Ls Đặng Thị Thuý Huyền

Ls Đặng Thị Thuý Huyền Công ty Luật HPL & Cộng sự
Luật sư - Giám đốc
📞 079 888 1979
📧 [email protected]

IM LẶNG KHÔNG CÒN ĐƯỢC COI LÀ “ĐỒNG Ý”: TỰ Ý THU THẬP, XỬ LÝ DỮ LIỆU CÁ NHÂN CÓ THỂ BỊ PHẠT ĐẾN 70 TRIỆU ĐỒNGMột trong n...
24/08/2026

IM LẶNG KHÔNG CÒN ĐƯỢC COI LÀ “ĐỒNG Ý”: TỰ Ý THU THẬP, XỬ LÝ DỮ LIỆU CÁ NHÂN CÓ THỂ BỊ PHẠT ĐẾN 70 TRIỆU ĐỒNG

Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của Nghị định 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 là siết chặt cách doanh nghiệp, nền tảng số và tổ chức xin sự đồng ý của người dùng trước khi thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân. Nghị định đã có hiệu lực từ ngày 19/8/2026.

Điểm rất đáng chú ý: không được mặc nhiên coi sự im lặng là đồng ý.

Theo khoản 2 Điều 43 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, hành vi thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi chủ thể dữ liệu giữ im lặng hoặc không phản hồi trước yêu cầu xin sự đồng ý, nhưng bên xử lý tự ý coi đó là sự đồng ý có thể bị phạt từ 50 đến 70 triệu đồng. Mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi cố ý tiếp tục xử lý dữ liệu sau khi chủ thể đã yêu cầu ngừng hoặc hạn chế xử lý.

Điều này đánh trực diện vào một cách làm từng khá phổ biến trên môi trường số: gửi thông báo rất dài, cài sẵn lựa chọn đồng ý, hoặc cho rằng “khách hàng không phản đối thì tức là đã chấp nhận”.

Từ nay, không trả lời không có nghĩa là đồng ý; không bấm từ chối không có nghĩa là cho phép; và im lặng càng không thể được biến thành một “chữ ký điện tử” để hợp pháp hóa việc khai thác dữ liệu.

Không chỉ bị phạt tiền, Nghị định còn quy định đối với các hành vi thuộc khoản 2 Điều 43 có thể áp dụng biện pháp buộc hủy, xóa dữ liệu cá nhân đến mức không thể khôi phục nếu dữ liệu được thu thập, xử lý không có sự đồng ý hợp lệ; đồng thời có thể buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.

Đây mới là phần đáng lo đối với doanh nghiệp. Một cơ sở dữ liệu khách hàng được xây dựng trong nhiều năm nhưng ngay từ đầu cơ chế xin consent không hợp lệ có thể trở thành một rủi ro pháp lý rất lớn.

GÓC NHÌN LUẬT SƯ

Nghị định 330/2026/NĐ-CP cho thấy pháp luật đang chuyển rất rõ từ tư duy “doanh nghiệp có dữ liệu thì được sử dụng” sang nguyên tắc “chủ thể dữ liệu phải thực sự biết và thực sự đồng ý trong những trường hợp pháp luật yêu cầu sự đồng ý”.

Doanh nghiệp vì vậy nên rà soát ngay các biểu mẫu đăng ký, website, app, chatbot, CRM, chương trình khách hàng thân thiết và đặc biệt là dữ liệu phục vụ quảng cáo, telesales, AI.

Một ô tích sẵn “Tôi đồng ý”, một điều khoản được giấu trong hàng nghìn chữ, hay việc khách hàng không phản hồi không nên được xem như tấm vé cho phép khai thác dữ liệu vô thời hạn.

Trong thời đại dữ liệu trở thành tài sản kinh doanh, pháp luật đang gửi một thông điệp rất rõ:

Dữ liệu thuộc về con người trước khi nó trở thành nguyên liệu của doanh nghiệp.
Và sự im lặng của một người không phải là quyền khai thác của người khác.

CHƯA BỊ KHỞI TỐ ĐÃ BỊ “BÊU ẢNH” KHẮP MẠNG: AI CHO PHÉP CỘNG ĐỒNG KẾT TỘI TRƯỚC TÒA?Chỉ cần một người bị nghi ngờ liên qu...
23/08/2026

CHƯA BỊ KHỞI TỐ ĐÃ BỊ “BÊU ẢNH” KHẮP MẠNG: AI CHO PHÉP CỘNG ĐỒNG KẾT TỘI TRƯỚC TÒA?

