Ls Lê Văn Thuyết

Directions

Ls Lê Văn Thuyết Công ty Luật DKI & Cộng sự
Luật sư - Giám đốc
📞 078 768 6713

09/10/2026

(SHTT) - Có những nghề nuôi sống con người. Có những nghề làm nên tên tuổi. Nhưng cũng có những nghề, muốn đi đến cuối con đường, người ta phải đánh đổi rất nhiều để giữ lại hai chữ: Lương tâm. Nghề luật sư là một nghề như ...

20/09/2026
KHÔNG TAI NẠN, KHÔNG ÙN TẮC, VÌ SAO "CAO TỐC" VẪN CHẬM?Một tuyến cao tốc được thiết kế cho tốc độ cao, nhưng chỉ cần một...
03/09/2026

KHÔNG TAI NẠN, KHÔNG ÙN TẮC, VÌ SAO "CAO TỐC" VẪN CHẬM?

Một tuyến cao tốc được thiết kế cho tốc độ cao, nhưng chỉ cần một vài xe chạy chậm không đúng làn, giữ khoảng cách quá mức hoặc bám làn vượt quá lâu, cả dòng xe phía sau có thể bị kéo xuống chỉ còn 60–70 km/h. Không tai nạn, không công trình, không ùn tắc “hữu hình” — nhưng cả dòng giao thông vẫn chậm lại.

Đó là nghịch lý: đường được làm để đi nhanh hơn, nhưng cách sử dụng đường lại khiến tất cả cùng đi chậm.

Nhiều người quá ám ảnh với việc “đi chậm cho an toàn” đến mức quên rằng an toàn không chỉ nằm ở tốc độ thấp. An toàn còn nằm ở đúng làn, đúng tốc độ, giữ khoảng cách hợp lý, vượt dứt khoát và không cản trở dòng phương tiện phía sau.

Một chiếc xe chạy chậm ở vị trí không phù hợp có thể vô tình trở thành “nút thắt cổ chai”. Xe sau phanh, xe kế tiếp tiếp tục giảm tốc, hiệu ứng lan truyền khiến hàng chục phương tiện phía sau cùng mất tốc độ dù phía trước hoàn toàn thông thoáng.

Giao thông, nhìn theo một cách khác, giống như dòng nước. Muốn dòng chảy hiệu quả thì không chỉ cần “không va vào nhau”, mà còn phải giữ được nhịp lưu thông ổn định.

Bởi mục tiêu của cao tốc không phải để mọi người chạy nhanh bằng mọi giá, mà là để phương tiện di chuyển gần với tốc độ thiết kế trong điều kiện vẫn bảo đảm an toàn.

Nếu ai cũng chạy chậm tùy ý, giữ làn vượt quá lâu, không quan sát dòng xe phía sau thì cao tốc dù thiết kế 120 km/h cũng có thể bị biến thành một con đường chỉ chạy được 60 km/h.

Và khi đó, chúng ta không thực sự “an toàn hơn”. Chúng ta chỉ đang chuyển từ rủi ro tốc độ sang rủi ro của một dòng giao thông thiếu nhịp, thiếu kỷ luật và thiếu hiệu quả.

Một chiếc xe chậm đôi khi không chỉ quyết định tốc độ của chính nó. Nó còn có thể quyết định tốc độ của cả đoàn xe phía sau.

Cao tốc chỉ thật sự là cao tốc khi mỗi người hiểu rằng quyền đi chậm của mình cũng phải đặt trong trách nhiệm không làm cản trở dòng giao thông chung.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ










TỪ NGÀY 15/5/2026, BIỂN HIỆU KHÔNG CÓ CHỮ TIẾNG VIỆT, CHỦ CỬA HÀNG CÓ THỂ BỊ PHẠT TIỀN LÊN ĐẾN 15 TRIỆU ĐỒNGMột cửa hàng...
20/08/2026

TỪ NGÀY 15/5/2026, BIỂN HIỆU KHÔNG CÓ CHỮ TIẾNG VIỆT, CHỦ CỬA HÀNG CÓ THỂ BỊ PHẠT TIỀN LÊN ĐẾN 15 TRIỆU ĐỒNG

Một cửa hàng có thể mang phong cách rất “Tây”, nhưng biển hiệu thì không thể chỉ có tiếng nước ngoài.

Theo điểm b khoản 2 Điều 67 Nghị định 87/2026/NĐ-CP, hành vi không viết bằng chữ tiếng Việt mà chỉ viết bằng chữ tiếng nước ngoài trên biển hiệu có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng và buộc tháo dỡ biển hiệu.

