LUẬT SƯ HÌNH SỰ

LUẬT SƯ HÌNH SỰ Luật sư hình sự chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý cử luật sư bào chữa trong cá

17/07/2020

BI KỊCH VỤ ÁN NGOẠI TÌNH VỚI ANH RỂ, BỎ XYANUA VÀO TRÀ SỮA ĐỊNH GIẾT CHỊ
(nguồn: Báo Thanh niên)

17/07/2020
PHÂN BIỆT TỘI VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC VÀ TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁCHỏi: Xin gửi lời chào trân trọng tới các anh chị Luật Sư Bằn...
06/07/2020

PHÂN BIỆT TỘI VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC VÀ TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC

Hỏi: Xin gửi lời chào trân trọng tới các anh chị Luật Sư Bằng Chứng, hiện em đang rất bị nhầm lẫn về tội vu khống người khác và tội làm nhục người khác, anh chị vui lòng tư vấn giúp em làm thế nào để phân biệt hai tội này theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.
Trả lời: Căn cứ Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

STT Nội dung Tội làm nhục người khác Tội vu khống
1 Cơ sở pháp lý Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017
2 Khái niệm Làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc Loan Truyền những điều mà mình biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự Hoặc gây ra thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
3 Mặt chủ thể Chủ thể của tội làm nhục người khác là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội vu khống là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
4 Mặt khách thể Hành vi phạm tội lưu trên xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của người khác. Hành vi nêu trên xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và các quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
5 Mặt chủ quan Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
6 Mặt khách quan Mặt khách quan của tội tội làm nhục người khác được thể hiện qua hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác dưới các hình thức sau:
Thể hiện bằng lời nói: như sỉ nhục khóa mạng chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu nhầm vào nhân cách, danh dự với tính chất hạ thấp nhân cách, danh dự của người bị hại đồng thời làm cho người bị hại cảm thấy xấu hổ, nhục nhã trước những người khác.

Thể hiện bằng việc làm: Như có những hành vi bỉ ổi (có hoặc không kèm theo lời nói thô tục) với chính bản thân mình hoặc người bị hại trước đám đông để bêu riếu.

Đặc trưng của các hành vi nêu trên thường là diễn ra trực tiếp, công khai và trước nhiều người hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Về hành vi. Có một trong các hành vi sau đây:
– Có hành vi bị đặt những điều biết rõ là sai sự thật, nhầm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Hành vi này thể hiện qua việc người phạm tội đã tự đặt ra và loan truyền những điều không đúng với sự thật có nội dung xuyên tạc để xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc để gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

– Có hành vi loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm danh dự Hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của. Hành vi này được thể hiện thông qua việc người phạm tội Tuy không bị đặt ra những điều không đúng sự thật về người khác và biết rõ điều đó là sai sự thật việc biết rõ điều mình lan truyền là sai sự thật là dấu hiệu bắt buộc nhưng vẫn non truyền điều bịa đặt đó ( như lỗi cho người khác biết đưa lên phương tiện thông tin đại chúng…) cho người khác.

– Có hành vi bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Được thể hiện qua việc tự mình bị đặt ra rằng người khác có hành vi thực hiện một tội phạm nào đó và tố cáo họ trước cơ quan nhà nước như: công an, viện Kiểm sát.., Mặc dù thực tế người này không phải là người thực hiện những hành vi phạm tội đó.

Dấu hiệu khác. Có một trong các hậu quả sau:

– Xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác.

– Trong trường hợp các hành vi nêu trên không có mục đích nhằm xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác thì hậu quả thả gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Trên đây là tư vấn của đội ngũ Luật Bằng Chứng. Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật Sư tư vấn trực tuyến 24/7 qua hotline: 0933636555 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Bằng Chứng.

XÓA ÁN TÍCH – QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰHỏi: Xin kính chào Luật sư Bằng Chứng, em đang chấp hành hình phạt tù án tre...
01/07/2020

XÓA ÁN TÍCH – QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Hỏi: Xin kính chào Luật sư Bằng Chứng, em đang chấp hành hình phạt tù án treo vào ngày 10/6/2016, thời hạn là 15 tháng và thời gian thử thách là 30 tháng. Vậy anh chị cho em hỏi, vậy khi nào được xóa án tích? Em xin cảm ơn nhiều ạ.
Trả lời:

Những trường hợp đặc biệt theo quy định tại điều 71 và điều 72 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.
Điều 72. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Trường hợp đương nhiên được xóa án tích:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.
Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.
Thời hạn tính để xóa án tích được tính như sau:

Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích

Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.
Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.
Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.
Như vậy, sau một năm kể từ ngày bạn chấp hành xong thời gian thử thách, và đã hoàn thành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án ( nếu có ) bạn có thể nộp hồ sơ xin xóa án tích.

