số hiện nay không hẳn nằm ở việc thiếu công cụ kỹ thuật. Ngược lại, công cụ đang ngày càng mạnh. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ chặt để bảo đảm rằng quyền lực kỹ thuật chỉ được trao đúng cho người thực sự có quyền và chỉ trong giới hạn quyền họ được phép thực hiện. Nếu không giải quyết được điểm này, “bảo vệ bản quyền” rất có thể trở thành cuộc cạnh tranh xem ai có khả năng claim nhanh hơn, rộng hơn và mạnh hơn — thay vì xác định ai thực sự là chủ thể có quyền.
Trong môi trường số, tranh chấp bản quyền không còn đơn thuần là câu chuyện “ai sáng tác thì người đó có quyền”. Khi quyền tác giả, quyền liên quan được đưa lên các nền tảng như YouTube, Facebook, TikTok, một hợp đồng trao quyền quá rộng có thể khiến doanh nghiệp không chỉ quản lý tác phẩm mà còn có khả năng claim, chặn, khiếu nại, thu tiền và xác lập quyền đối với những nội dung vượt ra ngoài phạm vi quyền thực tế mà chủ thể ban đầu có thể chuyển giao. Thực tiễn hợp đồng ký ngày 22/4/2026 giữa một nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc với BHMedia cho thấy (sau đây gọi tắt là Hợp đồng/hoặc Tài liệu), bên kênh BHmedia đã thiết lập cơ chế “độc quyền toàn cầu, toàn quyền đại diện”, trong đó phạm vi quyền được mô tả rất rộng – toàn “vũ trụ”. Và đương nhiên, theo nguyên tắc pháp lý dân sự, quyền được trao rộng đến đâu thì rủi ro tranh chấp có thể lớn đến đó.
Điểm đáng chú ý đầu tiên nằm ở kỹ thuật xác định phạm vi hợp tác. Theo nội dung tài liệu, hợp đồng không chỉ áp dụng với sản phẩm hình thành trong thời gian hợp tác mà còn thiết lập cơ chế để các sản phẩm có trước, trong và sau thời điểm ký có thể được “tự động cập nhật hợp tác”.
Vấn đề pháp lý cần đặt ra là: một điều khoản hợp đồng có thể rộng, nhưng quyền được chuyển giao trên thực tế không thể lớn hơn quyền mà bên chuyển giao thực sự sở hữu hoặc có quyền định đoạt.
Một ca sĩ có thể có quyền đối với phần trình diễn của mình nhưng chưa chắc sở hữu bản ghi. Một đơn vị tổ chức chương trình có thể sở hữu bản ghi nhưng chưa chắc sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. Một video có thể đồng thời chứa quyền của nhạc sĩ, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi, đơn vị tổ chức và những chủ thể khác.
Vì vậy, chỉ một chữ ký không đương nhiên tạo ra quyền tuyệt đối đối với toàn bộ “hệ sinh thái quyền” nằm trong một sản phẩm số. Đây chính là điểm dễ phát sinh xung đột giữa hợp đồng dân sự và quyền sở hữu trí tuệ thực tế.
2. “Toàn quyền đại diện” không đồng nghĩa với “toàn quyền sở hữu”:
Theo tài liệu, hợp đồng trao cho doanh nghiệp quyền thay mặt xác nhận, đăng ký quyền sở hữu, áp dụng biện pháp công nghệ để chặn nội dung, khiếu nại, khởi kiện và thu tiền bản quyền, kể cả đối với một số hành vi xảy ra trước thời điểm hợp tác.
Ở góc nhìn pháp lý, về vấn đề này, trao đổi với Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo, Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Giám đốc Công ty Luật TNHH HPL – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, trong môi trường số, quyền đại diện như vậy đặc biệt mạnh bởi các nền tảng vận hành chủ yếu bằng hệ thống tự động. “Chỉ cần một dữ liệu tham chiếu được đưa vào hệ thống quản lý bản quyền, một nội dung khác có dấu hiệu trùng khớp có thể lập tức bị nhận diện, hạn chế kiếm tiền hoặc phát sinh yêu cầu chia sẻ doanh thu”.
Theo Luật sư Thúy Huyền, thuật toán chỉ có thể phát hiện sự tương đồng về dữ liệu; thuật toán không thể tự mình giải quyết đầy đủ câu hỏi ai mới là chủ thể có quyền theo pháp luật. “Bởi vậy, rủi ro lớn nhất không nằm ở công nghệ Content ID hay công cụ claim bản quyền. Rủi ro nằm ở chỗ ai được quyền đưa dữ liệu vào hệ thống, họ chứng minh quyền của mình như thế nào và nền tảng kiểm tra đến đâu trước khi trao cho họ khả năng tác động đến quyền lợi của người khác. Nếu một bên chỉ có quyền đối với một phần tác phẩm nhưng lại sử dụng công cụ kỹ thuật để claim toàn bộ sản phẩm, cơ chế “bảo vệ bản quyền” có nguy cơ biến thành cơ chế chiếm dụng quyền”, Luật sư giải thích rõ thêm.
3. Một hợp đồng mất cân bằng có thể chuyển gần như toàn bộ rủi ro về phía nghệ sĩ:
Theo đánh giá của Luật sư Thúy Huyền, Tài liệu cũng chỉ ra sự khác biệt đáng kể về phân bổ trách nhiệm giữa các bên. “Trong khi doanh nghiệp có các điều khoản miễn trừ trong trường hợp phát sinh tranh chấp, nghệ sĩ lại phải tự chịu trách nhiệm pháp lý nếu sản phẩm không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình”.