Quy định này đáng chú ý đối với các cửa hàng, nhà hàng, trung tâm dịch vụ, doanh nghiệp… đang sử dụng biển hiệu hoàn toàn bằng tiếng Anh hoặc ngôn ngữ nước ngoài.

Pháp luật không cấm sử dụng tiếng nước ngoài trên biển hiệu, nhưng tiếng nước ngoài không thể thay thế hoàn toàn tiếng Việt. Nói cách khác, doanh nghiệp có thể sử dụng tên, thương hiệu hoặc thông tin bằng tiếng nước ngoài, nhưng biển hiệu vẫn phải bảo đảm yêu cầu về chữ tiếng Việt theo quy định.

Đặc biệt, đây không phải trường hợp “khuyến cáo” hay “nhắc nhở” đơn thuần. Nếu thuộc hành vi được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 67, mức phạt có thể lên tới 15 triệu đồng.

Vì vậy, nếu đang chuẩn bị làm biển hiệu mới, thay biển hiệu hoặc mở cửa hàng, đừng chỉ quan tâm đến thiết kế và nhận diện thương hiệu. Một biển hiệu đẹp nhưng thể hiện sai quy định vẫn có thể khiến chủ cơ sở phải trả giá bằng một khoản tiền phạt đáng kể.

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ










TỪ HỒ SƠ GIẤY ĐẾN “TRỢ LÝ ẢO”: NGÀNH TƯ PHÁP ĐANG TỪNG BƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN CÔNG NGHỆCông văn số 529/TANDTC-PC của Tò...
20/08/2026

TỪ HỒ SƠ GIẤY ĐẾN “TRỢ LÝ ẢO”: NGÀNH TƯ PHÁP ĐANG TỪNG BƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN CÔNG NGHỆ

Công văn số 529/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: Pháp luật đang từng bước mở cửa cho công nghệ trong hoạt động tố tụng, thay vì chỉ nhìn nhận thiết bị điện tử như một yếu tố cần hạn chế tại phiên tòa.

Theo hướng dẫn, trước hoặc tại phiên tòa, phiên họp, nếu người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng đề nghị sử dụng thiết bị điện tử, Thẩm phán chủ tọa hoặc chủ trì sẽ xem xét, quyết định trên cơ sở tính chất, nội dung vụ án và các yêu cầu về an toàn, trật tự, bảo mật. Tòa án cũng có thể tạo điều kiện để sử dụng thiết bị điện tử nhằm tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ hoặc phục vụ việc ghi âm, ghi hình theo quy định.

Đáng chú ý hơn, Công văn đề cập việc Tòa án có thể bố trí, tạo điều kiện cho người tiến hành tố tụng và người tham gia phiên tòa, phiên họp sử dụng phần mềm của Tòa án, trong đó có “trợ lý ảo”, để tra cứu thông tin, tài liệu phục vụ hiệu quả việc giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc.

Đây là tín hiệu tích cực đối với nghề luật. Với những vụ án có hàng nghìn trang hồ sơ, trợ lý ảo có thể hỗ trợ tìm kiếm, phân loại và hệ thống hóa tài liệu, giúp luật sư rút ngắn đáng kể thời gian xử lý hồ sơ. Thay vì dành quá nhiều thời gian cho việc tìm kiếm thông tin, luật sư có thể tập trung hơn vào đánh giá chứng cứ, xây dựng lập luận và chiến lược tranh tụng.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng trợ lý ảo chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế luật sư. Việc sử dụng AI của luật sư tại phiên tòa vẫn phải tuân theo quyết định của Thẩm phán, quy định về trật tự phiên tòa, bảo mật thông tin và các quyền, nghĩa vụ tố tụng. Kết quả do AI cung cấp cũng cần được luật sư kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ và nguồn pháp luật chính thống trước khi sử dụng. Đặc biệt, với những dữ liệu nhạy cảm trong hồ sơ vụ án, không thể tùy tiện đưa toàn bộ tài liệu vào các công cụ AI bên ngoài mà chưa đánh giá yêu cầu về bảo mật và an toàn dữ liệu.

Điểm đáng ghi nhận nhất của Công văn 529/TANDTC-PC không chỉ nằm ở việc xuất hiện khái niệm “trợ lý ảo”, mà ở tư duy pháp lý phía sau: Pháp luật không nhất thiết phải đứng ngoài công nghệ, mà có thể tạo khuôn khổ để công nghệ phục vụ hoạt động tư pháp.

