11/08/2026
🛑⚖️ TOÀ TUYÊN ÁN [BẢN ÁN TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN, HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QSD ĐẤT, HĐ VAY TÀI SẢN/TH-LSSG]
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
- "Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T đã ký Hợp đồng ủy quyền số 008594 ngày 05/6/2023 để ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Đ được toàn quyền định đoạt 02 thửa đất số 722, 676. Tiếp theo, ông Nguyễn Thành Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 008597 ngày 05/6/2023 để chuyển nhượng 02 thửa đất số 722, 676 và tài sản trên đất cho bà V với giá 1.000.000.000 đồng, bà V đã thanh toán đủ tiền cho Nguyễn Thành Đ.
Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng ủy quyền số 008594 ngày 05/6/2023 vẫn còn hiệu lực, không bị tranh chấp tại Tòa án. Đại diện theo ủy quyền của bà V là ông D khẳng định bà V khi nhận chuyển nhượng đất có đến xem đất và có thỏa thuận miệng việc chuyển nhượng tài sản trên đất là căn nhà và công trình chuồng trại, do thỏa thuận miệng nên không thể cung cấp văn bản chứng minh. Bà V đã chuyển khoản cho anh Đ số tiền 560.000.000 đồng, còn lại đưa bằng tiền mặt, ngoài giao dịch này thì giữa bà V và anh Đ không có giao dịch nào khác. Ông Đ thừa nhận tại bản tự khai cho rằng có nhận của bà V tổng cộng 1.000.000.000 đồng gồm vốn vay và lãi nhưng ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh số tiền trên là tiền vay trong khi cùng ngày ông Đ nhận tiền do bà V chuyển vì trước đó ông Đ có ký hợp đồng chuyển nhượng hai thửa đất 722 và 676 cho bà V. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L, ông T đến nay phía bà V vẫn còn giữ, do bà L ngăn chặn ở Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G nên không sang tên được. Như vậy, xác định giữa ông Đ và bà V có xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất số 722, 676 đang tranh chấp, không có xác lập hợp đồng vay tài sản. Theo biên bản xem xét thẩm đinh tại chổ ngày 04/4/2024 trên 02 thửa đất 722, 676 có căn nhà và chuồng trại nên việc các bên không có thỏa thuận chuyển nhượng nhà và chuồng trại dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 Bộ luật dân sự....
[3.6]. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Xét thấy, các bên đều biết trên đất có nhà và chuồng trại nhưng không có thỏa thuận chuyển nhượng nên dẫn đến hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được. Như vậy,10 cả hai bên đều có lỗi ngang nhau dẫn đến hợp đồng vô hiệu nên phải chịu 50% thiệt hại thực tế xảy ra. Do hợp đồng vô hiệu nên buộc bên chuyển nhượng là bà L, ông T và ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà V số tiền chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng và liên đới bồi thường cho bà V 50% thiệt hại thực tế. Thửa đất số 722, 676 theo kết quả định giá ngày 04/4/2024 là 5.000.000 đồng/m² x 608,5 m² = 3.042.500.000 đồng - 1.000.000.000 đồng phải hoàn trả
lại cho bà V, còn lại 2.042.500.000 đồng là tiền bồi thường thiệt hại cho bà V 50% là 1.021.250.000 đồng. Tổng cộng số tiền phải trả lại và bồi thường cho bà V là 2.021.250.000 đồng. Do bà V chưa nhận đất nên không buộc giao trả đất cho bên bà L ông T. Ghi nhận việc bà V tự nguyện giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai thửa đất 722 và 676 khi án có hiệu lực pháp luật.
TOÀ TUYÊN XỬ:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Trần Thị Bạch V. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 300/2025/DS-ST
ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp.
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L.
- Hủy bỏ hợp đồng ủy quyền số công chứng 008594, quyển số
09/2023TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại Văn phòng C về việc bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Thành T2 ủy quyền cho anh Nguyễn Thành Đ ngày 05/6/2023.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 số 722, tờ bản đồ số 13, diện tích
271,3m2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07790 do Ủy ban nhân dân dân huyện G cấp ngày 17/6/2014 cho bà L và ông T2 đứng tên và thửa đất số 676, tờ bản đồ số 13, diện tích 337,2m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17/6/2014 cho bà L và ông T2 đứng tên vô hiệu".
👉 Nội dung được trích từ Bản án số: 485/2026/DS-PT do Toà án nhân dân Tỉnh Đồng Tháp Tuyên ngày 28/5/2026.