Ls Lê Văn Thuyết

Ls Lê Văn Thuyết Công ty Luật DKI & Cộng sự
Luật sư - Giám đốc
📞 078 768 6713

Ngân hàng Có Được “Nhận Luôn” Sổ Đỏ Để Trừ Nợ? Văn Bản Mới Của Cục Quản Lý Đất Đai Đang Tháo Gỡ Một Nút Thắt Pháp Lý Lớn...
08/06/2026

Ngân hàng Có Được “Nhận Luôn” Sổ Đỏ Để Trừ Nợ? Văn Bản Mới Của Cục Quản Lý Đất Đai Đang Tháo Gỡ Một Nút Thắt Pháp Lý Lớn

Nhiều năm qua, một trong những tranh cãi lớn nhất trong hoạt động xử lý nợ xấu là câu hỏi: Ngân hàng có được nhận chính tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để cấn trừ nợ hay không?

Không ít Văn phòng đăng ký đất đai từ chối thực hiện thủ tục sang tên cho ngân hàng dù các bên đã có thỏa thuận xử lý tài sản bảo đảm. Lý do thường được đưa ra là tổ chức tín dụng không có chức năng kinh doanh bất động sản hoặc không thuộc đối tượng được nhận chuyển nhượng đất.

Tuy nhiên, Công văn số 1838/QLĐĐ-ĐĐKĐĐ ngày 19/8/2025 của Cục Quản lý đất đai đã đưa ra một quan điểm rất đáng chú ý, có thể xem là bước tháo gỡ quan trọng cho quá trình xử lý nợ xấu hiện nay.

Ngân hàng được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ

Cục Quản lý đất đai dẫn chiếu Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 59 Nghị định 21/2021/NĐ-CP để khẳng định một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảm là:

Bên nhận bảo đảm được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm.

Nói cách khác, nếu hợp đồng thế chấp hoặc các bên có thỏa thuận hợp pháp, ngân hàng hoàn toàn có quyền nhận chính quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc tài sản gắn liền với đất để cấn trừ khoản nợ.

Đây không phải là hoạt động mua bán bất động sản thông thường mà là hoạt động xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự.

Luật Đất đai 2024 đã mở đường

Điểm mấu chốt nằm ở Luật Đất đai 2024.

Theo điểm m khoản 1 Điều 28, tổ chức tín dụng được nhận quyền sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định thi hành án đã được thi hành.

Đồng thời, điểm k khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 xác định đây là trường hợp đăng ký biến động đất đai.

Nói cách khác, pháp luật đất đai hiện hành đã chính thức thừa nhận quyền của tổ chức tín dụng được nhận quyền sử dụng đất khi xử lý nợ.

Nhưng ngân hàng không được “ôm đất” mãi mãi

Một điểm rất đáng chú ý là Cục Quản lý đất đai đồng thời nhắc lại Điều 139 Luật Các tổ chức tín dụng 2024.

Theo đó, ngân hàng không được kinh doanh bất động sản như doanh nghiệp bất động sản thông thường.

Trường hợp nhận bất động sản từ xử lý nợ, tổ chức tín dụng chỉ được nắm giữ trong thời hạn tối đa 05 năm kể từ ngày quyết định xử lý tài sản bảo đảm.

Hết thời hạn này, ngân hàng phải bán, chuyển nhượng hoặc xử lý theo quy định pháp luật.

Điều này cho thấy pháp luật cho phép ngân hàng nhận tài sản để thu hồi nợ, nhưng không cho phép biến hoạt động xử lý nợ thành hoạt động đầu cơ hoặc kinh doanh bất động sản.

Một điểm rất quan trọng: Không cần người thế chấp ký lại

Có lẽ đây là nội dung tác động lớn nhất đến thực tiễn.

Cục Quản lý đất đai dẫn Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP và khẳng định:

Việc xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm. Bên nhận bảo đảm không cần văn bản ủy quyền hoặc văn bản đồng ý mới của bên bảo đảm khi thực hiện quyền xử lý tài sản.

Nói cách khác, nếu hợp đồng thế chấp đã có điều khoản cho phép ngân hàng nhận chính tài sản để xử lý nợ thì khi nghĩa vụ bị vi phạm, việc đăng ký biến động có thể được thực hiện trên cơ sở hồ sơ xử lý tài sản bảo đảm theo quy định.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm hạn chế tình trạng bên thế chấp cố tình không hợp tác sau khi đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Tác động thực tiễn

Văn bản này phát đi một thông điệp rất rõ:

Quyền xử lý tài sản bảo đảm không chỉ dừng ở quyền phát mại hoặc bán đấu giá. Trong những trường hợp pháp luật cho phép và các bên có thỏa thuận, ngân hàng có thể nhận chính quyền sử dụng đất để cấn trừ nợ và thực hiện đăng ký biến động theo Luật Đất đai 2024.