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ










CON NỢ “KIỆN NGƯỢC” CHỦ NỢ VÌ CHO VAY LÃI NẶNG: CHỦ NỢ PHẢI LÀM GÌ ĐỂ KHÔNG TỪ NGƯỜI ĐÒI NỢ THÀNH NGƯỜI BỊ XỬ LÝ?Cho ngư...
20/08/2026

CON NỢ “KIỆN NGƯỢC” CHỦ NỢ VÌ CHO VAY LÃI NẶNG: CHỦ NỢ PHẢI LÀM GÌ ĐỂ KHÔNG TỪ NGƯỜI ĐÒI NỢ THÀNH NGƯỜI BỊ XỬ LÝ?

Cho người khác vay tiền, đến hạn không trả, chủ nợ khởi kiện đòi nợ. Nhưng thay vì trả tiền, bên vay quay lại tố cáo hoặc yêu cầu xử lý người cho vay về hành vi “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đây là tình huống không hiếm trong thực tế. Tuy nhiên, có một điều cần hiểu đúng: con nợ tố cáo chủ nợ cho vay lãi cao không có nghĩa khoản nợ gốc tự động biến mất; ngược lại, chủ nợ cũng không thể cho rằng có giấy vay tiền thì mức lãi nào đã thỏa thuận cũng được pháp luật bảo vệ.

Lãi cao đến mức nào mới có nguy cơ bị xử lý hình sự?

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì mức lãi suất về nguyên tắc không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Phần lãi vượt quá mức giới hạn này không có hiệu lực.
Nhưng lãi suất vượt 20%/năm chưa đồng nghĩa người cho vay phạm tội.

Điều 201 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC xác định “cho vay lãi nặng” là trường hợp cho vay với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất cao nhất theo khoản 1 Điều 468 BLDS. Với giới hạn thông thường 20%/năm, ngưỡng này tương ứng từ 100%/năm trở lên.

Để truy cứu trách nhiệm hình sự còn phải xem xét số tiền thu lợi bất chính và các điều kiện cấu thành tội phạm theo Điều 201 BLHS. Vì vậy, việc người vay đưa ra một giấy vay có ghi lãi cao chưa đủ để lập tức kết luận người cho vay phạm tội.

Bị con nợ tố cho vay lãi nặng, điều đầu tiên chủ nợ cần làm là “tách” khoản nợ

Sai lầm thường gặp là chủ nợ chỉ tập trung chứng minh: “Nó còn nợ tôi bao nhiêu tiền”. Trong khi khi đã phát sinh tố cáo cho vay lãi nặng, cần bóc tách toàn bộ giao dịch thành các khoản khác nhau: tiền gốc thực tế đã giao; tiền gốc đã trả; tiền lãi đã thu; mức lãi hợp pháp; phần lãi vượt mức dân sự; và phần có thể được xác định là thu lợi bất chính theo pháp luật hình sự.

Ví dụ, giấy vay ghi 1 tỷ đồng không có nghĩa mặc nhiên chứng minh người vay đã thực nhận đủ 1 tỷ đồng nếu bên vay phủ nhận. Ngược lại, bên vay đã ký giấy nhận tiền, có sao kê chuyển khoản, tin nhắn xác nhận và nhiều lần thanh toán thì đó lại là những dữ liệu quan trọng để xác định bản chất giao dịch.

Đặc biệt, không nên tự ý sửa, xóa tin nhắn, thay đổi nội dung giấy vay, lập lại chứng từ hoặc hướng dẫn người liên quan khai không đúng sự thật. Khi vụ việc đã có dấu hiệu hình sự, những hành động tưởng là “chữa cháy” có thể khiến tình thế pháp lý phức tạp hơn rất nhiều.

Con nợ tố cáo thành công thì có được “xóa nợ gốc”?

Đây mới là vấn đề nhiều người quan tâm.
Không thể hiểu đơn giản rằng cứ chứng minh được chủ nợ cho vay lãi nặng thì người vay đương nhiên được giữ luôn tiền gốc.

Khi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP có cơ chế riêng về xử lý tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm. Đáng chú ý, khoản tiền, tài sản người phạm tội dùng để cho vay thuộc trường hợp được xem xét tịch thu sung quỹ Nhà nước; phần tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất của BLDS mà người phạm tội đã thu cũng được xử lý theo hướng dẫn. Trong khi đó, khoản thu lợi bất chính mà người cho vay thực tế đã thu về nguyên tắc được trả lại cho người vay, trừ trường hợp tiền vay được sử dụng vào mục đích bất hợp pháp theo hướng dẫn.