Chỉ cần một người bị nghi ngờ liên quan đến một vụ việc, hình ảnh của họ có thể lập tức xuất hiện trên Facebook, TikTok, YouTube với những dòng chữ như “đối tượng”, “kẻ lừa đảo”, “nghi phạm”, thậm chí bị gọi thẳng là “tội phạm”. Nhưng có một ranh giới pháp lý rất quan trọng thường bị bỏ quên: có dấu hiệu vi phạm không đồng nghĩa đã bị khởi tố; bị khởi tố cũng chưa đồng nghĩa có tội; và ngay cả bị cáo vẫn không mất quyền đối với hình ảnh của mình.

NGƯỜI CHƯA BỊ KHỞI TỐ CÀNG KHÔNG THỂ BỊ “ĐÓNG ĐINH” BẰNG MỘT BỨC ẢNH

Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 xác định rõ: cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; việc sử dụng hình ảnh về nguyên tắc phải được người đó đồng ý. Chỉ một số trường hợp đặc biệt như vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc hình ảnh từ hoạt động công cộng mới có thể được sử dụng không cần sự đồng ý, và vẫn không được làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Vì vậy, nếu một người mới chỉ bị tố giác, bị phản ánh, bị mời làm việc hoặc đang được xác minh mà hình ảnh đã bị đưa lên mạng kèm lời quy kết họ phạm tội, rủi ro pháp lý là rất lớn.

“Có dấu hiệu” là ngôn ngữ của quá trình xác minh. “Có tội” là kết luận chỉ có thể được xác lập theo trình tự tố tụng và bằng bản án có hiệu lực.

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo đúng trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực. Nếu ngay cả người đã bị khởi tố còn được bảo đảm nguyên tắc này, thì càng không thể tùy tiện “kết án bằng truyền thông” đối với người chưa bị khởi tố.

CÔNG KHAI THÔNG TIN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐƯỢC QUYỀN CÔNG KHAI GƯƠNG MẶT

Đây là điểm rất cần phân biệt.

Cơ quan báo chí có thể đưa tin rằng cơ quan chức năng đang xác minh một vụ việc. Nhưng từ quyền đưa tin đến quyền công bố rõ mặt một cá nhân là hai vấn đề khác nhau.

Nếu việc nhận diện khuôn mặt không thực sự cần thiết cho lợi ích công cộng, không phục vụ truy tìm, cảnh báo nguy hiểm hay một mục đích pháp luật cho phép, thì câu hỏi phải đặt ra là: vì sao cần công khai danh tính và khuôn mặt của người đó trước hàng triệu người?

Một người có thể sau đó được xác định không có hành vi phạm tội, nhưng ảnh chụp màn hình, video TikTok, bài đăng Facebook có thể tồn tại nhiều năm. Danh dự được phục hồi bằng một dòng đính chính, nhưng công cụ tìm kiếm có thể vẫn gắn khuôn mặt họ với hai chữ “lừa đảo”.

Đó chính là đặc tính nguy hiểm của xâm phạm quyền hình ảnh trong thời đại số: hậu quả có thể tồn tại lâu hơn chính vụ việc.

CÀNG NGUY HIỂM KHI FANPAGE LẤY ẢNH VỀ “CHẾ BIẾN”

Giả sử báo chí đăng một bức ảnh trong phạm vi pháp luật cho phép. Điều đó cũng không có nghĩa hàng trăm fanpage được mặc nhiên tải ảnh về rồi sử dụng tùy ý.

Fanpage có thể cắt riêng khuôn mặt, thêm chữ “SIÊU LỪA”, “KẺ LỪA ĐẢO”, ghép nhạc, làm thumbnail, chạy quảng cáo hoặc lấy hình ảnh làm nguyên liệu để câu hàng triệu lượt xem.

Lúc này phải đánh giá hành vi sử dụng của chính fanpage, chứ không thể viện dẫn rằng “ảnh đã có trên báo”.

Nói cách khác:

Một lần công bố hợp pháp không tạo ra quyền sử dụng vô hạn cho toàn bộ Internet.

Đặc biệt, nếu hình ảnh được sử dụng theo cách làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngay cả ngoại lệ đối với hình ảnh từ hoạt động công cộng cũng không thể được hiểu như một tấm “giấy phép miễn trách nhiệm”. Điều 32 BLDS cho phép người có hình ảnh yêu cầu chấm dứt sử dụng, thu hồi, tiêu hủy hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp khác theo pháp luật.