Trên đây là tư vấn của đội ngũ Luật Bằng Chứng. Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật Sư tư vấn trực tuyến 24/7 qua hotline: 0933636555 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Bằng Chứng.

VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG CÓ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ KHÔNG?Hỏi: Chào Luật sư. Tôi có một câu hỏi mong được Luật sư ...
30/06/2020

VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG CÓ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ KHÔNG?
Hỏi: Chào Luật sư. Tôi có một câu hỏi mong được Luật sư giải đáp. Tôi và ông B có những mâu thuẫn từ 2 năm trước. Mới đây ông B có qua nhà tôi rồi hành hung tôi. Bị đánh bất ngờ vào bụng, tôi đã phản kháng lại. Tiện có con dao trên tôi đã đâm vào bụng ông B. Sau đó, ông B đã làm đơn gửi lên công an. Tôi được biết khi dám định tỷ lệ thương tật của Ông B là 10%.

Vậy trong trường hợp này, khi tôi phòng vệ mà không may gây thương tích có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

Hiện tôi đang rất bất an, mong Luật sư phản hồi sớm! Tôi cảm ơn!
Trả lời:

*Vượt quá phòng vệ chính đáng

Điều 22 Bộ Luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

Xét thấy, hành vi cầm dao đâm ông B khi bị ông B đấm vào bụng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Vì vậy, bạn sẽ thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Lúc này bạn sẽ phải chịu trách nhiệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;
h) Có tổ chức;
i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;
m) Có tính chất côn đồ;
n) Tái phạm nguy hiểm;
o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Mặc dù, tỷ lệ thương tật ở đây dưới 11% nhưng bạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì bạn đã sử dụng hung khí nguy hiểm (dao). Tuy nhiên, nếu bạn có thể thỏa thuận với ông B để rút đơn thì vụ án sẽ được đình chỉ vì khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là điều khoản khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Cụ thể như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Trên đây là tư vấn của đội ngũ Luật Bằng Chứng. Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật Sư tư vấn trực tuyến 24/7 qua hotline: 0933636555 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Bằng Chứng.

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG PHẠMVụ án đồng phạm có nhiều người tham gia, mỗi người tham gia gây án ở mức độ...
29/06/2020

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG PHẠM
Vụ án đồng phạm có nhiều người tham gia, mỗi người tham gia gây án ở mức độ khác nhau, có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ khác nhau, vì vậy mức độ trách nhiệm hình sự của họ khác nhau. Bởi thế, khi xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm phải dựa vào nguyên tắc do Luật Hình sự quy định.
Thứ nhất, nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự chung: tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ tội phạm đã xảy ra. Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm đồng phạm về tính chất liên kết hành vi cùng thực hiện một tội phạm, hành vi của mỗi người đồng phạm đều là nguyên nhân gây ra hậu quả tác hại chung. Vì vậy Luật Hình sự quy định những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về một tội phạm mà họ đã thực hiện, đều bị áp dụng hình phạt của tội phạm mà tất cả những người đồng phạm đã cùng thực hiện. Mọi người đồng phạm trong vụ án đều phải chịu trách nhiệm về tình tiết tăng nặng nếu có, đều bị áp dụng nguyên tắc chung về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xác định hình phạt.

Thứ hai, theo tính độc lập của trách nhiệm hình sự trong vụ án đồng phạm Luật Hình sự quy định mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm. Nguyên tắc này xuất phát từ tính chất, mức độ tham gia gây án của người đồng phạm khác nhau, đặc điểm nhân thân khác nhau, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi người khác nhau. Trách nhiệm hình sự độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm ở chỗ: mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đến đâu thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm đến đó. Người đồng phạm này không phải chịu trách nhiệm hình sự về sự vượt quá của người đồng phạm khác. Những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng riêng với người đồng phạm có tình tiết đó. Ví dụ: A thấy chú ruột của mình là người giàu có, nên tổ chức cho B, C và D trộm cắp tài sản của chú. A căn dặn B, C, D rằng khi đến nhà chú của A nếu phát hiện thì phải rút lui, A đã kiểm tra kỹ không để cho B, C, D mang theo hung khí. Trên đường đến nhà chú của A, C đã rẽ về nhà mình và đem theo một dao găm. Khi phát hiện C dùng dao găm ấy đâm vào bụng chú của A. Trường hợp này hành vi của C là vượt quá. Vì vậy A, B và D không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của C.

Hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức dù chưa dẫn đến việc phạm tội nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội tùy thuộc quy định của điều luật về tội phạm cụ thể.

