20/08/2026
CON NỢ “KIỆN NGƯỢC” CHỦ NỢ VÌ CHO VAY LÃI NẶNG: CHỦ NỢ PHẢI LÀM GÌ ĐỂ KHÔNG TỪ NGƯỜI ĐÒI NỢ THÀNH NGƯỜI BỊ XỬ LÝ?
Cho người khác vay tiền, đến hạn không trả, chủ nợ khởi kiện đòi nợ. Nhưng thay vì trả tiền, bên vay quay lại tố cáo hoặc yêu cầu xử lý người cho vay về hành vi “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đây là tình huống không hiếm trong thực tế. Tuy nhiên, có một điều cần hiểu đúng: con nợ tố cáo chủ nợ cho vay lãi cao không có nghĩa khoản nợ gốc tự động biến mất; ngược lại, chủ nợ cũng không thể cho rằng có giấy vay tiền thì mức lãi nào đã thỏa thuận cũng được pháp luật bảo vệ.
Lãi cao đến mức nào mới có nguy cơ bị xử lý hình sự?
Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì mức lãi suất về nguyên tắc không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Phần lãi vượt quá mức giới hạn này không có hiệu lực.
Nhưng lãi suất vượt 20%/năm chưa đồng nghĩa người cho vay phạm tội.
Điều 201 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC xác định “cho vay lãi nặng” là trường hợp cho vay với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất cao nhất theo khoản 1 Điều 468 BLDS. Với giới hạn thông thường 20%/năm, ngưỡng này tương ứng từ 100%/năm trở lên.
Để truy cứu trách nhiệm hình sự còn phải xem xét số tiền thu lợi bất chính và các điều kiện cấu thành tội phạm theo Điều 201 BLHS. Vì vậy, việc người vay đưa ra một giấy vay có ghi lãi cao chưa đủ để lập tức kết luận người cho vay phạm tội.
Bị con nợ tố cho vay lãi nặng, điều đầu tiên chủ nợ cần làm là “tách” khoản nợ
Sai lầm thường gặp là chủ nợ chỉ tập trung chứng minh: “Nó còn nợ tôi bao nhiêu tiền”. Trong khi khi đã phát sinh tố cáo cho vay lãi nặng, cần bóc tách toàn bộ giao dịch thành các khoản khác nhau: tiền gốc thực tế đã giao; tiền gốc đã trả; tiền lãi đã thu; mức lãi hợp pháp; phần lãi vượt mức dân sự; và phần có thể được xác định là thu lợi bất chính theo pháp luật hình sự.
Ví dụ, giấy vay ghi 1 tỷ đồng không có nghĩa mặc nhiên chứng minh người vay đã thực nhận đủ 1 tỷ đồng nếu bên vay phủ nhận. Ngược lại, bên vay đã ký giấy nhận tiền, có sao kê chuyển khoản, tin nhắn xác nhận và nhiều lần thanh toán thì đó lại là những dữ liệu quan trọng để xác định bản chất giao dịch.
Đặc biệt, không nên tự ý sửa, xóa tin nhắn, thay đổi nội dung giấy vay, lập lại chứng từ hoặc hướng dẫn người liên quan khai không đúng sự thật. Khi vụ việc đã có dấu hiệu hình sự, những hành động tưởng là “chữa cháy” có thể khiến tình thế pháp lý phức tạp hơn rất nhiều.
Con nợ tố cáo thành công thì có được “xóa nợ gốc”?
Đây mới là vấn đề nhiều người quan tâm.
Không thể hiểu đơn giản rằng cứ chứng minh được chủ nợ cho vay lãi nặng thì người vay đương nhiên được giữ luôn tiền gốc.
Khi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP có cơ chế riêng về xử lý tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm. Đáng chú ý, khoản tiền, tài sản người phạm tội dùng để cho vay thuộc trường hợp được xem xét tịch thu sung quỹ Nhà nước; phần tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất của BLDS mà người phạm tội đã thu cũng được xử lý theo hướng dẫn. Trong khi đó, khoản thu lợi bất chính mà người cho vay thực tế đã thu về nguyên tắc được trả lại cho người vay, trừ trường hợp tiền vay được sử dụng vào mục đích bất hợp pháp theo hướng dẫn.
Điều này tạo ra một nghịch lý mà người cho vay cần đặc biệt lưu ý: “con nợ không được xóa nghĩa vụ một cách tùy tiện” không đồng nghĩa người cho vay chắc chắn sẽ được nhận lại toàn bộ tiền gốc trong mọi trường hợp. Nếu vụ việc chuyển thành vụ án hình sự và khoản tiền được xác định là phương tiện dùng trực tiếp vào việc phạm tội, cơ chế xử lý vật, tiền sẽ tuân theo pháp luật hình sự và Nghị quyết hướng dẫn.