BỊ CAN, BỊ CÁO VẪN CÒN QUYỀN HÌNH ẢNH

Một quan niệm khác cũng rất dễ sai: “Đã bị bắt rồi thì báo chí đăng ảnh thoải mái.”

Không phải vậy.

Việc cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử không làm họ mất quyền nhân thân. Vấn đề là trong từng trường hợp, quyền hình ảnh phải được cân bằng với lợi ích công cộng, quyền thông tin của xã hội và yêu cầu tố tụng.

Đặc biệt, trước khi có bản án kết tội có hiệu lực, cách đặt tiêu đề và sử dụng hình ảnh càng phải thận trọng để không biến việc đưa tin về tố tụng thành việc khẳng định trước rằng người đó đã phạm tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội không chỉ có ý nghĩa trong phòng xử án mà còn là chuẩn mực rất đáng lưu ý khi truyền thông về vụ án.

GÓC NHÌN LUẬT SƯ: NGƯỜI CHƯA BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ MẠNH NHẤT

Nếu một người bị kết án, công chúng ít nhất đã có một bản án làm căn cứ đánh giá sự việc.

Nhưng đối với người mới bị tố giác, bị phản ánh, có dấu hiệu nghi vấn hoặc đang trong quá trình xác minh, việc tung rõ khuôn mặt lên mạng rồi để hàng nghìn người bình luận, chửi bới và “kết án” có thể gây hậu quả không thể đảo ngược.

Sau này nếu cơ quan chức năng kết luận không có tội thì ai trả lại danh dự? Ai xóa hết hàng nghìn bản sao? Ai giải thích với khách hàng, đối tác, đồng nghiệp rằng bức ảnh “nghi phạm” trên mạng năm trước thực chất chưa bao giờ dẫn đến một bản án hình sự?

Pháp luật bảo vệ quyền thông tin của xã hội, nhưng cũng bảo vệ quyền được đối xử như một con người chưa bị kết tội khi pháp luật chưa kết tội họ.

Bởi vậy, truyền thông trách nhiệm không phải là che giấu sự thật. Truyền thông trách nhiệm là đưa đúng thông tin, đúng tư cách tố tụng, đúng mức độ cần thiết và không dùng một khuôn mặt để thay thế cho một bản án chưa tồn tại.

Một người có dấu hiệu vi phạm chưa phải là tội phạm.
Một người bị khởi tố chưa phải là người có tội.
Một bị cáo chưa mất quyền nhân thân; Và Internet không phải là một phiên tòa thứ hai để cộng đồng tuyên án bằng những bức ảnh.

Chúc mừng người chiến thắng - Chúc mừng Nhà Báo Phan Thương 👍
23/08/2026

Chúc mừng người chiến thắng - Chúc mừng Nhà Báo Phan Thương 👍

23/08/2026

TẠP CHÍ SỞ HỮU TRÍ TUỆ: LỖ HỔNG QUYỀN TÁC GIẢ TRÊN NỀN TẢNG SỐ

Sự phát triển của kinh tế số đòi hỏi pháp luật bản quyền không thể chỉ dừng ở câu hỏi “có hợp đồng hay không”. Cần nhìn sâu hơn vào chuỗi quyền, phạm vi chuyển giao và quyền lực công nghệ mà hợp đồng tạo ra cho bên được ủy quyền.

Về vấn đề LỖ HỔNG QUYỀN TÁC GIẢ TRÊN NỀN TẢNG SỐ, PV Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo đã có buổi trao đổi với Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền Ls Đặng Thị Thuý Huyền. Sau đây là kết quả nghiên cứu, trao đổi.

1. Một chữ ký không thể biến quyền của người khác thành tài sản của mình:

Một chữ ký có thể trao quyền quản lý. Nhưng một chữ ký không thể biến quyền của người khác thành tài sản của mình. Vì vậy, lỗ hổng lớn nhất của bảo vệ bản quyền trên nền tảng số hiện nay không hẳn nằm ở việc thiếu công cụ kỹ thuật. Ngược lại, công cụ đang ngày càng mạnh. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ chặt để bảo đảm rằng quyền lực kỹ thuật chỉ được trao đúng cho người thực sự có quyền và chỉ trong giới hạn quyền họ được phép thực hiện. Nếu không giải quyết được điểm này, “bảo vệ bản quyền” rất có thể trở thành cuộc cạnh tranh xem ai có khả năng claim nhanh hơn, rộng hơn và mạnh hơn — thay vì xác định ai thực sự là chủ thể có quyền.