Điều này giúp rút ngắn đáng kể quá trình xử lý nợ xấu, giảm tình trạng tài sản bị “treo” nhiều năm và tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các Văn phòng đăng ký đất đai trên toàn quốc.

Đối với người vay, đây cũng là lời nhắc rằng khi ký hợp đồng thế chấp, điều khoản về xử lý tài sản bảo đảm không phải là điều khoản hình thức. Một khi nghĩa vụ trả nợ bị vi phạm, chính tài sản thế chấp có thể được chuyển giao cho bên nhận bảo đảm theo đúng cơ chế mà Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai và Luật Các tổ chức tín dụng đã quy định.

Sổ đỏ thế chấp không chỉ có thể bị bán đấu giá. Theo pháp luật hiện hành, trong nhiều trường hợp, ngân hàng còn có thể nhận chính bất động sản đó để cấn trừ nợ. Đây là điểm thay đổi mà cả người vay, ngân hàng và giới hành nghề pháp lý đều cần đặc biệt lưu ý.

Thuốc đã được cấp phép lưu hành vẫn có thể xâm phạm sáng chế: Bài học đắt giá từ vụ tranh chấp VildagliptinTrong lĩnh vự...
02/06/2026

Thuốc đã được cấp phép lưu hành vẫn có thể xâm phạm sáng chế: Bài học đắt giá từ vụ tranh chấp Vildagliptin

Trong lĩnh vực dược phẩm, không ít doanh nghiệp có tâm lý rằng một khi thuốc đã được Cục Quản lý Dược cấp số đăng ký lưu hành thì việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó là an toàn về mặt pháp lý. Tuy nhiên, Bản án số 110/2023/KDTM-PT ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy một ranh giới rất quan trọng: giấy phép lưu hành thuốc không phải là “lá chắn” để miễn trừ trách nhiệm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Vụ án bắt đầu từ việc một doanh nghiệp dược nước ngoài là chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế số 5529, bảo hộ sáng chế liên quan đến hoạt chất Vildagliptin. Trong thời gian văn bằng còn hiệu lực, doanh nghiệp này phát hiện một công ty dược trong nước sản xuất và kinh doanh thuốc Vigorito 50mg có chứa hoạt chất Vildagliptin. Sản phẩm này đã được cấp số đăng ký lưu hành, nhưng theo kết luận của cơ quan chuyên môn, hoạt chất trong thuốc thuộc phạm vi bảo hộ của sáng chế đang được bảo hộ tại Việt Nam.

Điểm đáng chú ý là bị đơn không phủ nhận thuốc đã được cấp phép lưu hành. Ngược lại, bị đơn sử dụng chính việc đã được Cục Quản lý Dược cấp số đăng ký để lập luận rằng việc sản xuất, kinh doanh là hợp pháp. Bị đơn cũng cho rằng sáng chế không bảo hộ dạng tinh thể của Vildagliptin, đồng thời viện dẫn việc tại nước ngoài có các văn bằng sáng chế khác liên quan đến dạng tinh thể của hoạt chất này. Từ đó, bị đơn cho rằng mình không xâm phạm quyền sáng chế.

Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận cách hiểu này. Theo nhận định của Tòa, việc Cục Quản lý Dược cấp số đăng ký lưu hành thuốc chủ yếu dựa trên đánh giá về chất lượng, an toàn, hiệu quả của thuốc. Cơ quan này không có nghĩa vụ thay doanh nghiệp kiểm tra toàn bộ rủi ro về quyền sở hữu trí tuệ. Nói cách khác, một sản phẩm có thể đủ điều kiện lưu hành về mặt quản lý dược, nhưng vẫn có thể xâm phạm sáng chế nếu chứa yếu tố thuộc phạm vi bảo hộ của một văn bằng đang có hiệu lực.

Đây là điểm pháp lý rất quan trọng. Trong hồ sơ đăng ký thuốc, cơ sở đăng ký phải tự chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ của thuốc đăng ký lưu hành. Vì vậy, doanh nghiệp dược không thể nói rằng “tôi đã được cấp phép” để phủ nhận nghĩa vụ rà soát sáng chế. Giấy phép lưu hành không làm mất quyền của chủ sở hữu sáng chế, cũng không biến một hành vi sử dụng sáng chế không được phép thành hợp pháp.

Một điểm tranh luận khác là thời điểm khởi kiện và hiệu lực của văn bằng sáng chế. Bị đơn cho rằng khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án thì Bằng độc quyền sáng chế số 5529 đã hết hiệu lực vào ngày 09/12/2019, nên nguyên đơn không còn quyền khởi kiện. Nhưng Tòa án xác định nguyên đơn đã khởi kiện từ năm 2015, tức trong thời gian văn bằng còn hiệu lực. Việc vụ án bị hủy, xét xử lại không làm thay đổi bản chất đây vẫn là tranh chấp phát sinh từ hành vi xảy ra trong thời gian văn bằng còn hiệu lực. Vì vậy, nguyên đơn vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xác định hành vi xâm phạm trong giai đoạn trước ngày văn bằng hết hạn.