Khi xác định trách nhiệm hình sự của những người trong vụ án đồng phạm, cần chú ý những vấn đề sau đây:

Một là: Đối với những tội đòi hỏi chủ thể tội phạm phải có dấu hiệu đặc biệt thì chỉ cần người thực hành có dấu hiệu chủ thể đặc biệt, còn người đồng phạm khác không cần dấu hiệu đó.

Hai là: Do nguyên nhân ngoài ý muốn, người thực hành không phạm tội được đến cùng, mà phải dừng lại thì người thực hành thực hiện tội phạm đến đâu người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó. Người xúi giục, giúp sức, tổ chức chỉ được miễn trách nhiệm hình sự khi họ đã cố gắng ngăn cản không để người thực hành phạm tội. Nếu hành vi xúi giục, giúp sức, tổ chức đã thực tế cấu thành tội phạm khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ấy.

Ba là: Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được xem xét theo quy định Điều 16 Bộ luật hình sự 2015, sửa bổ sung 2017. Người thực hành được thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định chung; người tổ chức, xúi giục, giúp sức chỉ được thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi người thực hành chưa bắt tay vào việc thực hiện tội phạm và có hành vi ngăn ngừa người thực hành phạm tội.

Quy định nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong vụ án đồng phạm có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm xử lý chính xác theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, bảo đảm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Mọi vướng mắc có liên quan vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật Sư tư vấn trực tuyến 24/7 qua hotline: 0933636555 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Bằng Chứng.

HÌNH PHẠT NÀO THÍCH ĐÁNG CHO CÔ GÁI BỎ CHẤT ĐỘC XYANUA VÀO TRÀ SỮA ĐẦU ĐỘC CHỊ HỌ.Khoảng 16 giờ ngày 3-12-2019, Công an ...
29/06/2020

HÌNH PHẠT NÀO THÍCH ĐÁNG CHO CÔ GÁI BỎ CHẤT ĐỘC XYANUA VÀO TRÀ SỮA ĐẦU ĐỘC CHỊ HỌ.
Khoảng 16 giờ ngày 3-12-2019, Công an TP Thái Bình nhận được tin báo về cái chết bất thường của chị N.T.H., điều dưỡng viên Bệnh viện (BV) Phổi tỉnh Thái Bình, ngay tại nơi việc.
Quá trình điều tra, ngày 25-12, Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình ra quyết định khởi tố vụ án và lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lại Thị Kiều Trang (25 tuổi, ngụ thôn 4, xã Vũ Quý, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) để điều tra về hành vi giết người. Công an TP Thái Bình sau đó chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình để điều tra theo thẩm quyền.

Sáng 31-12, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình đã khai quật và khám nghiệm tử thi nạn nhân để điều tra vụ việc. Kết quả khám nghiệm tử thi đã phát hiện thấy chất độc xyanua trong phủ tạng nạn nhân N.T.H.

Theo điều tra ban đầu và lời khai của Lại Thị Kiều Trang, chị N.T.H. tử vong do uống phải cốc trà sữa có chứa chất độc xyanua do Trang pha chế.
Được biết, Trang là em họ chị Đ.T.H.Y. (30 tuổi, đồng nghiệp với nạn nhân N.T.H.) và đã ngoại tình với anh P.V.Q. (chồng chị Y.) từ tháng 1-2019. Đến tháng 10-2019, do anh Q. muốn dừng mối quan hệ nên Trang buồn chán và tìm mua xyanua trên mạng internet để tự tử. Tuy nhiên, do ghen với chị Y. nên Trang nảy sinh ý định đầu độc chị Y.

Biết chị Y. hay uống trà sữa, ngày 2-12-2019, Trang mua trà sữa về nhà và bơm xyanua vào. Sau đó, Trang giả là người nhà bệnh nhân mang đến BV gửi người chuyển cho chị Y. để "cảm ơn". Khoảng 10 giờ ngày 3-12-2019, chị N.T.H. đã uống phải trà sữa do Trang gửi đến cho chị Y. và tử vong ngay sau đó.
( Trích Nguồn tin: baomoi.com)

KỊCH BẢN NÀO CHO KỲ ÁN HỒ DUY HẢI🍀️ Hôm nay, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội họp toàn phiên để thảo luận về thảo luận về vụ ...
17/06/2020