Điều này tạo ra một nghịch lý mà người cho vay cần đặc biệt lưu ý: “con nợ không được xóa nghĩa vụ một cách tùy tiện” không đồng nghĩa người cho vay chắc chắn sẽ được nhận lại toàn bộ tiền gốc trong mọi trường hợp. Nếu vụ việc chuyển thành vụ án hình sự và khoản tiền được xác định là phương tiện dùng trực tiếp vào việc phạm tội, cơ chế xử lý vật, tiền sẽ tuân theo pháp luật hình sự và Nghị quyết hướng dẫn.
Đây chính là lý do chủ nợ không nên nghĩ rằng: “Cùng lắm Tòa chỉ cắt phần lãi vượt quá 20%, còn tiền gốc chắc chắn tôi lấy lại.” Nếu hành vi đã vượt ranh giới dân sự sang Điều 201 BLHS, hậu quả pháp lý hoàn toàn khác.

Chưa thu được lãi thì có chắc chắn không phạm tội?

Cũng không nên suy luận như vậy.

Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn cách xác định số tiền thu lợi bất chính trong nhiều tình huống, kể cả khoản vay chưa hết thời hạn nhưng hành vi bị phát hiện, ngăn chặn. Khi đó, việc xác định thu lợi bất chính không chỉ đơn giản nhìn vào số tiền hiện đang nằm trong túi người cho vay mà phải tính theo cơ chế được Nghị quyết quy định.

Do đó, khi bị tố cáo, cần dựng lại từng khoản vay, ngày giao tiền, thời hạn, mức lãi, số tiền thực tế đã thu, các khoản phí và số tiền người vay đã thanh toán. Nếu có nhiều lần cho vay thì càng không được cộng trừ tùy tiện, bởi Nghị quyết còn quy định cách xử lý trường hợp thực hiện hành vi nhiều lần.

Đừng gọi là “phí” nếu bản chất vẫn là tiền lãi
Một cách xử lý rủi ro rất nguy hiểm là cho rằng hợp đồng chỉ ghi lãi suất thấp nhưng bên vay còn phải trả “phí dịch vụ”, “phí quản lý”, “tiền hồ sơ”, “tiền tư vấn”, “phí đáo hạn”… thì những khoản đó mặc nhiên nằm ngoài lãi suất.
Pháp luật hình sự nhìn vào bản chất của dòng tiền, không chỉ tên gọi mà các bên đặt cho nó.
Nghị quyết 01/2021 xác định “thu lợi bất chính” bao gồm phần lãi vượt mức cao nhất của pháp luật dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay.

Vì vậy, đổi tên “tiền lãi” thành một loại “phí” không làm thay đổi bản chất nếu thực tế đó vẫn là khoản người vay bắt buộc phải trả để được vay tiền.

Chủ nợ nên làm gì khi bị tố cáo ngược?

Theo góc nhìn của luật sư, việc cần làm không phải là tìm cách gây áp lực để người vay rút đơn tố cáo, mà là kiểm toán lại toàn bộ giao dịch vay. Cần lập ngay bảng dòng tiền cho từng khoản vay; bảo toàn bản gốc hợp đồng, giấy nhận nợ, sao kê, tin nhắn và dữ liệu điện tử; xác định chính xác lãi suất thực tế theo năm; tính riêng phần lãi trong giới hạn Điều 468 BLDS và phần vượt giới hạn; xác định số tiền thực tế đã thu; đồng thời rà soát xem vụ việc mới dừng ở tranh chấp dân sự hay đã có dấu hiệu của Điều 201 BLHS.

Nếu đang đồng thời có vụ kiện đòi nợ tại Tòa và đơn tố giác tại cơ quan điều tra, chiến lược pháp lý của hai thủ tục cũng phải thống nhất. Một lời trình bày về số tiền, mức lãi ở vụ án dân sự có thể trở thành tài liệu được xem xét trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm và ngược lại.

“Kiện ngược” không phải chiếc vé để con nợ khỏi trả nợ, nhưng cho vay lãi nặng cũng không còn là chuyện dân sự đơn thuần

Ranh giới quan trọng nhất nằm ở đây.

