LUẬT 3S

LUẬT 3S Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from LUẬT 3S, Lawyer & Law Firm, 231/233 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Ho Chi Minh City.

Dịch vụ Pháp lý & Kế toán Thuế | Hotline: 0363383438 | Thành lập Doanh nghiệp - Thủ tục Thuế - Hợp đồng - Lao động - Tư vấn luật thường xuyên - Luật sư tư vấn & tham gia tố tụng các lĩnh vực: Dân sự, Hình sự, Đất đai, Thừa kế, Hôn nhân gia đình

26/08/2026

🇻🇳🏆️ 🎉️
VIỆT NAM VÔ ĐỊCH!
TRONG NGÀY THÁI GHI 4 BÀN 😃

CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TRẢ LẠI HỒ SƠ QUA BỘ PHẬN MỘT CỬA: AI LÀ NGƯỜI BỊ KIỆN?Hỏi: Ông Nguyễn Văn A nộp hồ ...
26/08/2026

CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TRẢ LẠI HỒ SƠ QUA BỘ PHẬN MỘT CỬA: AI LÀ NGƯỜI BỊ KIỆN?

Hỏi: Ông Nguyễn Văn A nộp hồ sơ tại nơi tiếp nhận và trả kết quả (bộ phận một cửa) của Ủy ban nhân dân huyện B đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Hồ sơ đã được tiếp nhận và hẹn ngày trả kết quả. Trong quá trình kiểm tra, xác minh đối với yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì kết quả là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B ra Thông báo hồ sơ của ông A không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời chuyển hồ sơ sang bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân huyện B và bộ phận một cửa gọi ông A lên và trả lại toàn bộ hồ sơ cho ông A (kèm theo văn bản của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B). Xác định người bị kiện trong trường hợp này như thế nào?

Tòa án nhân dân tối cao giải đáp tại “Công văn số 207/TANDTC-PC ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử vụ án hành chính” như sau:

Khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 quy định: "Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam."
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Ủy ban nhân dân cấp huyện. Việc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ra Thông báo hồ sơ của ông A không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển hồ sơ sang bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân huyện B là hành vi hành chính mang tính nội bộ của Ủy ban nhân dân huyện B. Trường hợp ông A không đồng ý với việc trả hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông A có quyền khởi kiện hành vi hành chính không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện B. Do đó, người bị kiện trong trường hợp này là Ủy ban nhân dân huyện B - Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông A.

Kết luận:
Người bị kiện trong trường hợp này được xác định là Ủy ban nhân dân cấp huyện – cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu – vì việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ra thông báo và chuyển hồ sơ chỉ là hành vi mang tính nội bộ phục vụ cho quyết định của Ủy ban nhân dân huyện.

Án lệ 36/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, h...
26/08/2026

Án lệ 36/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ

- Tình huống pháp lý:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tuân thủ quy định của pháp luật nhưng sau đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ do sai sót về diện tích đất và trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không làm mất đi quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, phải xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật.

- Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 05/2018/KDTM-GĐT ngày 18-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần V với các bị đơn là ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T.

- Nội dung án lệ:

“[2] Ngày 31-8-2011, ͮy ban nhân dân thị xụ B đụ ban hành Quyết định số 3063/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ544493 do ͮy ban nhân dân thị xụ B cấp ngày 14-7-2004 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T. Việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên do có sai sót về diện tích đất và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông C, bà T. Tuy nhiên việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không làm mất đi quyền sử dụng hợp pháp phần đất đụ nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông C, bà T, vì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trần Thị Ngọc H, ông Trần Huỳnh L và vợ chồng ông C, bà T đụ hoàn tất, các bên không có tranh chấp gì về Hợp đồng chuyển nhượng này. [3] Mặt khác, trước khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà T bị thu hồi, ông C, bà T đụ thế chấp quyền sử dụng đất này cho Ngân hàng nhiều lần để vay tiền, gần nhất là ngày 19-3-2010. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà T với Ngân hàng tuân thủ đúng quy định pháp luật nên Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 411 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho rằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 nêu trên vô hiệu do đối tượng của Hợp đồng thế chấp này không còn là không đúng.”

26/08/2026

Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy tay do các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ thanh toán và bên mua đã nhận bàn giao đất thực tế.

Kính gửi: Quý Khách hàng,3SLaw xin trân trọng thông báo đến Quý Khách hàng lịch nghỉ Lễ Quốc khánh năm 2026, Quý Khách h...
26/08/2026

Kính gửi: Quý Khách hàng,

3SLaw xin trân trọng thông báo đến Quý Khách hàng lịch nghỉ Lễ Quốc khánh năm 2026, Quý Khách hàng vui lòng xem Thông báo để tiện sắp xếp các công việc trước khi nghỉ Lễ.