KỊCH BẢN NÀO CHO KỲ ÁN HỒ DUY HẢI
🍀️ Hôm nay, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội họp toàn phiên để thảo luận về thảo luận về vụ án Hồ Duy Hải (ngày 17/06/2020), trong đó có xem xét về Quyết định Giám đốc thẩm giữ nguyên án tử hình của Tòa án nhân dân tối cao
⏩ Vậy Hồ Duy Hải là ai? tại sao một vụ án hình sự lại kéo dài trong vòng 13 năm? Hồ Duy Hải đã nhiều lần thoát chết trong gang tất, ví như ngày hôm sau phải thi hành án tử thì ngày hôm nay nhận được Công văn hỏa tốc yêu cầu hoãn thi hành án tử hình từ Văn phòng Chủ Tịch Nước.
Mời cá bạn đón đọc bài viết dưới đây:
🎯 Vụ án Hồ Duy Hải là một vụ án hình sự ở Việt Nam xảy ra vào tối ngày 13 tháng 1 năm 2008 tại Bưu cục Cầu Voi, ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Trong đó, hai nữ nhân viên bưu điện tên là Nguyễn Thị Ánh Hồng (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Thu Vân (sinh năm 1987) bị giết bằng cách cắt cổ. Ngày 21 tháng 3 năm 2008, nghi phạm Hồ Duy Hải sinh năm 1985 bị bắt.[1] Qua hai lần xét xử sơ thẩm (năm 2008 tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An) và phúc thẩm (năm 2009 tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội giết người, 5 năm tù về tội cướp tài sản, tổng hợp hình phạt là tử hình. Tuy nhiên, gia đình Hồ Duy Hải liên tục kêu oan. Năm 2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình quyết định không kháng nghị vụ án. Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải. Sau đó, trước phản đối của dư luận trong nước và quốc tế cũng như Quốc hội Việt Nam, năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ra lệnh tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải, việc chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Tòa án nhân dân tối cao.[2]

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019.[3]

Ngày 8 tháng 5 năm 2020, sau 3 ngày xét xử giám đốc thẩm vụ án, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua bỏ phiếu công khai, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đây là một vụ án có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc điều tra, giải quyết vụ án như: Tiêu hủy vật chứng, thay đổi vật chứng; bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường; rút bỏ hồ sơ chứng cứ có lợi cho bị cáo, bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo.[4][5][6][7] Tuy nhiên Tòa án nhân dân tối cao nhận định những vi phạm pháp luật này không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
👉 Tuy nhiên, hiện nay Quốc hội lại đang tranh luận việc này rất sôi nổi. Đồng thời, Ủy ban Tư pháp của Quốc Hội đang xem xét về vụ án này. Vụ án này đã gây xôn xao dư luận và dấy lên sự bức xúc của các luật sư vì kết án qua loa, chỉ dựa vào bản khai có tính chất bị mớm cung, hiện trường gây án có để lại mười dấu tay dính máu không phải là của Hồ Duy Hải, tang vật gây án không tìm thấy được. Bản thân Hồ Duy Hải ban đầu không kêu oan, không nói mình không nói mình có tội nhưng lại phủ nhận chuyện giết người.
🎯 Vậy lý do của việc này là gì?
Theo tác giả thì khả năng Hồ Duy Hải đã xuất hiện tại hiện trường gây án tại thời điểm hung thủ đang gây án, hoặc ngay sau khi gây án và các nạn nhân đã chết. Hải vào trộm thẻ sim card điện thoại để nộp tiền chơi game, lấy các tài sản khác ở bưu điện cầu voi và vàng để đem đi tiêu thụ lấy tiền tiêu xài. Tang vật là vàng và thẻ sim tịch thu được chứng minh rằng Hồ Duy Hải đã phạm tội trộm cắp tài sản. Còn việc Hải xuất hiện quá đúng thời điểm nhạy cảm và có hành vi vi phạm pháp luật dễ khiến cho điều tra viên tham gia vụ án gần như mặc định trong suy nghĩ rằng đây là vụ Giết người cướp tài sản.
Vụ Hồ Duy Hải có phải án oan hay không, hồi sau sẽ rõ. Mời quý vị cứ đọc tiếp theo, chúng tôi sẽ cập nhật thông tin mới nhất về vụ án này trên Fanpage LUẬT SƯ HÌNH SỰ

🍀️ Công ty luật TNHH Bằng Chứng chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý cử Luật sư bào chữa cho bị can bị cáo trong các vụ án hì...
16/06/2020

🍀️ Công ty luật TNHH Bằng Chứng chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý cử Luật sư bào chữa cho bị can bị cáo trong các vụ án hình sự, luật sư bảo vệ quyền và lợ ích hợp pháp cho người bị hại trong vụ án hình sự.
⏩ Ngoài ra, công ty chúng tôi cũng nhận các vụ bào chữa chỉ định của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, hỗ trợ trợ giúp pháp lý dành cho người nghèo theo quy định của Pháp luật.

Address

Ho Chi Minh City
700000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT SƯ HÌNH SỰ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share