Lãi vượt 20%/năm trước hết đặt ra vấn đề hiệu lực của phần lãi vượt trần theo pháp luật dân sự. Nhưng khi mức lãi đạt ngưỡng gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất và đáp ứng những điều kiện của Điều 201 BLHS thì người cho vay có thể phải đối diện trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, khi con nợ “kiện ngược”, chủ nợ không nên hoảng sợ nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan. Câu hỏi quan trọng không phải chỉ là “người vay còn nợ tôi bao nhiêu?”, mà phải là “từng đồng tiền gốc, tiền lãi đã giao – nhận thế nào, mức lãi thực tế bao nhiêu và pháp luật sẽ xử lý từng khoản tiền đó ra sao?”

Đôi khi, chỉ cần tính sai ranh giới này, người bước vào cơ quan tố tụng với tư cách chủ nợ đi đòi tiền có thể lại trở thành người bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ










Ở NHÀ CHĂM CON, QUÁN XUYẾN GIA ĐÌNH CÓ ĐƯỢC TÍNH LÀ “CÔNG SỨC” KHI CHIA TÀI SẢN?Sau khi ly hôn, tranh chấp về tài sản ch...
18/08/2026

Ở NHÀ CHĂM CON, QUÁN XUYẾN GIA ĐÌNH CÓ ĐƯỢC TÍNH LÀ “CÔNG SỨC” KHI CHIA TÀI SẢN?

Sau khi ly hôn, tranh chấp về tài sản chung thường không chỉ được quyết định bởi việc ai là người trực tiếp bỏ tiền mua tài sản, mà còn phụ thuộc vào quá trình đóng góp của mỗi bên trong suốt thời kỳ hôn nhân. Bản án số 46/2025/HNGĐ-PT ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp đáng chú ý.

Ông Đặng Huy C và bà Nguyễn Thị H ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Sau khi ly hôn, hai bên không thống nhất được việc phân chia tài sản nên ông C khởi kiện yêu cầu chia nhà đất tại số 35 đường số F, khu chung cư H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và xe ô tô Toyota Innova biển số 51H-618.56. Ông C cho rằng nhà đất được hình thành chủ yếu từ tiền tích lũy và hoạt động kinh doanh do ông tạo lập. Theo ông, trong thời kỳ hôn nhân, bà H không có nghề nghiệp ổn định, chủ yếu ở nhà chăm con, trong khi ông là người duy trì hoạt động kinh doanh, trả nợ và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình. Vì vậy, ông yêu cầu được hưởng 70% giá trị tài sản, bà H hưởng 30%.

Không đồng ý, bà H cho rằng nhà đất được mua trong thời kỳ hôn nhân bằng nguồn tiền tích lũy từ hoạt động kinh doanh của cả hai vợ chồng. Bà trình bày từ năm 2006 đã trực tiếp kinh doanh tiệm hủ tiếu, sau đó mở rộng hoạt động mua bán, điều hành hộ kinh doanh và tạo nguồn thu nhập cho gia đình. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, bà vừa kinh doanh vừa chăm sóc con cái, quán xuyến gia đình. Do đó, bà cho rằng công sức đóng góp của mình lớn hơn và yêu cầu được hưởng 80% giá trị tài sản chung.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất và xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời chia cho ông C hưởng 40% và bà H hưởng 60% giá trị tài sản. Không đồng ý với phán quyết này, ông C kháng cáo yêu cầu được hưởng 70%, trong khi bà H kháng cáo yêu cầu được hưởng 80%.

Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử xác định nhà đất được nhận chuyển nhượng và đăng ký quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân nên thuộc tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đáng chú ý, khi xác định tỷ lệ phân chia, Tòa án không chỉ xem xét nguồn tiền dùng để mua tài sản mà còn đánh giá toàn diện công sức đóng góp của mỗi bên trong quá trình tạo lập và duy trì tài sản chung.

Theo nhận định của Tòa án, bà H có hoạt động kinh doanh ổn định trong suốt thời kỳ hôn nhân, trực tiếp điều hành hộ kinh doanh “Như Hảo”, thực hiện việc mua bán, nhập hàng và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình. Sau khi nghỉ việc lái xe năm 2010, ông C chủ yếu hỗ trợ việc giao hàng cho hoạt động kinh doanh của gia đình. Bên cạnh đóng góp về kinh tế, bà H còn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và quán xuyến gia đình.