Trong môi trường số, tranh chấp bản quyền không còn đơn thuần là câu chuyện “ai sáng tác thì người đó có quyền”. Khi quyền tác giả, quyền liên quan được đưa lên các nền tảng như YouTube, Facebook, TikTok, một hợp đồng trao quyền quá rộng có thể khiến doanh nghiệp không chỉ quản lý tác phẩm mà còn có khả năng claim, chặn, khiếu nại, thu tiền và xác lập quyền đối với những nội dung vượt ra ngoài phạm vi quyền thực tế mà chủ thể ban đầu có thể chuyển giao. Thực tiễn hợp đồng ký ngày 22/4/2026 giữa một nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc với BHMedia cho thấy (sau đây gọi tắt là Hợp đồng/hoặc Tài liệu), bên kênh BHmedia đã thiết lập cơ chế “độc quyền toàn cầu, toàn quyền đại diện”, trong đó phạm vi quyền được mô tả rất rộng – toàn “vũ trụ”. Và đương nhiên, theo nguyên tắc pháp lý dân sự, quyền được trao rộng đến đâu thì rủi ro tranh chấp có thể lớn đến đó.

Điểm đáng chú ý đầu tiên nằm ở kỹ thuật xác định phạm vi hợp tác. Theo nội dung tài liệu, hợp đồng không chỉ áp dụng với sản phẩm hình thành trong thời gian hợp tác mà còn thiết lập cơ chế để các sản phẩm có trước, trong và sau thời điểm ký có thể được “tự động cập nhật hợp tác”.

Vấn đề pháp lý cần đặt ra là: một điều khoản hợp đồng có thể rộng, nhưng quyền được chuyển giao trên thực tế không thể lớn hơn quyền mà bên chuyển giao thực sự sở hữu hoặc có quyền định đoạt.

Một ca sĩ có thể có quyền đối với phần trình diễn của mình nhưng chưa chắc sở hữu bản ghi. Một đơn vị tổ chức chương trình có thể sở hữu bản ghi nhưng chưa chắc sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. Một video có thể đồng thời chứa quyền của nhạc sĩ, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi, đơn vị tổ chức và những chủ thể khác.

Vì vậy, chỉ một chữ ký không đương nhiên tạo ra quyền tuyệt đối đối với toàn bộ “hệ sinh thái quyền” nằm trong một sản phẩm số. Đây chính là điểm dễ phát sinh xung đột giữa hợp đồng dân sự và quyền sở hữu trí tuệ thực tế.

2. “Toàn quyền đại diện” không đồng nghĩa với “toàn quyền sở hữu”:

Theo tài liệu, hợp đồng trao cho doanh nghiệp quyền thay mặt xác nhận, đăng ký quyền sở hữu, áp dụng biện pháp công nghệ để chặn nội dung, khiếu nại, khởi kiện và thu tiền bản quyền, kể cả đối với một số hành vi xảy ra trước thời điểm hợp tác.

Ở góc nhìn pháp lý, về vấn đề này, trao đổi với Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo, Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Giám đốc Công ty Luật TNHH HPL – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, trong môi trường số, quyền đại diện như vậy đặc biệt mạnh bởi các nền tảng vận hành chủ yếu bằng hệ thống tự động. “Chỉ cần một dữ liệu tham chiếu được đưa vào hệ thống quản lý bản quyền, một nội dung khác có dấu hiệu trùng khớp có thể lập tức bị nhận diện, hạn chế kiếm tiền hoặc phát sinh yêu cầu chia sẻ doanh thu”.

Theo Luật sư Thúy Huyền, thuật toán chỉ có thể phát hiện sự tương đồng về dữ liệu; thuật toán không thể tự mình giải quyết đầy đủ câu hỏi ai mới là chủ thể có quyền theo pháp luật. “Bởi vậy, rủi ro lớn nhất không nằm ở công nghệ Content ID hay công cụ claim bản quyền. Rủi ro nằm ở chỗ ai được quyền đưa dữ liệu vào hệ thống, họ chứng minh quyền của mình như thế nào và nền tảng kiểm tra đến đâu trước khi trao cho họ khả năng tác động đến quyền lợi của người khác. Nếu một bên chỉ có quyền đối với một phần tác phẩm nhưng lại sử dụng công cụ kỹ thuật để claim toàn bộ sản phẩm, cơ chế “bảo vệ bản quyền” có nguy cơ biến thành cơ chế chiếm dụng quyền”, Luật sư giải thích rõ thêm.