Đây chính là lý do chủ nợ không nên nghĩ rằng: “Cùng lắm Tòa chỉ cắt phần lãi vượt quá 20%, còn tiền gốc chắc chắn tôi lấy lại.” Nếu hành vi đã vượt ranh giới dân sự sang Điều 201 BLHS, hậu quả pháp lý hoàn toàn khác.
Chưa thu được lãi thì có chắc chắn không phạm tội?
Cũng không nên suy luận như vậy.
Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn cách xác định số tiền thu lợi bất chính trong nhiều tình huống, kể cả khoản vay chưa hết thời hạn nhưng hành vi bị phát hiện, ngăn chặn. Khi đó, việc xác định thu lợi bất chính không chỉ đơn giản nhìn vào số tiền hiện đang nằm trong túi người cho vay mà phải tính theo cơ chế được Nghị quyết quy định.
Do đó, khi bị tố cáo, cần dựng lại từng khoản vay, ngày giao tiền, thời hạn, mức lãi, số tiền thực tế đã thu, các khoản phí và số tiền người vay đã thanh toán. Nếu có nhiều lần cho vay thì càng không được cộng trừ tùy tiện, bởi Nghị quyết còn quy định cách xử lý trường hợp thực hiện hành vi nhiều lần.
Đừng gọi là “phí” nếu bản chất vẫn là tiền lãi
Một cách xử lý rủi ro rất nguy hiểm là cho rằng hợp đồng chỉ ghi lãi suất thấp nhưng bên vay còn phải trả “phí dịch vụ”, “phí quản lý”, “tiền hồ sơ”, “tiền tư vấn”, “phí đáo hạn”… thì những khoản đó mặc nhiên nằm ngoài lãi suất.
Pháp luật hình sự nhìn vào bản chất của dòng tiền, không chỉ tên gọi mà các bên đặt cho nó.
Nghị quyết 01/2021 xác định “thu lợi bất chính” bao gồm phần lãi vượt mức cao nhất của pháp luật dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay.
Vì vậy, đổi tên “tiền lãi” thành một loại “phí” không làm thay đổi bản chất nếu thực tế đó vẫn là khoản người vay bắt buộc phải trả để được vay tiền.
Chủ nợ nên làm gì khi bị tố cáo ngược?
Theo góc nhìn của luật sư, việc cần làm không phải là tìm cách gây áp lực để người vay rút đơn tố cáo, mà là kiểm toán lại toàn bộ giao dịch vay. Cần lập ngay bảng dòng tiền cho từng khoản vay; bảo toàn bản gốc hợp đồng, giấy nhận nợ, sao kê, tin nhắn và dữ liệu điện tử; xác định chính xác lãi suất thực tế theo năm; tính riêng phần lãi trong giới hạn Điều 468 BLDS và phần vượt giới hạn; xác định số tiền thực tế đã thu; đồng thời rà soát xem vụ việc mới dừng ở tranh chấp dân sự hay đã có dấu hiệu của Điều 201 BLHS.
Nếu đang đồng thời có vụ kiện đòi nợ tại Tòa và đơn tố giác tại cơ quan điều tra, chiến lược pháp lý của hai thủ tục cũng phải thống nhất. Một lời trình bày về số tiền, mức lãi ở vụ án dân sự có thể trở thành tài liệu được xem xét trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm và ngược lại.
“Kiện ngược” không phải chiếc vé để con nợ khỏi trả nợ, nhưng cho vay lãi nặng cũng không còn là chuyện dân sự đơn thuần
Ranh giới quan trọng nhất nằm ở đây.
Lãi vượt 20%/năm trước hết đặt ra vấn đề hiệu lực của phần lãi vượt trần theo pháp luật dân sự. Nhưng khi mức lãi đạt ngưỡng gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất và đáp ứng những điều kiện của Điều 201 BLHS thì người cho vay có thể phải đối diện trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, khi con nợ “kiện ngược”, chủ nợ không nên hoảng sợ nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan. Câu hỏi quan trọng không phải chỉ là “người vay còn nợ tôi bao nhiêu?”, mà phải là “từng đồng tiền gốc, tiền lãi đã giao – nhận thế nào, mức lãi thực tế bao nhiêu và pháp luật sẽ xử lý từng khoản tiền đó ra sao?”
Đôi khi, chỉ cần tính sai ranh giới này, người bước vào cơ quan tố tụng với tư cách chủ nợ đi đòi tiền có thể lại trở thành người bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Nguồn: TeamHPL
LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