Luật sư Thuỳ

Luật sư Thuỳ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Luật sư Thuỳ, Legal Service, Binh Thanh District, Ho Chi Minh City.

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟒𝟒/𝟐𝟎𝟐𝟏/𝐐𝐋 𝐕𝐞̂̀ 𝐯𝐢ệ𝐜 𝐱𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐤𝐡𝐨̛̉𝐢 𝐤𝐢ệ𝐧 đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐲𝐞̂𝐮 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐩𝐡𝐚̉𝐧 𝐭𝐨̂́𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝...
13/01/2026

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟒𝟒/𝟐𝟎𝟐𝟏/𝐐𝐋 𝐕𝐞̂̀ 𝐯𝐢ệ𝐜 𝐱𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐤𝐡𝐨̛̉𝐢 𝐤𝐢ệ𝐧 đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐲𝐞̂𝐮 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐩𝐡𝐚̉𝐧 𝐭𝐨̂́
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ: Trong vụ án dân sự, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định yêu cầu phản tố của bị đơn chính là yêu cầu khởi kiện và phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ: Khoản 4 Điều 60, Điều 159, Điều 176, Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (tương ứng với khoản 4 Điều 72, Điều 184, Điều 200, Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); điểm e, khoản 1, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[2] Về yêu cầu phản tố, nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm tại Bản án số 82/2020/KDTM-PT về việc yêu cầu phản tố không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện (tr. 15) là không đúng. Theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu phản tố là yêu cầu không nằm trong yêu cầu của nguyên đơn, có thể được giải quyết bằng một vụ án độc lập; việc giải quyết yêu cầu phản tố trong cùng vụ án là để kết quả giải quyết chính xác và nhanh hơn. Yêu cầu phản tố cũng chính là yêu cầu khởi kiện nên phải tuân thủ quy định về thời hiệu khởi kiện. Do đó, trường hợp có yêu cầu phản tố và có đương sự trong vụ án đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định xem yêu cầu phản tố có còn thời hiệu khởi kiện hay không mới đúng quy định pháp luật.”
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟏𝟐/𝟐𝟎𝟏𝟕/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐗𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 đư𝐨̛𝐧𝐠 𝐬𝐮̛̣ đư𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐫𝐢ệ𝐮 𝐭𝐚̣̂𝐩 𝐡𝐨̛̣𝐩 𝐥ệ 𝐥𝐚̂̀𝐧 𝐭𝐡𝐮̛́ 𝐧𝐡𝐚̂́𝐭 𝐬𝐚𝐮 𝐤𝐡𝐢 𝐓𝐨̀𝐚...
13/01/2026

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟏𝟐/𝟐𝟎𝟏𝟕/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐗𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 đư𝐨̛𝐧𝐠 𝐬𝐮̛̣ đư𝐨̛̣𝐜 𝐭𝐫𝐢ệ𝐮 𝐭𝐚̣̂𝐩 𝐡𝐨̛̣𝐩 𝐥ệ 𝐥𝐚̂̀𝐧 𝐭𝐡𝐮̛́ 𝐧𝐡𝐚̂́𝐭 𝐬𝐚𝐮 𝐤𝐡𝐢 𝐓𝐨̀𝐚 𝐚́𝐧 đ𝐚̃ 𝐡𝐨𝐚̃𝐧 𝐩𝐡𝐢𝐞̂𝐧 𝐭𝐨̀𝐚
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và lý do hoãn phiên tòa không phải do lỗi của đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) hoặc người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Phiên tòa được mở lại nhưng có đương sự hoặc người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được triệu tập hợp lệ vắng mặt.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý:
Tòa án phải xác định đây là trường hợp đương sự hoặc người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Khoản 1 Điều 199, Điều 202, khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (khoản 1 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[1] Về tố tụng: Theo Biên bản phiên tòa phúc thẩm ngày 26-11-2013 thì tại phiên tòa các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa để các đương sự cung cấp thêm chứng cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm được mở lại vào ngày 26-02-2014, bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt. Trường hợp Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và việc hoãn phiên tòa là do Tòa án, tại phiên tòa được mở lại đương sự hoặc người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất. Lẽ ra, Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định là bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự để hoãn phiên tòa. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa, từ đó đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không đúng quy định tại Điều 199, 202, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm mất quyền kháng cáo, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.”