3. Một hợp đồng mất cân bằng có thể chuyển gần như toàn bộ rủi ro về phía nghệ sĩ:

Theo đánh giá của Luật sư Thúy Huyền, Tài liệu cũng chỉ ra sự khác biệt đáng kể về phân bổ trách nhiệm giữa các bên. “Trong khi doanh nghiệp có các điều khoản miễn trừ trong trường hợp phát sinh tranh chấp, nghệ sĩ lại phải tự chịu trách nhiệm pháp lý nếu sản phẩm không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình”.
“Chế tài cũng được mô tả theo hướng bất cân xứng: trường hợp doanh nghiệp vi phạm áp dụng mức phạt 8% giá trị hợp đồng, trong khi nếu nghệ sĩ vi phạm thì ngoài khoản phạt còn có thể phải hoàn trả doanh thu và chịu nghĩa vụ bồi thường bổ sung. Đáng lưu ý hơn, doanh nghiệp còn được trao khả năng cấp phép cho bên thứ ba khai thác các sản phẩm phái sinh như remix, cover, lofi và hưởng doanh thu theo cơ chế được thỏa thuận, trong khi bên nghệ sĩ không yêu cầu khoản phí bổ sung.”

Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền giải thích thêm: “Dưới góc độ pháp lý, độc quyền không phải vấn đề tự thân. Pháp luật cho phép các bên thỏa thuận chuyển giao, cấp phép và khai thác quyền. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh khi một hợp đồng đồng thời hội tụ ba yếu tố: phạm vi quyền cực rộng, thời hạn rất dài và trách nhiệm giữa các bên quá chênh lệch. Khi đó, nghệ sĩ có thể tưởng rằng mình đang thuê một đơn vị “bảo vệ bản quyền”, nhưng thực chất lại đang chuyển giao một phần rất lớn khả năng kiểm soát tài sản trí tuệ của chính mình”.

“Điều khoản gia hạn dài hạn có thể khiến nghệ sĩ khó lấy lại quyền kiểm soát Theo tài liệu, hợp đồng có cơ chế tự động gia hạn từng chu kỳ 5 năm nếu không có phản đối đúng hạn; đồng thời quy định quan hệ hợp đồng không đương nhiên chấm dứt trong một số trường hợp liên quan đến chủ thể ký kết. Bên cạnh đó, nghệ sĩ còn cam kết không đàm phán hoặc thử nghiệm với bên thứ ba trong thời gian hợp đồng.”

“Với tài sản số, năm năm là khoảng thời gian rất dài. Một bản ghi hôm nay có giá trị nhỏ nhưng vài năm sau có thể trở thành nội dung triệu lượt xem, được khai thác trên những nền tảng thậm chí chưa xuất hiện tại thời điểm ký hợp đồng. Do đó, khi ký hợp đồng bản quyền số, nghệ sĩ không nên chỉ nhìn vào tỷ lệ doanh thu hiện tại. Điều quan trọng hơn là phải trả lời được: quyền nào đang giao, giao cho ai, trong bao lâu, trên nền tảng nào và khi muốn lấy lại quyền thì bằng cơ chế nào?”, Luật sư Thúy Huyền đặt ngược lại vấn đề.

4. Lỗ hổng thực sự nằm giữa hợp đồng, công nghệ và quyền sở hữu:

Tài liệu phân tích cho rằng chính các cơ chế “tự động cập nhật”, “toàn quyền đại diện” và miễn trừ trách nhiệm có thể tạo ra khoảng trống để việc claim trên nền tảng vượt ra ngoài phạm vi quyền thực tế.

Theo đánh giá của Luật sư Thúy Huyền, “đây là vấn đề đáng quan tâm hơn một tranh chấp cụ thể. Một hệ thống bản quyền số hiệu quả phải bảo vệ được người có quyền, nhưng đồng thời cũng phải ngăn người không có đủ quyền sử dụng công cụ bản quyền để hạn chế quyền của người khác. Nếu nền tảng chủ yếu tin vào người gửi claim trước, còn người bị claim phải tự chứng minh mình vô tội sau đó, cán cân bảo vệ quyền đã bị đảo ngược”.