“Chế tài cũng được mô tả theo hướng bất cân xứng: trường hợp doanh nghiệp vi phạm áp dụng mức phạt 8% giá trị hợp đồng, trong khi nếu nghệ sĩ vi phạm thì ngoài khoản phạt còn có thể phải hoàn trả doanh thu và chịu nghĩa vụ bồi thường bổ sung. Đáng lưu ý hơn, doanh nghiệp còn được trao khả năng cấp phép cho bên thứ ba khai thác các sản phẩm phái sinh như remix, cover, lofi và hưởng doanh thu theo cơ chế được thỏa thuận, trong khi bên nghệ sĩ không yêu cầu khoản phí bổ sung.”
Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền giải thích thêm: “Dưới góc độ pháp lý, độc quyền không phải vấn đề tự thân. Pháp luật cho phép các bên thỏa thuận chuyển giao, cấp phép và khai thác quyền. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh khi một hợp đồng đồng thời hội tụ ba yếu tố: phạm vi quyền cực rộng, thời hạn rất dài và trách nhiệm giữa các bên quá chênh lệch. Khi đó, nghệ sĩ có thể tưởng rằng mình đang thuê một đơn vị “bảo vệ bản quyền”, nhưng thực chất lại đang chuyển giao một phần rất lớn khả năng kiểm soát tài sản trí tuệ của chính mình”.
“Điều khoản gia hạn dài hạn có thể khiến nghệ sĩ khó lấy lại quyền kiểm soát Theo tài liệu, hợp đồng có cơ chế tự động gia hạn từng chu kỳ 5 năm nếu không có phản đối đúng hạn; đồng thời quy định quan hệ hợp đồng không đương nhiên chấm dứt trong một số trường hợp liên quan đến chủ thể ký kết. Bên cạnh đó, nghệ sĩ còn cam kết không đàm phán hoặc thử nghiệm với bên thứ ba trong thời gian hợp đồng.”
“Với tài sản số, năm năm là khoảng thời gian rất dài. Một bản ghi hôm nay có giá trị nhỏ nhưng vài năm sau có thể trở thành nội dung triệu lượt xem, được khai thác trên những nền tảng thậm chí chưa xuất hiện tại thời điểm ký hợp đồng. Do đó, khi ký hợp đồng bản quyền số, nghệ sĩ không nên chỉ nhìn vào tỷ lệ doanh thu hiện tại. Điều quan trọng hơn là phải trả lời được: quyền nào đang giao, giao cho ai, trong bao lâu, trên nền tảng nào và khi muốn lấy lại quyền thì bằng cơ chế nào?”, Luật sư Thúy Huyền đặt ngược lại vấn đề.
4. Lỗ hổng thực sự nằm giữa hợp đồng, công nghệ và quyền sở hữu:
Tài liệu phân tích cho rằng chính các cơ chế “tự động cập nhật”, “toàn quyền đại diện” và miễn trừ trách nhiệm có thể tạo ra khoảng trống để việc claim trên nền tảng vượt ra ngoài phạm vi quyền thực tế.
Theo đánh giá của Luật sư Thúy Huyền, “đây là vấn đề đáng quan tâm hơn một tranh chấp cụ thể. Một hệ thống bản quyền số hiệu quả phải bảo vệ được người có quyền, nhưng đồng thời cũng phải ngăn người không có đủ quyền sử dụng công cụ bản quyền để hạn chế quyền của người khác. Nếu nền tảng chủ yếu tin vào người gửi claim trước, còn người bị claim phải tự chứng minh mình vô tội sau đó, cán cân bảo vệ quyền đã bị đảo ngược”.
Luật sư Huyền lưu ý điểm quan trọng: “Cơ chế phù hợp cần hướng tới việc yêu cầu bên khai báo quyền chứng minh rõ chuỗi quyền sở hữu hoặc quyền được ủy quyền; phân biệt từng lớp quyền tác giả và quyền liên quan; giới hạn claim đúng phạm vi được chuyển giao; đồng thời phải có cơ chế phản đối, khôi phục nội dung và xử lý trách nhiệm đối với hành vi claim sai”.
5. Không thể lấy hợp đồng làm “lá chắn” cho quyền mà mình không có:
Về nguyên tắc, hợp đồng chỉ ràng buộc các bên trong phạm vi quyền hợp pháp mà họ có thể định đoạt. Một chủ thể không sở hữu quyền của người khác thì về bản chất cũng không thể thông qua hợp đồng để tạo ra quyền đó cho bên nhận chuyển giao. Đây là ranh giới đặc biệt quan trọng trong ngành công nghiệp nội dung số.
Doanh nghiệp quản lý bản quyền có thể được trao quyền đại diện rất lớn, nhưng trước khi claim một video, thu doanh thu hay yêu cầu gỡ nội dung, vẫn phải xác định: bên ủy quyền có thực sự sở hữu quyền đối với chính nội dung đang bị claim hay không? Nếu bỏ qua bước này, một hệ thống được xây dựng để chống xâm phạm bản quyền rất dễ tạo ra nghịch lý: người có tác phẩm thật phải đi chứng minh quyền của mình trước chính hệ thống đang mang danh bảo vệ họ.