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟐𝟎/𝟐𝟎𝟏𝟖/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐱𝐚́𝐜 𝐥𝐚̣̂𝐩 𝐪𝐮𝐚𝐧 𝐡ệ 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐥𝐚𝐨 đ𝐨̣̂𝐧𝐠 𝐬𝐚𝐮 𝐤𝐡𝐢 𝐡𝐞̂́𝐭 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐠𝐢𝐚𝐧 𝐭𝐡𝐮̛̉ 𝐯𝐢ệ𝐜𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 ...
12/01/2026

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟐𝟎/𝟐𝟎𝟏𝟖/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐱𝐚́𝐜 𝐥𝐚̣̂𝐩 𝐪𝐮𝐚𝐧 𝐡ệ 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐥𝐚𝐨 đ𝐨̣̂𝐧𝐠 𝐬𝐚𝐮 𝐤𝐡𝐢 𝐡𝐞̂́𝐭 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐠𝐢𝐚𝐧 𝐭𝐡𝐮̛̉ 𝐯𝐢ệ𝐜
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Người sử dụng lao động có thư mời làm việc với nội dung xác định loại hợp đồng lao động và thời gian thử việc. Người lao động đã thử việc theo đúng thời gian thử việc trong thư mời làm việc.
Hết thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động và người lao động không có thoả thuận nào khác.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý:
Trường hợp này, phải xác định người lao động và người sử dụng lao động đã xác lập quan hệ hợp đồng lao động.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 29 của Bộ luật Lao động năm 2012.
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[2] Ông Trần Công T vào làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L theo Thư mời nhận việc ngày 20-8-2013 với nội dung: “Loại hợp đồng lao động: Xác định thời hạn (12 tháng hoặc hơn). Thời gian thử việc: 02 tháng. Hết thời gian thử việc (từ ngày 09-9-2013 đến ngày 09-11-2013), ông T không nhận được thông báo kết quả thử việc nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Công ty trách nhiệm hữu hạn L cho rằng sau 02 tháng thử việc, ông T không đáp ứng được yêu cầu của công việc, nên Công ty đã quyết định cho ông T thử việc thêm 01 tháng để tạo điều kiện cho ông T hoàn thành nhiệm vụ và để có thêm thời gian đánh giá năng lực của ông T. Tuy nhiên, không có tài liệu nào thể hiện giữa ông T và Công ty trách nhiệm hữu hạn L đã có thỏa thuận với nhau về việc kéo dài thời gian thử việc.
[3] Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Lao động quy định thời gian thử việc “Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên". Tại Bản tự khai ngày 14-6-2014, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L trình bày: “Công ty hiểu rõ rằng, sau khi kết thúc thời gian thử việc (60 ngày) nếu chưa ký HĐLĐ thì người lao động được làm việc chính thức theo loại hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng”. Như vậy, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L thừa nhận rằng sau khi hết thời gian thử việc, ông T đã trở thành người lao động chính thức theo hợp đồng lao động có thời hạn là 12 tháng. Trên thực tế, Công ty trách nhiệm hữu hạn L đã thương lượng với ông T về việc chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 28-12-2013; khi thương lượng không có kết quả, ngày 29-12-2013 Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn L ra Quyết định số 15/QĐKL-2013 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông T. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định quan hệ giữa ông T với Công ty trách nhiệm hữu hạn L sau khi hết thời gian thử việc là quan hệ hợp đồng lao động.”