Luật sư Huyền lưu ý điểm quan trọng: “Cơ chế phù hợp cần hướng tới việc yêu cầu bên khai báo quyền chứng minh rõ chuỗi quyền sở hữu hoặc quyền được ủy quyền; phân biệt từng lớp quyền tác giả và quyền liên quan; giới hạn claim đúng phạm vi được chuyển giao; đồng thời phải có cơ chế phản đối, khôi phục nội dung và xử lý trách nhiệm đối với hành vi claim sai”.

5. Không thể lấy hợp đồng làm “lá chắn” cho quyền mà mình không có:

Về nguyên tắc, hợp đồng chỉ ràng buộc các bên trong phạm vi quyền hợp pháp mà họ có thể định đoạt. Một chủ thể không sở hữu quyền của người khác thì về bản chất cũng không thể thông qua hợp đồng để tạo ra quyền đó cho bên nhận chuyển giao. Đây là ranh giới đặc biệt quan trọng trong ngành công nghiệp nội dung số.

Doanh nghiệp quản lý bản quyền có thể được trao quyền đại diện rất lớn, nhưng trước khi claim một video, thu doanh thu hay yêu cầu gỡ nội dung, vẫn phải xác định: bên ủy quyền có thực sự sở hữu quyền đối với chính nội dung đang bị claim hay không? Nếu bỏ qua bước này, một hệ thống được xây dựng để chống xâm phạm bản quyền rất dễ tạo ra nghịch lý: người có tác phẩm thật phải đi chứng minh quyền của mình trước chính hệ thống đang mang danh bảo vệ họ.





Nghĩa tình từ giải pickleball 'Cùng con đi tiếp cuộc đời' lần V - 2026 - Báo Thanh Niên tổ chức.
23/08/2026

Nghĩa tình từ giải pickleball 'Cùng con đi tiếp cuộc đời' lần V - 2026 - Báo Thanh Niên tổ chức.

Tình hình chung 😳Ngày còn nghèo, hai đứa từng hứa: “Sau này có gì cũng là của chung, đời này không rời nhau.”Đến lúc làm...
23/08/2026

Tình hình chung 😳

Ngày còn nghèo, hai đứa từng hứa: “Sau này có gì cũng là của chung, đời này không rời nhau.”

Đến lúc làm ăn có chút tiền, lời hứa trăm năm bắt đầu được mang ra… tính bằng phần trăm.

Sợ ly hôn phải chia đôi.
Sợ tài sản mình làm ra có phần của người kia.
Thế là người ta bắt đầu thủ: đứng tên riêng, giấu tài sản, tách tiền, rồi nghĩ luôn đến chuyện ly hôn cho “sạch sẽ”, để sau này ai làm người nấy hưởng.

Hóa ra có những cuộc hôn nhân không chết vì nghèo, mà chết khi bắt đầu có tiền.

Lúc trắng tay, người ta cần một người để cùng cố gắng.
Lúc có tài sản, người ta lại sợ chính người từng cùng mình đi qua những ngày trắng tay sẽ được chia phần.

Nghèo thì hứa trăm năm. Có tiền rồi lại tính từng mét đất, từng đồng trong tài khoản.

Đáng tiếc nhất không phải chia đôi tài sản, mà là đến cuối cùng mới nhận ra: thứ đã mất trước tiên chính là tình nghĩa.

22/08/2026

Một bị cáo xuất hiện tại phiên tòa công khai không có nghĩa rằng từ thời điểm đó hình ảnh của họ trở thành “tài sản công cộng” để bất kỳ ai cũng được chụp, đăng lại, cắt ghép, làm thumbnail, chạy quảng cáo hoặc khai thác v...

ẢNH BỊ CAN, BỊ CÁO ĐÃ ĐĂNG TRÊN BÁO, CỔNG BỘ CÔNG AN: ADMIN FANPAGE CÓ ĐƯỢC “LẤY VỀ ĐĂNG THOẢI MÁI”?Chỉ cần một vụ án đư...
22/08/2026

ẢNH BỊ CAN, BỊ CÁO ĐÃ ĐĂNG TRÊN BÁO, CỔNG BỘ CÔNG AN: ADMIN FANPAGE CÓ ĐƯỢC “LẤY VỀ ĐĂNG THOẢI MÁI”?

Chỉ cần một vụ án được dư luận quan tâm, hình ảnh bị can, bị cáo từ báo chí hoặc cổng thông tin của cơ quan Công an có thể nhanh chóng xuất hiện trên hàng trăm fanpage Facebook, TikTok, YouTube. Nhiều admin nghĩ rất đơn giản: “Ảnh đã công khai trên báo rồi thì lấy đăng lại có gì sai?”