Tòa án cũng xem xét hoàn cảnh của bà H tại thời điểm giải quyết vụ án khi bà đang trực tiếp nuôi con chưa thành niên và không có chỗ ở khác ổn định. Trên cơ sở đánh giá tổng thể các yếu tố này, Hội đồng xét xử cho rằng công sức đóng góp của bà H đối với khối tài sản chung nhiều hơn ông C. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm chia cho bà H 60% giá trị tài sản là chưa phù hợp và cần điều chỉnh.

Kết quả, Tòa án phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông C, chấp nhận một phần kháng cáo của bà H và sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định ông C được hưởng 30%, bà H được hưởng 70% giá trị tài sản chung gồm nhà đất và xe ô tô.

Qua vụ án có thể thấy, khi chia tài sản sau ly hôn, việc xác định tỷ lệ được hưởng không đơn thuần dựa vào việc ai trực tiếp tạo ra tiền hoặc ai đứng tên tài sản. Công sức đóng góp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác như hoạt động kinh doanh, hỗ trợ công việc của gia đình, chăm sóc con cái, quán xuyến gia đình và hoàn cảnh thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn.

Nói cách khác, công sức nội trợ, chăm sóc gia đình không phải là sự đóng góp “không có giá trị” khi Tòa án xem xét chia tài sản chung. Trong từng vụ án cụ thể, nếu có căn cứ chứng minh một bên đã có đóng góp lớn hơn vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung thì tỷ lệ phân chia có thể không phải là 50/50.

Vụ án cũng là lời nhắc quan trọng đối với các bên khi giải quyết tài sản sau ly hôn: thay vì chỉ chứng minh mình là người kiếm được nhiều tiền hoặc trực tiếp bỏ tiền mua tài sản, cần đánh giá và chứng minh đầy đủ toàn bộ quá trình đóng góp của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân.

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ










📌 NGHỈ VIỆC KHẤU TRỪ 10% TNCN THEO THU NHẬP CHỊU THUẾTheo Công văn 10049/NBI-QLDN ngày 03/08/2026 của Thuế tỉnh Ninh Bìn...
14/08/2026

📌 NGHỈ VIỆC KHẤU TRỪ 10% TNCN THEO THU NHẬP CHỊU THUẾ
Theo Công văn 10049/NBI-QLDN ngày 03/08/2026 của Thuế tỉnh Ninh Bình:
👉 Trường hợp thuộc diện khấu trừ 10%, không phải cứ tổng tiền chi trả × 10%, mà phải xác định thu nhập chịu thuế trước.
Các khoản thuộc diện miễn/không tính vào thu nhập chịu thuế theo quy định thì không đưa vào căn cứ khấu trừ,
Ví dụ:
Trợ cấp thất nghiệp;
Tiền ăn giữa ca, ăn trưa trong mức và điều kiện được quy định;
Các khoản khoán chi điện thoại, văn phòng phẩm, công tác phí... nếu đáp ứng điều kiện, mức khoán theo quy định;
Tiền làm thêm giờ, làm ban đêm được miễn thuế theo quy định.

⚠️ BHXH và giảm trừ bản thân không trừ ở bước này, mà được tổng hợp khi quyết toán TNCN cuối năm trên 05-1/BK-QTT-TNCN để xác định lại số thuế phải nộp.

🔹 Ví dụ
Công ty chi trả cho người lao động sau khi nghỉ việc 10 triệu đồng, trong đó:
Tiền lương chịu thuế: 7 triệu
Tiền ăn giữa ca đủ điều kiện không tính thuế: 1 triệu
Khoản khoán điện thoại đủ điều kiện không tính thuế: 2 triệu
👉 Thu nhập chịu khấu trừ = 7 triệu
👉 Thuế TNCN khấu trừ = 7 triệu × 10% = 700.000 đồng.

💡 Chốt một câu rất dễ nhớ:
Khấu trừ 10% → nhìn THU NHẬP CHỊU THUẾ.
Quyết toán năm → mới tính BHXH, giảm trừ bản thân và các khoản giảm trừ để xác định THU NHẬP TÍNH THUẾ. ❤️

Copy

Một ngày được đồng ý đăng ký bào chữa trong cả 2 vụ án hình sự.Từ gặp gỡ, làm việc với thân chủ đến hoàn tất thủ tục đăn...
12/08/2026

Một ngày được đồng ý đăng ký bào chữa trong cả 2 vụ án hình sự.
Từ gặp gỡ, làm việc với thân chủ đến hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Phía sau mỗi hồ sơ là trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa. ⚖️

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ


&Partners







Address

5 Đồng Nai, Phường Tân Sơn Hòa
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ls Lê Văn Thuyết posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share