Kính chúc Quý Khách hàng, đối tác có một kỳ nghỉ vui vẻ, bình an và hạnh phúc

Xin cảm ơn.
Trân trọng./.

───

𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 3𝐒 | 𝗡𝗼 𝗺𝗼𝗿𝗲 𝗟𝗲𝗴𝗮𝗹 𝗪𝗼𝗿𝗿𝗶𝗲
Dịch vụ Luật sư & Kế toán Thuế
𝗛𝗼𝘁𝗹𝗶𝗻𝗲: 0363383438 (Call/Zalo)
𝗘𝗺𝗮𝗶𝗹: [email protected]
𝗪𝗲𝗯: http://luat3s.com/
Fanpage: https://www.facebook.com/share/1DmYNisWsu/?mibextid=wwXIfr

Một số Dịch vụ trọng tâm:
✅ Thành lập Doanh nghiệp, Hộ kinh doanh (toàn quốc), Thay đổi Giấy phép kinh doanh…
✅ Thành lập Công ty có vốn đầu tư nước ngoài; Giấy phép đầu tư; xin cấp Visa; Thẻ Tạm trú; Thẻ thường trú; Giấy phép lao động cho Người nước ngoài …
✅ Dịch vụ Kế toán Thuế (toàn quốc)
✅ Dịch vụ xin Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh các loại; Đại diện ngoài tố tụng
✅ Tư vấn, soạn thảo, soát xét Hợp đồng và Đơn từ các loại
✅ Đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu; Bản quyền tác giả; Sáng chế ...
✅ Dịch vụ tư vấn luật thường xuyên cho Doanh nghiệp và Cá nhân
✅ Luật sư tư vấn, đại diện, tham gia tố tụng (bảo vệ quyền & lợi ích hợp pháp; Bào chữa) tại Toà án các cấp
✅ Dịch vụ đào tạo Pháp lý
✅ Và nhiều Dịch vụ pháp lý khác ....

Đăng ký tư vấn và nhận Báo phí Dịch vụ ưu đãi tại đây: https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSezgTZa-n8qqpyaJtN1KPrjPAxfVFZNwv4OoQgSNmNlV6G3iQ/viewform

Hủy án sơ thẩm tranh chấp đất đai do Tòa án xác định sai địa chỉ bị đơn và bỏ sót người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ...
26/08/2026

Hủy án sơ thẩm tranh chấp đất đai do Tòa án xác định sai địa chỉ bị đơn và bỏ sót người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.

Bản án số 886/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

- Tóm tắt nội dung vụ án

Bà Bùi Thị N khởi kiện yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký năm 2018 với Công ty Cổ phần Đ vì cho rằng dự án này thực chất thuộc sở hữu của một công ty khác. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải hoàn trả số tiền đã nhận hơn 1 tỷ đồng và bồi thường thiệt hại theo lãi suất 10% mỗi năm. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử vắng mặt bị đơn, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc công ty phải trả lại tổng cộng hơn 1,7 tỷ đồng nên phía bị đơn đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

- Nhận định của Tòa án

Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Cụ thể, cấp sơ thẩm xác định địa chỉ của bị đơn không chính xác dẫn đến việc tống đạt các văn bản tố tụng không hợp lệ, làm cho bị đơn không biết để tham gia phiên tòa. Ngoài ra, cơ quan xét xử cấp dưới còn bỏ sót không đưa chủ đầu tư thực sự của dự án là Công ty TNHH A vào tham gia tố tụng với tư cách người liên quan để làm rõ trách nhiệm bàn giao đất.

- Phán quyết của Tòa án

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần Đ và tuyên hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 397/2025/DS-ST. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh để thực hiện việc thụ lý và giải quyết lại vụ án theo đúng trình tự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho phía bị đơn theo quy định.

- Cơ sở pháp lý

Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

CÔNG TY CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRÁI LUẬT SẼ PHẢI CHỊU HỆ QUẢ PHÁP LÝ NÀO?Nhiều doanh nghiệp cho rằng chỉ cần thanh toán đầy đ...
25/08/2026

CÔNG TY CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRÁI LUẬT SẼ PHẢI CHỊU HỆ QUẢ PHÁP LÝ NÀO?

Nhiều doanh nghiệp cho rằng chỉ cần thanh toán đầy đủ tiền lương, các khoản bảo hiểm và chế độ liên quan là có thể chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động chỉ được thực hiện khi có căn cứ luật định và tuân thủ đúng trình tự, thời hạn báo trước theo Bộ luật Lao động.