Cách nhìn này hợp lý. Nếu chỉ vì quá trình tố tụng kéo dài, văn bằng hết hạn mà người xâm phạm được miễn trách nhiệm thì sẽ tạo ra một khoảng trống rất nguy hiểm trong bảo hộ sáng chế. Khi quyền đang còn hiệu lực mà bị xâm phạm, chủ sở hữu có quyền yêu cầu bảo vệ. Việc văn bằng hết hạn sau đó chỉ có thể ảnh hưởng đến một số biện pháp như yêu cầu chấm dứt hành vi trong tương lai, tiêu hủy hàng hóa còn tồn hoặc rút số đăng ký lưu hành, chứ không xóa bỏ trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra trong quá khứ.

Trong vụ án này, nguyên đơn cũng đã điều chỉnh yêu cầu cho phù hợp với thực tế văn bằng đã hết hiệu lực. Thay vì tiếp tục yêu cầu chấm dứt mọi hành vi trong tương lai, nguyên đơn yêu cầu Tòa tuyên bị đơn đã xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 5529 trong thời gian văn bằng còn hiệu lực, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, thanh toán chi phí luật sư và xin lỗi cải chính công khai. Đây là hướng đi tố tụng thận trọng và phù hợp.

Về chứng cứ xâm phạm, Tòa án dựa trên nhiều nguồn: kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, văn bản của Cục Sở hữu trí tuệ, kết luận giám định độc lập trong quá trình giải quyết lại vụ án. Các tài liệu này đều hướng đến cùng một nhận định rằng thuốc Vigorito 50mg chứa hoạt chất Vildagliptin là yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 5529. Đặc biệt, kết luận giám định xác định hoạt chất Vildagliptin trong sản phẩm bị cho là xâm phạm tương đương với sản phẩm theo một số điểm yêu cầu bảo hộ và trùng với sản phẩm theo một điểm yêu cầu bảo hộ của văn bằng sáng chế.

Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều xác định có căn cứ tuyên bị đơn xâm phạm quyền đối với sáng chế. Bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ mới đủ sức làm thay đổi bản chất vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự, bị đơn bị buộc bồi thường thiệt hại vật chất 500 triệu đồng và thanh toán 300 triệu đồng chi phí luật sư cho nguyên đơn. Đây là một điểm đáng chú ý trong các vụ án sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, việc chứng minh thiệt hại trong tranh chấp sáng chế thường rất khó, nhất là khi sản phẩm đã được sản xuất, phân phối qua nhiều địa bàn, nhiều kênh khác nhau. Luật Sở hữu trí tuệ cho phép Tòa án ấn định mức bồi thường trong trường hợp không thể xác định chính xác thiệt hại vật chất, nhưng không quá giới hạn luật định. Trong vụ án này, mức 500 triệu đồng được chấp nhận vì nguyên đơn không thể thống kê đầy đủ số lượng sản phẩm đã sản xuất, phân phối.

Đối với chi phí luật sư, Tòa án chấp nhận khoản 300 triệu đồng trên cơ sở hợp đồng dịch vụ pháp lý và chứng từ do nguyên đơn cung cấp. Điều này cho thấy trong tranh chấp sở hữu trí tuệ, chi phí luật sư nếu có thật, hợp lý và được chứng minh bằng tài liệu phù hợp thì có thể được yêu cầu bên xâm phạm thanh toán. Đây là cơ chế quan trọng để chủ sở hữu quyền không phải “tự gánh” toàn bộ chi phí bảo vệ quyền hợp pháp của mình.

Một biện pháp khác cũng được Tòa án chấp nhận là buộc bị đơn xin lỗi, cải chính công khai trên Tạp chí Sức khỏe và Đời sống trong ba kỳ liên tiếp. Tòa không chấp nhận yêu cầu đăng trên Báo Thanh Niên vì cho rằng pháp luật không bắt buộc phải đăng trên nhiều báo khác nhau, đồng thời Tạp chí Sức khỏe và Đời sống phù hợp hơn với tính chất chuyên ngành dược của tranh chấp. Cách xử lý này thể hiện sự cân bằng giữa quyền được khôi phục uy tín của chủ sở hữu sáng chế và nguyên tắc áp dụng biện pháp dân sự ở mức cần thiết, hợp lý.

Từ bản án này, có thể rút ra ba bài học pháp lý lớn cho doanh nghiệp dược.

Thứ nhất, tra cứu sở hữu trí tuệ phải là bước bắt buộc trước khi đăng ký, sản xuất và thương mại hóa thuốc. Không chỉ tra cứu tên thương mại, nhãn hiệu hay hồ sơ kỹ thuật, doanh nghiệp cần rà soát cả sáng chế, phạm vi yêu cầu bảo hộ, thời hạn hiệu lực và nguy cơ xâm phạm từ hoạt chất, dạng bào chế, quy trình sản xuất.