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝟏𝟎 𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐦𝐨̛́𝐢 đ𝐚̃ đư𝐨̛̣𝐜 𝐛𝐢𝐞̂̉𝐮 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐭𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐚. 𝐍𝐚̂𝐧𝐠 𝐭𝐨̂̉𝐧𝐠 𝐬𝐨̂́ 𝐚́𝐧 𝐥ệ 𝐭𝐮̛̀ 𝟕𝟐 𝐥𝐞̂𝐧 𝟖𝟐.Án lệ là những lập luận, ...
31/12/2025

𝟏𝟎 𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐦𝐨̛́𝐢 đ𝐚̃ đư𝐨̛̣𝐜 𝐛𝐢𝐞̂̉𝐮 𝐪𝐮𝐲𝐞̂́𝐭 𝐭𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐚.
𝐍𝐚̂𝐧𝐠 𝐭𝐨̂̉𝐧𝐠 𝐬𝐨̂́ 𝐚́𝐧 𝐥ệ 𝐭𝐮̛̀ 𝟕𝟐 𝐥𝐞̂𝐧 𝟖𝟐.

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟐𝟏/𝟐𝟎𝟏𝟖/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐥𝐨̂̃𝐢 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐡𝐢ệ𝐭 𝐡𝐚̣𝐢 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̛𝐧 𝐩𝐡ư𝐨̛𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐚̂́𝐦 𝐝𝐮̛́𝐭 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐨 𝐭𝐡𝐮𝐞̂ 𝐭𝐚̀𝐢 𝐬...
26/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟐𝟏/𝟐𝟎𝟏𝟖/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐥𝐨̂̃𝐢 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐡𝐢ệ𝐭 𝐡𝐚̣𝐢 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̛𝐧 𝐩𝐡ư𝐨̛𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐚̂́𝐦 𝐝𝐮̛́𝐭 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐨 𝐭𝐡𝐮𝐞̂ 𝐭𝐚̀𝐢 𝐬𝐚̉𝐧
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Hợp đồng cho thuê tài sản có thời hạn, không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng. Bên thuê chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nhưng không được bên cho thuê đồng ý.
Thời gian từ khi bên thuê có văn bản thông báo đến khi chấm dứt hợp đồng quá ngắn dẫn đến bên cho thuê không thể có hợp đồng khác thay thế ngay trong thời gian còn lại của hợp đồng thuê.
Bên cho thuê yêu cầu bên thuê phải thanh toán tiền thuê tài sản trong thời gian còn lại của hợp đồng.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý:
Trường hợp này, phải xác định bên thuê có lỗi và phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra cho bên cho thuê. Thiệt hại thực tế cần xem xét là khoản tiền cho thuê phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Điều 426 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015);
Các điều 269, 302, 303 Luật Thương mại năm 2005;
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[1] Ngày 10-4-2006, Công ty D cho Công ty cổ phần C thuê hai đầu máy vỏ thép và lai dắt tàu ra vào tại cảng 10-10 và cảng Khe Dây Quảng Ninh, có hiệu lực từ ngày ký đến ngày 31-12-2006 theo Hợp đồng kinh tế số 1141/HĐ-CNQN. Trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, đến ngày 17-8-2006, Công ty cổ phần C có Văn bản số 2349/INDEVCO thông báo chấm dứt hợp đồng từ ngày 20-8-2006 với lý do “không có nhu cầu thuê 2 đầu máy”. Thời gian Công ty cổ phần C ra văn bản thông báo đến khi chấm dứt hợp đồng là quá ngắn, đã gây thiệt hại cho Công ty D do không thể có được hợp đồng khác thay thế ngay. Lỗi thuộc về Công ty cổ phần C nên phải chịu trách nhiệm đối với khoản thiệt hại đã gây ra cho Công ty D. Thiệt hại thực tế cần xem xét là khoản tiền cho thuê phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng.”

𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟏𝟑/𝟐𝟎𝟏𝟕/𝐀𝐋 𝐇𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐨𝐚́𝐧 𝐜𝐮̉𝐚 𝐭𝐡ư 𝐭𝐢́𝐧 𝐝𝐮̣𝐧𝐠 (𝐋/𝐂) 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐦𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 𝐡𝐚̀𝐧𝐠 𝐡𝐨́𝐚...
26/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟏𝟑/𝟐𝟎𝟏𝟕/𝐀𝐋 𝐇𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐨𝐚́𝐧 𝐜𝐮̉𝐚 𝐭𝐡ư 𝐭𝐢́𝐧 𝐝𝐮̣𝐧𝐠 (𝐋/𝐂) 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐦𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 𝐡𝐚̀𝐧𝐠 𝐡𝐨́𝐚 𝐪𝐮𝐨̂́𝐜 𝐭𝐞̂́ 𝐥𝐚̀ 𝐜𝐨̛ 𝐬𝐨̛̉ 𝐜𝐮̉𝐚 𝐋/𝐂 𝐛𝐢̣ 𝐡𝐮ỷ 𝐛𝐨̉
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thỏa thuận phương thức thanh toán bằng thư tín dụng (L/C), thỏa thuận thực hiện L/C theo tập quán thương mại quốc tế (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần thứ 6 năm 2007 (UCP 600) của Phòng Thương mại Quốc tế) và phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định thư tín dụng (L/C) không bị mất hiệu lực thanh toán vì lý do hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của thư tín dụng (L/C) bị hủy bỏ.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐜𝐨́ 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26-3-2002 của Ngân hàng Nhà nước về “Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”;
- Bản sửa đổi về quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ lần thứ 6 năm 2007 (UCP 600) của Phòng Thương mại Quốc tế.
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[34] Như vậy, theo đơn đề nghị mở L/C của Bên mua và nội dung L/C đã phát hành thì L/C số 1801 là một giao dịch riêng biệt đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07-6-2011; được chi phối và áp dụng theo UCP 600. Theo quy định của UCP 600, Ngân hàng Thương mại Cổ phần E với tư cách là Ngân hàng phát hành phải thanh toán khi xác định bộ chứng từ xuất trình là phù hợp tại Ngân hàng…
[36]…Tòa án cấp sơ thẩm lại cho rằng phương thức thanh toán bằng L/C số 1801 là một phần không thể tách rời của Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07-6-2011; do vậy, khi hợp đồng này bị hủy toàn bộ thì các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng; từ đó quyết định L/C số 1801 không còn hiệu lực thanh toán và Ngân hàng Thương mại Cổ phần E không có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N theo L/C nêu trên; đồng thời buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần E phải trả cho bên mua số tiền ký quỹ là 1.313.308,85 USD là chưa đủ cơ sở và chưa đúng với các quy định tại UCP 600”.
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟎𝟗/𝟐𝟎𝟏𝟔/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐯𝐮̣ 𝐚́𝐧 𝐤𝐢𝐧𝐡 𝐝𝐨𝐚𝐧𝐡, 𝐭𝐡ư𝐨̛𝐧𝐠 𝐦𝐚̣𝐢 “𝐓𝐫𝐚𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐯𝐞̂̀ 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐦𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 𝐡𝐚̀𝐧𝐠 𝐡𝐨́𝐚”𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 ...
19/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝟎𝟗/𝟐𝟎𝟏𝟔/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐯𝐮̣ 𝐚́𝐧 𝐤𝐢𝐧𝐡 𝐝𝐨𝐚𝐧𝐡, 𝐭𝐡ư𝐨̛𝐧𝐠 𝐦𝐚̣𝐢 “𝐓𝐫𝐚𝐧𝐡 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐯𝐞̂̀ 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐦𝐮𝐚 𝐛𝐚́𝐧 𝐡𝐚̀𝐧𝐠 𝐡𝐨́𝐚”
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ 𝟏:
Hợp đồng mua bán hàng hóa bị vi phạm do bên bán không giao hoặc không giao đủ hàng cho bên mua, dẫn đến việc bên bán có nghĩa vụ hoàn trả số tiền ứng trước và tiền lãi do chậm thanh toán.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý 𝟏:
Trường hợp này, tiền lãi do chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm), trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ 𝟐:
Hợp đồng mua bán hàng hóa có phát sinh nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý 𝟐:
Trường hợp này, người có nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại không phải trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, tiền bồi thường thiệt hại đó.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- Điều 34, Điều 37, khoản 3 Điều 297, các điều 300, 301, 302, 306 và 307 Luật thương mại 2005;
- Các điều 307, 422, 474 và 476 Bộ luật dân sự năm 2005.