Dưới góc độ pháp lý, câu chuyện không đơn giản như vậy. Một bức ảnh có người trong đó có thể đồng thời tồn tại hai lớp quyền hoàn toàn khác nhau: quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền tác giả đối với chính bức ảnh.

1. BỊ CAN, BỊ CÁO VẪN CÓ QUYỀN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 xác định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Nguyên tắc là sử dụng hình ảnh phải được người đó đồng ý; sử dụng vì mục đích thương mại còn phải trả thù lao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Luật có ngoại lệ đối với hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc từ hoạt động công cộng mà không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Vì vậy, việc một cơ quan báo chí hoặc cơ quan Công an công bố ảnh để thông tin chính thức về vụ án, truy tìm đối tượng, cảnh báo xã hội hoặc phục vụ lợi ích công cộng không có nghĩa người trong ảnh từ đó mất quyền đối với hình ảnh của mình.

Quan trọng hơn: quyền công bố của chủ thể A không tự động trở thành quyền sử dụng của chủ thể B.

Một fanpage lấy lại ảnh, cắt riêng khuôn mặt bị can, ghép chữ giật gân, dựng thumbnail, làm clip câu view hoặc sử dụng để kéo người xem vào một kênh đang kiếm tiền từ quảng cáo là một hành vi sử dụng mới. Tính hợp pháp phải được đánh giá theo mục đích và cách thức sử dụng của chính fanpage đó, không thể chỉ viện lý do “Bộ Công an đã đăng trước rồi”.

Đặc biệt, việc một page có quảng cáo hoặc kiếm tiền chưa tự động chứng minh mọi bức ảnh trên page đều được sử dụng “vì mục đích thương mại”. Nhưng nếu hình ảnh của bị can, bị cáo được khai thác trực tiếp để câu view, quảng bá sản phẩm, bán hàng, thu hút tài trợ hoặc tạo doanh thu thì yếu tố thương mại càng đáng được xem xét.

Nếu quyền hình ảnh bị xâm phạm, người có hình ảnh có quyền yêu cầu chấm dứt sử dụng, thu hồi, tiêu hủy và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 32 BLDS.

2. CÒN MỘT QUYỀN KHÁC ADMIN RẤT DỄ QUÊN: BẢN QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỤP ẢNH

Người xuất hiện trong ảnh có quyền đối với hình ảnh của mình, nhưng người chụp hoặc chủ sở hữu quyền tác giả lại có quyền đối với tác phẩm nhiếp ảnh.

Đây là hai quyền không nên đánh đồng.

Ví dụ, phóng viên chụp một bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo có quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình; còn quyền tác giả, quyền tài sản đối với bức ảnh phải xác định theo pháp luật sở hữu trí tuệ và quan hệ giữa phóng viên với cơ quan báo chí.

Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền sao chép và quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng trên mạng. Vì vậy, việc admin tải ảnh của báo A xuống rồi đăng nguyên ảnh lên Facebook của mình về bản chất có thể phát sinh hành vi sao chép và đưa tác phẩm tới công chúng.

Và đây là điều rất nhiều người hiểu sai:

GHI “ẢNH: BÁO A” KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÃ ĐƯỢC PHÉP SỬ DỤNG.

Ghi nguồn có thể là một nghĩa vụ trong những trường hợp pháp luật cho phép sử dụng tác phẩm, nhưng ghi nguồn không phải chiếc “giấy phép bản quyền” biến mọi hành vi sao chép thành hợp pháp. Việc sao chép nội dung báo chí dù ghi nguồn vẫn có thể xâm phạm quyền tác giả nếu không thuộc trường hợp giới hạn quyền tác giả mà pháp luật cho phép.

3. ẢNH TRÊN CỔNG THÔNG TIN BỘ CÔNG AN THÌ SAO?

Cũng không nên suy luận rằng “tài liệu của cơ quan nhà nước = tài sản miễn phí trên Internet”.

Muốn sử dụng lại phải xác định bản chất của ảnh, nguồn quyền, mục đích công bố, quy chế khai thác của nguồn và trường hợp sử dụng có thuộc ngoại lệ của pháp luật sở hữu trí tuệ hay không.

Đặc biệt cần phân biệt giữa chia sẻ đường dẫn bài viết gốc và tải ảnh về, cắt logo, chỉnh sửa rồi đăng thành nội dung của kênh mình. Hai hành vi có bản chất pháp lý rất khác nhau.