Thứ hai, số đăng ký lưu hành thuốc không thay thế cho quyền sử dụng sáng chế. Một sản phẩm được phép lưu hành không có nghĩa là được phép sử dụng tài sản trí tuệ của người khác. Cơ quan quản lý dược cấp phép trên cơ sở tiêu chuẩn chuyên ngành dược, còn quyền sáng chế là một trục pháp lý độc lập.

Thứ ba, hết hạn văn bằng không đồng nghĩa hết trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm đã xảy ra trước đó. Nếu hành vi sử dụng sáng chế trái phép diễn ra trong thời gian văn bằng còn hiệu lực, chủ sở hữu vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xác định hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại.

Nhìn rộng hơn, bản án này là một cảnh báo mạnh mẽ cho thị trường dược phẩm generic tại Việt Nam. Cạnh tranh bằng thuốc generic là cần thiết để giảm chi phí điều trị và mở rộng khả năng tiếp cận thuốc cho người bệnh. Nhưng cạnh tranh phải đi cùng tuân thủ. Khi sáng chế còn hiệu lực, việc sản xuất thuốc chứa hoạt chất thuộc phạm vi bảo hộ mà không được phép có thể dẫn đến trách nhiệm dân sự nặng nề, ảnh hưởng uy tín doanh nghiệp và kéo theo nhiều hệ quả thương mại.

Bản chất của vụ án không nằm ở câu chuyện một viên thuốc đã được cấp số đăng ký hay chưa. Bản chất nằm ở chỗ doanh nghiệp có quyền sử dụng hoạt chất được bảo hộ sáng chế hay không. Và câu trả lời của Tòa án trong vụ án này rất rõ: cấp phép lưu hành là một chuyện, quyền sở hữu trí tuệ là chuyện khác. Nhầm lẫn hai cơ chế này có thể khiến doanh nghiệp trả giá bằng tiền, bằng uy tín và bằng cả chiến lược kinh doanh.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ


&Partners







HẾT THỜI HIỆU YÊU CẦU CHIA THỪA KẾ THÌ DI SẢN THUỘC VỀ AI?“Cha chết giữ đất của ông bà, con ở tiếp 30 năm: Có tự động th...
21/05/2026

HẾT THỜI HIỆU YÊU CẦU CHIA THỪA KẾ THÌ DI SẢN THUỘC VỀ AI?

“Cha chết giữ đất của ông bà, con ở tiếp 30 năm: Có tự động thành chủ đất?”

Đây là một trong những câu hỏi gây tranh cãi dữ dội nhất trong các vụ án thừa kế nhiều năm qua. Rất nhiều gia đình nghĩ rằng: “Nhà tôi ở đó mấy chục năm rồi, cha tôi quản lý đất của ông bà, giờ cha mất thì con tiếp tục ở, hết thời hiệu chia thừa kế thì đất mặc nhiên thuộc về gia đình tôi”. Nhưng hướng dẫn mới của VKSNDTC tại Công văn 1476/VKSTC-V9 ngày 23/3/2026 đã làm rõ một vấn đề cực kỳ quan trọng: không phải cứ đang giữ di sản là trở thành “người thừa kế đang quản lý di sản”.

Và chỉ khác nhau một chữ “người thừa kế” hay “người chiếm hữu” thôi, hậu quả pháp lý có thể mất luôn cả khối tài sản trị giá hàng chục tỷ đồng.

Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng: khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, thì di sản thuộc về “người thừa kế đang quản lý di sản”. Nghe qua tưởng đơn giản, nhưng thực tế phát sinh vô số tình huống phức tạp. Ví dụ: ông bà chết để lại nhà đất. Người con cả quản lý suốt 20 năm nhưng sau đó người con này chết. Hiện nay vợ và các con của người con cả tiếp tục quản lý căn nhà thêm 20 năm nữa. Vậy khi hết thời hiệu chia thừa kế, căn nhà có mặc nhiên thuộc về vợ con người con cả không?

VKSNDTC trả lời: không.

Đây là điểm pháp lý rất đáng chú ý.

Theo giải đáp của VKSNDTC, “người thừa kế đang quản lý di sản” phải là người trực tiếp thuộc hàng thừa kế của người chết hoặc là người thừa kế thế vị theo quy định pháp luật. Tức là họ phải có quyền thừa kế trực tiếp đối với người để lại di sản.

Còn trường hợp người con đã chết, nay vợ/chồng/con của người đó chỉ tiếp tục quản lý tài sản thì những người này không đương nhiên trở thành “người thừa kế đang quản lý di sản”.

Nói cách khác, pháp luật không cho phép “quyền quản lý di sản” tự động truyền tiếp qua hôn nhân hoặc huyết thống nếu người đang quản lý mới không phải là người có quyền thừa kế trực tiếp đối với người để lại di sản.

Đây là chỗ mà rất nhiều gia đình hiểu sai.