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“Đối với số tiền ứng trước mà không nhận được hàng của 4 hợp đồng kinh tế, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định chính xác số tiền và buộc Công ty Hưng Yên phải trả lại cho Công ty Việt Ý là đúng. Tuy nhiên, khi tính tiền lãi do chậm thanh toán số tiền nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm mặc dù áp dụng Điều 306 Luật thương mại năm 2005 nhưng không lấy mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm) để tính, mà lại áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo yêu cầu của nguyên đơn để áp dụng mức lãi quá hạn (là 10,5%/năm) là không đúng. Trong trường hợp này, Tòa án cần lấy mức lãi suất quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam...) để tính lại tiền lãi do chậm thanh toán cho đúng quy định của pháp luật”.
“Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của Công ty Việt Ý là có căn cứ tuy nhiên lại tính lãi trên số tiền phạt vi phạm hợp đồng là không đúng”.
“Tòa án cấp sơ thẩm còn tính cả tiền lãi của khoản tiền bồi thường thiệt hại là không đúng với quy định tại Điều 302 Luật thương mại năm 2005”.
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟓𝟓/𝟐𝟎𝟐𝟐/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐜𝐮̉𝐚 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐯𝐢 𝐩𝐡𝐚̣𝐦 𝐯𝐞̂̀ đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐡𝐢̀𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐮̛́𝐜𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 ...
19/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟓𝟓/𝟐𝟎𝟐𝟐/𝐀𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐜𝐮̉𝐚 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐯𝐢 𝐩𝐡𝐚̣𝐦 𝐯𝐞̂̀ đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐡𝐢̀𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐮̛́𝐜
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐀́𝐧 𝐥ệ:
-𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01/01/2017 chưa được công chứng/chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiên 2/3 nghĩa vụ của mình.
-𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý: Trường hợp này toà án công nhận hiệu lực của hợp đồng.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧: Điều 129, Khoản 1 Điều 502 và điểm b khoản 1 Điều 688 BLDS 2015; Điểm a khoản 3 Điều 167, khoản 1 điều 188 Luật đất đai 2013.
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ: về thời hạn thực hiện giao dịch được hai bên xác định là từ khi xác lập giao dịch cho đến khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, nên đây là giao dịch đang được thực hiện. Về nội dung, hình thức phù hợp với quy định của BLDS 2015 nên áp dụng BLDS 2015 là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 điều 688 BLDS 2015. Như vậy, tuy thời điểm các bên thoả thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thoả thuận, nhưng khi được cấp đất các bên đã thay đổi thoả thuận bằng lời nói thành chuyển nhượng thửa 877 và tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng việc giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bị đơn là đã đủ điều kiện để chuyển nhượng. Theo quy định Điều 116, khoản 2 điều 129 BLDS 2015 thuỳ tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 điều 502 BLDS 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟒𝟑/𝟐𝟎𝟐𝟏/𝐐𝐋 𝐕𝐞̂̀ 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐜𝐮̉𝐚 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 𝐭𝐚̀𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐥𝐚̀ 𝐧𝐡...