4. NGUY HIỂM NHẤT LÀ “BIẾN TƯỚNG” BỨC ẢNH SAU KHI LẤY VỀ

Giả sử việc sử dụng ban đầu còn có căn cứ phục vụ thông tin thời sự, nhưng admin tiếp tục cắt khuôn mặt, ghép nhạc, thêm những dòng chữ như “siêu lừa đảo”, “tội phạm nguy hiểm”, chế meme hoặc gắn người đó với một hành vi chưa được Tòa án xác định thì rủi ro pháp lý đã chuyển sang một cấp độ khác.

Đối với người mới ở giai đoạn bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, còn phải đặc biệt tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội. “Bị can”, “bị cáo” là tư cách tố tụng, không phải chiếc nhãn để cộng đồng mạng mặc nhiên kết luận một người đã có tội.

GÓC NHÌN LUẬT SƯ: “CÔNG KHAI” KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ “CÔNG CỘNG HÓA MỌI QUYỀN”

Một bức ảnh xuất hiện công khai trên Internet không đồng nghĩa mọi quyền pháp lý gắn với bức ảnh đã biến mất.

Admin fanpage cần kiểm tra ít nhất hai câu hỏi trước khi bấm nút đăng: Tôi có quyền sử dụng hình ảnh của người này trong hoàn cảnh này không? Và tôi có quyền sao chép bức ảnh của người chụp/chủ sở hữu hay không?

Thậm chí có trường hợp quyền hình ảnh không bị vi phạm nhưng quyền tác giả lại bị xâm phạm; hoặc ngược lại. Cũng có trường hợp cả hai cùng phát sinh.

Vì vậy, nguyên tắc đáng nhớ nhất là:

Ảnh đã lên báo ≠ ảnh miễn bản quyền.
Bị can, bị cáo ≠ mất quyền hình ảnh.
Ghi nguồn ≠ được quyền sao chép.
Và một lần công bố hợp pháp ≠ cả Internet được quyền khai thác vô hạn.

22/08/2026

Sự phát triển của kinh tế số đòi hỏi pháp luật bản quyền không thể chỉ dừng ở câu hỏi “có hợp đồng hay không”. Cần nhìn sâu hơn vào chuỗi quyền, phạm vi chuyển giao và quyền lực công nghệ mà hợp đồng tạo ra cho bên được ...

22/08/2026

HPL & PARTNERS – NHÀ TÀI TRỢ TƯ VẤN PHÁP LÝ CỦA HOA HẬU BIỂN VIỆT NAM 2026 ⚖️🌊

Đồng hành cùng một cuộc thi nhan sắc không chỉ là câu chuyện của sân khấu, mà còn là sự chuyên nghiệp và chỉn chu trong từng hoạt động.

Hoa hậu Biển Việt Nam 2026 trân trọng chào đón HPL & Partners với vai trò Nhà tài trợ Tư vấn Pháp lý, đồng hành cùng Ban Tổ chức trong công tác tư vấn và các vấn đề pháp lý liên quan đến chương trình.

Sự đồng hành của HPL & Partners góp phần xây dựng nền tảng pháp lý vững chắc, hỗ trợ các hoạt động của chương trình được triển khai chuyên nghiệp, chặt chẽ và đúng quy định, hướng đến một mùa giải minh bạch và chỉn chu.

🤝 Hoa hậu Biển Việt Nam 2026 trân trọng cảm ơn HPL & Partners vì sự tin tưởng và đồng hành cùng chương trình.

Sự đồng hành của Quý Đơn vị là một phần quan trọng góp nên thành công của cuộc thi, đồng thời góp phần tạo nên một hành trình nhan sắc chuyên nghiệp và ý nghĩa.

👑 ĐĂNG KÝ DỰ THI HOA HẬU BIỂN VIỆT NAM 2026 NGAY HÔM NAY!
Link: https://forms.gle/v5UuaTurFTo9PEKh6
Thời hạn đăng ký: Đến hết ngày 28/12/2026


📱 KÊNH TRUYỀN THÔNG CHÍNH THỨC:
Fanpage: HOA HẬU BIỂN VIỆT NAM 2026
☎️ Hotline: 0979 064 445
📧 Email: [email protected]

Address

125/10 Nguyễn Văn Thương, Phường 25, Bình Thạnh, TPHCM
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ls Đặng Thị Thuý Huyền posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Ls Đặng Thị Thuý Huyền:

Shortcuts

Share