Trong thực tế, có vô số vụ việc mà con cháu nghĩ rằng: “Nhà này ba mẹ tôi quản lý trước khi mất, giờ tôi ở tiếp nên đương nhiên là của tôi”. Nhưng pháp luật thừa kế không vận hành theo kiểu “cha truyền con nối” đối với quyền quản lý di sản khi hết thời hiệu chia thừa kế.

Nếu không phải người thừa kế trực tiếp, họ chỉ được xem là “người đang chiếm hữu di sản”.

Và khi đã rơi sang chế định “chiếm hữu”, cuộc chơi pháp lý hoàn toàn khác.

Lúc này, muốn xác lập quyền sở hữu thì không còn áp dụng Điều 623 BLDS nữa, mà phải quay sang Điều 236 BLDS về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu chiếm hữu.

Đây là hai cơ chế hoàn toàn khác nhau.

Điều 623 là cơ chế ưu tiên cho người thừa kế đang quản lý di sản sau khi hết thời hiệu chia thừa kế.

Còn Điều 236 là cơ chế xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với người chiếm hữu tài sản công khai, liên tục, ngay tình và không có tranh chấp trong thời gian luật định.

Nghĩa là nếu vợ/chồng/con của người đã chết muốn giữ được tài sản, họ phải chứng minh một loạt điều kiện rất khắt khe: chiếm hữu công khai, liên tục, ổn định, không bị phản đối, không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về thời hiệu.

Chỉ cần có một người đồng thừa kế từng phản đối, từng yêu cầu chia di sản, từng gửi đơn khiếu nại hoặc từng xảy ra tranh chấp, thì khả năng xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu có thể sụp đổ hoàn toàn.

Ở góc nhìn luật sư, hướng dẫn này của VKSNDTC có ý nghĩa cực lớn vì nó chặn lại một thực trạng rất phổ biến: nhiều người cố tình “neo” tài sản thừa kế qua nhiều thế hệ để biến tài sản chung thành tài sản riêng bằng cách kéo dài thời gian quản lý.

Pháp luật hiện nay bắt đầu phân biệt rất rõ giữa:

* người có quyền thừa kế thực sự,
* người đang quản lý di sản,
* và người chỉ đang chiếm hữu tài sản.

Ba khái niệm này tưởng giống nhau nhưng hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Một điểm rất đáng chú ý khác là Công văn 1476/VKSTC-V9 cũng gián tiếp cho thấy: hết thời hiệu chia thừa kế không có nghĩa tài sản tự động “về tay” người đang ở trong nhà.

Muốn xác lập được quyền sở hữu, phải chứng minh đúng tư cách pháp lý của mình.

Nếu là người thừa kế trực tiếp quản lý di sản thì áp dụng Điều 623.

Nếu chỉ là người tiếp tục chiếm hữu sau khi cha/mẹ chết thì phải chứng minh theo Điều 236.

Sai một tư cách pháp lý, mất luôn cả quyền hưởng di sản.

Trong rất nhiều vụ án thừa kế hiện nay, người thua không phải vì không có công quản lý tài sản.

Mà vì họ nhầm giữa “đang giữ tài sản” và “có quyền sở hữu tài sản”.

Và đôi khi, khác nhau chỉ một khái niệm pháp lý… Nhưng đổi lại bằng cả một căn nhà.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ


&Partners







“Đưa 70 triệu cho Thẩm phán để ‘xin xử thắng kiện’, người đàn ông lĩnh án tù: Khi một phong bì có thể biến người đi kiện...
19/05/2026

“Đưa 70 triệu cho Thẩm phán để ‘xin xử thắng kiện’, người đàn ông lĩnh án tù: Khi một phong bì có thể biến người đi kiện thành bị cáo hình sự”

Trong suy nghĩ của không ít người, chuyện “gặp riêng”, “gửi chút quà”, “nhờ xem giúp hồ sơ” đôi khi chỉ bị xem là một kiểu “quan hệ xã hội” để công việc thuận lợi hơn. Nhưng bản án phúc thẩm số 255/2025/HS-PT của TAND Cấp cao tại Đà Nẵng cho thấy ranh giới giữa “nhờ vả” và “đưa hối lộ” trong pháp luật hình sự thực ra rất ngắn. Và khi bước qua ranh giới đó, người đi kiện có thể lập tức trở thành bị cáo.

Theo hồ sơ vụ án, ông Nguyễn Duy S đang có tranh chấp dân sự liên quan đến hợp đồng mua bán tài sản, hoa lợi và quyền quản lý trạm bơm. Trong quá trình giải quyết vụ án tại TAND huyện Ia Pa, ông S nhiều lần gặp Thẩm phán Bùi Viết Minh Q để trao đổi theo hướng mong muốn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Điều đáng chú ý là chính bị cáo Q biết rất rõ mục đích của ông S là muốn tác động đến kết quả giải quyết vụ án.