18/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟒𝟑/𝟐𝟎𝟐𝟏/𝐐𝐋 𝐕𝐞̂̀ 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐥𝐮̛̣𝐜 𝐜𝐮̉𝐚 𝐡𝐨̛̣𝐩 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐫ư𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐡𝐨̛̣𝐩 𝐭𝐚̀𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐥𝐚̀ 𝐧𝐡𝐚̀ đ𝐚̂́𝐭 𝐝𝐨 𝐛𝐞̂𝐧 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐩 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐜𝐡𝐮𝐲𝐞̂̉𝐧 𝐧𝐡ư𝐨̛̣𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐠ư𝐨̛̀𝐢 𝐤𝐡𝐚́𝐜 𝐧𝐡ư𝐧𝐠 𝐜𝐡ư𝐚 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐨𝐚́𝐧 đ𝐮̉ 𝐭𝐢𝐞̂̀𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐛𝐞̂𝐧 𝐛𝐚́𝐧
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được công chứng, bên mua đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhưng mới thanh toán được một phần tiền mua nhà đất; các bên chưa thực hiện việc giao nhận nhà. Bên mua thế chấp nhà đất cho Ngân hàng, có đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật; bên bán biết và đồng ý để bên mua thế chấp nhà đất nhưng sau đó lại có yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý: Trường hợp này, phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ:- Các điều 168, 323, 342, 425, 438, 689 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với các điều 161, 298, 318, 423, 440, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015); các điều 439, 692 Bộ luật Dân sự năm 2005; - Điều 10 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[2] Về xử lý tài sản thế chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định tài sản thế chấp là nhà đất tại số 26Đ và 20/2T nêu trên là của bà L nhận chuyển nhượng của ông Dương Quốc K, bà Phạm Thị Kim H theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được công chứng ngày 04/11/2008. Ngày 07/11/2008, bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Như vậy, hai nhà đất trên thuộc quyền sở hữu của bà L kể từ ngày 07/11/2008, nên bà L có quyền dùng hai nhà đất này thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền; ông K, bà H cũng biết và đồng ý cho bà L thế chấp nhà đất trên với Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, đăng ký thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp pháp nên có hiệu lực pháp luật. Ông K, bà H cho rằng bà L chưa trả đủ tiền mua nhà đất, còn nợ 2.500.000.000 đồng để yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà, trả lại 3.000.000.000 đồng đã nhận cho bà L là không có cơ sở. Nếu bà L không trả đủ số tiền mua nhà đất còn thiếu, ông K và bà H có quyền khởi kiện một vụ án khác để yêu cầu bà L thanh toán khoản tiền này... Tòa án cấp phúc thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp tài sản số 6360-LCP-2009-00949 giữa Ngân hàng với bà L đối với căn nhà số 26Đ và căn nhà số 20/2T, phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/12/2009 là không đúng, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.”
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟒𝟎/𝟐𝟎𝟐𝟏/𝐐𝐋 𝐕𝐞̂̀ 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐯𝐢ệ𝐜 𝐜𝐡𝐮𝐲𝐞̂̉𝐧 đ𝐨̂̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂̀𝐧 𝐬𝐮̛̉ 𝐝𝐮̣𝐧𝐠 đ𝐚̂́𝐭 𝐭𝐫𝐞̂𝐧 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜 𝐭𝐞̂́𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢...
18/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟒𝟎/𝟐𝟎𝟐𝟏/𝐐𝐋 𝐕𝐞̂̀ 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐯𝐢ệ𝐜 𝐜𝐡𝐮𝐲𝐞̂̉𝐧 đ𝐨̂̉𝐢 𝐪𝐮𝐲𝐞̂̀𝐧 𝐬𝐮̛̉ 𝐝𝐮̣𝐧𝐠 đ𝐚̂́𝐭 𝐭𝐫𝐞̂𝐧 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜 𝐭𝐞̂́
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ: Các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế, không có thỏa thuận bằng văn bản; các bên đã sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp, đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển đổi.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý: Trường hợp này, phải công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế; các bên có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã chuyển đổi.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ: - Khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 1993 (tương ứng với khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013); - Khoản 2 Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với khoản 2 Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015).