Ngày 16/12/2022, sau khi người thân đưa tiền, ông S mang 70 triệu đồng đến Tòa án huyện Ia Pa, bỏ trong túi nilon màu đen rồi đưa trực tiếp cho Thẩm phán Q tại phòng làm việc. Theo nội dung ghi nhận trong hồ sơ, ông S còn nói: “Đóng vô 200 triệu, tạm đưa trước 70 triệu, ngoài tính tiếp”. Sau khi nhận tiền, Thẩm phán Q tiếp tục hướng dẫn ông S bổ sung tài liệu, sửa đổi yêu cầu khởi kiện theo hướng có lợi hơn cho mình.

Điều khiến nhiều người bất ngờ là sau khi vụ kiện dân sự bị bác yêu cầu, ông S lại quay sang yêu cầu trả tiền và sau đó tố cáo hành vi nhận tiền của Thẩm phán Q đến Cơ quan điều tra VKSND tối cao. Cuối cùng, không chỉ người nhận tiền bị xử lý về tội “Nhận hối lộ”, mà chính người đưa tiền cũng bị truy tố và kết án về tội “Đưa hối lộ” theo Điều 364 Bộ luật Hình sự.

Đây là điểm pháp lý mà rất nhiều người dân hiểu sai. Không ít người cho rằng: “Tôi bị gợi ý đưa tiền nên tôi là nạn nhân”, hoặc “Tôi đưa tiền nhưng chưa đạt được mục đích thì không phạm tội”. Thực tế, cấu thành của tội đưa hối lộ không phụ thuộc vào việc người đưa có đạt được lợi ích cuối cùng hay không. Chỉ cần có hành vi đưa hoặc sẽ đưa lợi ích vật chất nhằm để người có chức vụ quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của mình thì tội phạm đã hoàn thành.

Trong vụ án này, dù ông S sau đó tố cáo Thẩm phán Q, nhưng hành vi đưa 70 triệu đồng đã xảy ra hoàn tất. Việc tố cáo sau đó không làm mất đi trách nhiệm hình sự đã phát sinh trước đó.

Điểm đáng chú ý khác là số tiền 70 triệu đồng đã được phía nhận hoàn trả lại cho ông S thông qua người trung gian. Tuy nhiên, Tòa vẫn tuyên buộc sung công khoản tiền này. Bởi theo quan điểm pháp luật hình sự, tiền dùng để đưa hối lộ là công cụ của hành vi phạm tội, nên dù đã hoàn trả hay chưa sử dụng thì vẫn có thể bị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Ở góc nhìn nghề luật, đây là dạng vụ án rất đặc biệt vì nó phản ánh một thực tế đáng lo ngại trong hoạt động tố tụng: nhiều người vẫn tin rằng kết quả vụ án có thể “mua được” bằng tiền. Và nguy hiểm hơn, họ nghĩ rằng nếu sau này tố cáo ngược lại cán bộ nhận tiền thì mình sẽ được miễn trách nhiệm.

Nhưng pháp luật không vận hành theo logic đó.

Điều 364 Bộ luật Hình sự quy định rất rõ: người đưa hối lộ có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu chủ động khai báo trước khi bị phát giác. Trong khi ở vụ án này, hành vi đã bị phát hiện, quá trình giao nhận tiền có chứng cứ, có lời khai phù hợp, có dữ liệu giám định ghi âm, có sao kê ngân hàng và tài liệu xác minh liên quan. Vì vậy, việc tố cáo sau đó không còn là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự tuyệt đối.

Một chi tiết đáng suy ngẫm khác là mức án dành cho bị cáo S chỉ 6 tháng tù dù hành vi liên quan đến đưa hối lộ cho Thẩm phán — một người tiến hành tố tụng. Điều này cho thấy Tòa đã cân nhắc rất nhiều yếu tố giảm nhẹ như nhân thân, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, số tiền chưa đến mức đặc biệt lớn và đã được thu hồi. Tuy nhiên, dù mức án không nặng, bản án vẫn mang ý nghĩa cảnh báo rất mạnh.

Bởi trong nhiều vụ việc, thứ khiến một người từ vị trí nguyên đơn dân sự bước sang vị trí bị cáo hình sự không phải là họ sai hoàn toàn trong vụ kiện, mà là họ đã chọn cách giải quyết sai bằng tiền.

Làm nghề luật mới thấy, có những khách hàng thua kiện không phải vì không có lý, mà vì họ tin rằng phong bì có thể thay thế chứng cứ. Nhưng khi vụ việc bị phát hiện, phong bì đó lại trở thành chứng cứ buộc tội chính họ trước Tòa.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ


&Partners







“Khi bị kiện đòi nợ thì Giám đốc nói không biết hợp đồng do ai ký, Tòa vẫn buộc công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán"Tr...
18/05/2026

“Khi bị kiện đòi nợ thì Giám đốc nói không biết hợp đồng do ai ký, Tòa vẫn buộc công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán"

Trong hoạt động kinh doanh, có một câu mà luật sư nghe rất nhiều khi tranh chấp xảy ra: “Người ký hợp đồng không được ủy quyền nên công ty không chịu trách nhiệm”. Nhưng thực tế tại tòa án, đặc biệt trong các tranh chấp thương mại, không phải cứ nói “không biết” là doanh nghiệp được thoát nghĩa vụ thanh toán.

Bản án phúc thẩm số 93/2025/KDTM-PT của TAND TP.HCM là một ví dụ rất đáng chú ý về ranh giới giữa “hợp đồng vô hiệu” và “nghĩa vụ thanh toán thực tế của doanh nghiệp”.

Vụ việc bắt đầu khi Công ty Cổ phần D ký hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo vệ cho Công ty TNHH X. Hợp đồng có thời hạn 24 tháng, giá trị gần 20 triệu đồng/tháng chưa VAT. Trong suốt quá trình thực hiện, nguyên đơn đã cung cấp dịch vụ đầy đủ, phía bị đơn cũng nhiều lần thanh toán công nợ, thậm chí hai bên còn lập biên bản đối chiếu xác nhận số tiền còn nợ gần 275 triệu đồng.

Điều đáng nói là sau khi bị khởi kiện, Công ty TNHH X bất ngờ phản tố yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu với lý do người ký hợp đồng phía công ty không có thẩm quyền đại diện.

Đây là dạng tranh chấp rất phổ biến trong thực tế doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều công ty giao con dấu cho nhân viên, quản lý hoặc người thân giữ; để họ giao dịch, ký giấy tờ, làm việc với đối tác trong thời gian dài. Nhưng đến khi phát sinh nợ hoặc tranh chấp thì doanh nghiệp quay lại phủ nhận tư cách của người đã ký.

Tuy nhiên, dưới góc nhìn pháp lý, trách nhiệm của doanh nghiệp không chỉ được nhìn từ “một chữ ký”, mà còn được nhìn từ cả quá trình thực hiện hợp đồng.

Trong vụ án này, người có quyền lợi liên quan thừa nhận chính mình đã giữ con dấu công ty và trực tiếp ký hợp đồng với nguyên đơn. Quan trọng hơn, dịch vụ bảo vệ đã được cung cấp trên thực tế; công ty sử dụng dịch vụ liên tục; công nợ được xác nhận; tiền đã thanh toán nhiều đợt trước đó. Điều này tạo ra một thực tế pháp lý rất mạnh: doanh nghiệp đã hưởng lợi từ hợp đồng và đã mặc nhiên thừa nhận giao dịch.

Theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, khi một giao dịch đã được thực hiện trên thực tế, bên hưởng lợi từ giao dịch không thể tùy tiện viện dẫn lý do nội bộ để phủ nhận nghĩa vụ với bên thứ ba ngay tình.

Nói cách khác, pháp luật không bảo vệ kiểu hành xử: “Lúc dùng dịch vụ thì im lặng hưởng lợi, đến lúc trả tiền thì nói người ký không có quyền”.

Điểm đặc biệt của vụ án này còn nằm ở sai sót tố tụng. Tòa sơ thẩm đã giải quyết luôn yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tuyên hợp đồng vô hiệu, nhưng lại chưa tiến hành đúng thủ tục đối với yêu cầu phản tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể, bị đơn chưa nộp tạm ứng án phí phản tố và việc phản tố chưa được xử lý đầy đủ theo trình tự thủ tục.

VKSND TP.HCM đã kháng nghị phần này và TAND TP.HCM cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, hủy phần xử lý yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, phần nghĩa vụ thanh toán của bị đơn vẫn được giữ nguyên.

Kết quả cuối cùng, Công ty TNHH X vẫn bị buộc thanh toán gần 240 triệu đồng tiền nợ và hơn 23 triệu đồng tiền lãi chậm trả.

Dưới góc nhìn luật sư, bản án này cho thấy 3 vấn đề pháp lý mà doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý.

Thứ nhất, con dấu doanh nghiệp không phải “vật trang trí”. Ai được giữ dấu, ai được quyền ký, phạm vi ký đến đâu phải được quản trị cực kỳ chặt chẽ. Trong rất nhiều vụ kiện, doanh nghiệp thua không phải vì hợp đồng sai, mà vì chính nội bộ công ty buông lỏng quản trị.

Thứ hai, doanh nghiệp không thể vừa sử dụng dịch vụ vừa phủ nhận giao dịch. Nếu công ty đã nhận lợi ích, đã thanh toán một phần, đã xác nhận công nợ thì khả năng rất cao tòa án sẽ xác định giao dịch đã được chấp nhận trên thực tế.

Thứ ba, tranh chấp thương mại không chỉ là câu chuyện “đúng hay sai”, mà còn là câu chuyện tố tụng. Chỉ một sai sót về thủ tục phản tố, tạm ứng án phí hay phạm vi yêu cầu cũng có thể khiến một phần bản án bị hủy.