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[8] Như vậy, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc giao đất cho các hộ nông dân của xã T là thực hiện theo chính sách của Nhà nước và được lập hồ sơ công khai. Khi Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân thị xã B thực hiện chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 716 hộ nông dân của xã T, trong đó có hộ cụ U và hộ bà T2, cụ U và cụ K đều còn sống nhưng không có đơn, không kê khai đối với thửa đất đang tranh chấp, hai cụ chỉ kê khai đối với thửa đất số 325 (theo ông D1, bà T2 khai là thửa đất đổi cho hai cụ) và hai cụ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này, hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 986a (là thửa 986 đang tranh chấp). Mặt khác, sau khi hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp không có ai khiếu nại; chỉ đến năm 2008, khi cụ U, cụ K đã chết mới xảy ra tranh chấp giữa các con của hai cụ. Do đó, có căn cứ xác định cụ U và cụ K đã đổi đất cho bà T2, ông D1.
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟑𝟗/𝟐𝟎𝟐𝟎/𝐐𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐱𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐜𝐨́ đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐯𝐨̂ 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐝𝐨 đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐱𝐚̉𝐲 𝐫𝐚...
17/12/2025

𝐀́𝐧 𝐥ệ 𝐬𝐨̂́ 𝟑𝟗/𝟐𝟎𝟐𝟎/𝐐𝐋 𝐯𝐞̂̀ 𝐱𝐚́𝐜 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐝𝐚̂𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐜𝐨́ đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐯𝐨̂ 𝐡𝐢ệ𝐮 𝐝𝐨 đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐱𝐚̉𝐲 𝐫𝐚
𝐊𝐡𝐚́𝐢 𝐪𝐮𝐚́𝐭 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐚́𝐧 𝐥ệ:
- 𝐓𝐢̀𝐧𝐡 𝐡𝐮𝐨̂́𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ: Người thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (bên bán) cam kết sau khi mua hóa giá nhà của nhà nước sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu nhà cho bên mua. Bên bán đã nhận tiền và giao nhà cho bên mua nhưng sau đó Nhà nước không hóa giá và không công nhận quyền sở hữu nhà.
- 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥ý: Trường hợp này, phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà là giao dịch dân sự có điều kiện nhưng vô hiệu do điều kiện của hợp đồng không thể xảy ra.
𝐐𝐮𝐲 đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐩 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐪𝐮𝐚𝐧 đ𝐞̂́𝐧 𝐚́𝐧 𝐥ệ: - Điều 23 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 (tương ứng với khoản 6 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 6 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015); - Điều 21 Luật Nhà ở năm 2005 (tương ứng với Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014); - Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015).
𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐚́𝐧 𝐥ệ
“[1]...Như vậy, có cơ sở xác định cụ C đã thỏa thuận bán một phần căn nhà số 182 đường A đang thuê của Nhà nước cho bà C1 với điều kiện khi cụ C được Nhà nước hóa giá, hay nói cách khác, giao dịch giữa cụ C và bà C1 là giao dịch dân sự có điều kiện, khi nào cụ C được Nhà nước bán hóa giá nhà thì giao dịch phát sinh hiệu lực. Điều 23 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 quy định: "Trong trường hợp các bên thỏa thuận về một sự kiện là điều kiện thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng, thì khi sự kiện đó xảy ra, hợp đồng phải được thực hiện hoặc chấm dứt". Điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng tuy không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nhưng trong phần nhà đất cụ C thỏa thuận chuyển nhượng cho bà C1 có diện tích 42,74m2 nằm trong lộ giới, Nhà nước không hóa giá và không công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của cụ C cho nên phần lớn điều kiện đó không xảy ra. Vì vậy, sự thỏa thuận giữa cụ C với bà C1 không phát sinh hiệu lực, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên vô hiệu là có căn cứ.”
𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: anle.toaan.gov.vn

Address

Binh Thanh District
Ho Chi Minh City
70000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Thuỳ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category