Nhiều chủ doanh nghiệp nghĩ rằng hợp đồng vô hiệu thì không phải trả tiền. Nhưng thực tế pháp lý không đơn giản như vậy. Ngay cả khi hợp đồng có vấn đề về thẩm quyền ký, nếu hàng hóa đã giao, dịch vụ đã sử dụng, lợi ích đã phát sinh thì nghĩa vụ hoàn trả hoặc thanh toán vẫn có thể được tòa án xác lập.

Trong thương mại, chữ ký có thể là của một người. Nhưng trách nhiệm pháp lý đôi khi là của cả doanh nghiệp.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ


&Partners







“XIN NGHỈ PHÉP ĐỂ ‘NỐI’ KỲ LỄ: QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐẾN ĐÂU, DOANH NGHIỆP CÓ ĐƯỢC TỪ CHỐI?”Trong năm 2026 này, sau k...
28/04/2026

“XIN NGHỈ PHÉP ĐỂ ‘NỐI’ KỲ LỄ: QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐẾN ĐÂU, DOANH NGHIỆP CÓ ĐƯỢC TỪ CHỐI?”

Trong năm 2026 này, sau kỳ nghỉ Giỗ Tổ Hùng Vương nhiều người lao động chỉ cần làm việc 1–2 ngày rồi bước ngay vào kỳ nghỉ 30/4 – 1/5. Từ đó phát sinh nhu cầu xin nghỉ phép năm xen giữa để “nối” thành một kỳ nghỉ dài. Tuy nhiên, đây cũng là điểm dễ phát sinh tranh chấp khi không ít doanh nghiệp từ chối đơn xin nghỉ, trong khi người lao động cho rằng đó là quyền chính đáng của mình.

Dưới góc độ pháp lý, quyền nghỉ hằng năm của người lao động được ghi nhận rõ tại Điều 113 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, người lao động làm việc đủ 12 tháng sẽ được nghỉ từ 12 đến 16 ngày/năm và hưởng nguyên lương, tùy theo điều kiện công việc. Đây là quyền mang tính bắt buộc phải được bảo đảm, không phụ thuộc vào ý chí đơn phương của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng pháp luật không trao cho người lao động quyền tự quyết hoàn toàn về thời điểm nghỉ. Khoản 4 Điều 113 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến người lao động và phải thông báo trước; đồng thời, người lao động có thể thỏa thuận để nghỉ thành nhiều lần hoặc gộp tối đa 3 năm.

Như vậy, việc xin nghỉ phép để “nối” giữa các kỳ nghỉ lễ về mặt pháp lý là hoàn toàn không bị cấm. Tuy nhiên, đây chỉ là quyền đề nghị chứ không phải quyền đương nhiên được chấp thuận. Người sử dụng lao động vẫn có quyền từ chối nếu việc nghỉ vào thời điểm đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực tiễn cho thấy, những trường hợp như cao điểm đơn hàng, thời hạn giao kết với đối tác, hoặc thiếu hụt nhân sự nếu nhiều người cùng nghỉ… đều có thể là căn cứ hợp lý để doanh nghiệp không chấp thuận đơn xin nghỉ.

Ngược lại, quyền từ chối này cũng không phải là tuyệt đối. Nếu doanh nghiệp liên tục từ chối mà không bố trí thời điểm nghỉ thay thế, hoặc từ chối một cách tùy tiện, không chứng minh được nhu cầu thực tế, thì hành vi này có thể bị xem là xâm phạm quyền nghỉ hằng năm của người lao động. Khi đó, tranh chấp có thể phát sinh và được xác định là tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, với cơ chế giải quyết thông qua hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện ra Tòa án.

Từ góc nhìn thực tiễn, để hạn chế rủi ro tranh chấp, doanh nghiệp nên chủ động công bố kế hoạch nghỉ phép ngay từ đầu năm, xây dựng tiêu chí rõ ràng trong việc phê duyệt nghỉ phép và tránh tình trạng từ chối tùy tiện. Về phía người lao động, cần hiểu rằng nghỉ phép là quyền có điều kiện, do đó nên đăng ký sớm, tuân thủ quy trình nội bộ và chủ động bàn giao công việc. Việc cân bằng giữa quyền nghỉ ngơi và nhu cầu vận hành của doanh nghiệp không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là yếu tố quan trọng để duy trì quan hệ lao động ổn định, lâu dài.

Nguồn: TeamHPL

LUẬT SƯ CỦA BẠN
✔️ Tư vấn pháp luật
✔️ Tham gia tranh tụng và trọng tài
✔️ Đại diện ngoài tố tụng
✔️ Dịch vụ tư vấn đầu tư
✔️ Sở hữu trí tuệ


&Partners







Address

5 Đồng Nai, Phường Tân Sơn Hòa
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ls Lê Văn Thuyết posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share