1. Thế nào là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Theo Điều 39 Bộ luật Lao động năm 2019, “đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các Điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này”. Như vậy, việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định về căn cứ chấm dứt, trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt và thời hạn báo trước.

Đối với người sử dụng lao động, Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định các trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó, người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; bị ốm đau, tai nạn đã điều trị trong thời gian luật định nhưng khả năng lao động chưa hồi phục; do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc; hoặc người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định. Các trường hợp này được quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.

Do đó, nếu doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động vì một lý do không thuộc các trường hợp được pháp luật cho phép, việc đơn phương chấm dứt có thể bị xác định là trái pháp luật. Chẳng hạn, doanh nghiệp không thể chỉ căn cứ vào lý do chung chung như “không còn phù hợp”, “tái cơ cấu” hoặc “không muốn tiếp tục sử dụng lao động” để đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không xác định và đáp ứng đúng căn cứ pháp luật tương ứng.

Bên cạnh yêu cầu về căn cứ chấm dứt, doanh nghiệp còn phải tuân thủ thời hạn báo trước theo khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể, đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người sử dụng lao động phải báo trước ít nhất 45 ngày; đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng, phải báo trước ít nhất 30 ngày; đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng, phải báo trước ít nhất 03 ngày làm việc. Đối với một số trường hợp đặc thù, thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định riêng tại khoản 2 Điều 36.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định một số trường hợp người sử dụng lao động không phải báo trước, chẳng hạn trường hợp người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 hoặc người lao động tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng, hoặc trường hợp người lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng. Vì vậy, không thể mặc nhiên cho rằng mọi trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đều phải báo trước.

Đồng thời, doanh nghiệp không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp bị cấm theo Điều 37 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền trong trường hợp luật định; đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng hoặc nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý; lao động nữ mang thai thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 137; hoặc người lao động đang nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, có thể khái quát rằng một quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của doanh nghiệp có nguy cơ bị xác định là trái pháp luật nếu doanh nghiệp không có căn cứ thuộc Điều 36, thuộc trường hợp bị cấm theo Điều 37, hoặc có căn cứ nhưng không tuân thủ quy định về thời hạn báo trước tại Điều 36, trừ những trường hợp pháp luật cho phép không phải báo trước.

2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Theo khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết, phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Cũng theo khoản 1 Điều 41, sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Nếu vi phạm thêm về thời hạn báo trước, người sử dụng lao động còn phải trả thêm một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, theo khoản 2 Điều 41, ngoài khoản tiền nêu trên, người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 để chấm dứt hợp đồng lao động.

Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, theo khoản 3 Điều 41, ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Ví dụ: công ty A cho anh B nghỉ việc trái luật khi anh B đang có mức lương 20 triệu đồng một tháng, tổng thời gian tranh chấp kéo dài 6 tháng trước khi có phán quyết của Tòa án buộc công ty nhận lại. Nếu anh B đồng ý và công ty cũng muốn nhận lại, công ty phải trả đủ lương 6 tháng, khoảng 120 triệu đồng, đóng bảo hiểm tương ứng, cộng thêm ít nhất 2 tháng lương bồi thường khoảng 40 triệu đồng. Tổng nghĩa vụ tài chính tối thiểu đã lên đến 160 triệu đồng, chưa kể án phí, chi phí tố tụng nếu có.

3. Kết luận

Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không đơn thuần là vấn đề đạo đức quản trị nhân sự, mà là hành vi vi phạm pháp luật có chế tài rõ ràng, cụ thể là nghĩa vụ nhận lại người lao động và bồi thường tối thiểu 2 tháng tiền lương, cộng toàn bộ lương và bảo hiểm trong thời gian tranh chấp. Doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt căn cứ và thủ tục chấm dứt hợp đồng theo đúng Điều 36, 37 Bộ luật Lao động 2019, đặc biệt là thời hạn báo trước và các trường hợp cấm chấm dứt hợp đồng, để tránh rủi ro pháp lý và tài chính đáng kể.

KHÔNG ĐO VẼ ĐƯỢC BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH DO UBND CẤP XÃ KHÔNG CỬ NGƯỜI DẪN ĐẠC: CÓ KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG, KIỆN AI?Hỏi: Hồ sơ đăn...
25/08/2026

KHÔNG ĐO VẼ ĐƯỢC BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH DO UBND CẤP XÃ KHÔNG CỬ NGƯỜI DẪN ĐẠC: CÓ KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG, KIỆN AI?

Hỏi: Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất yêu cầu phải có người dẫn đạc ký tên trong hồ sơ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ. Người dẫn đạc là cán bộ, công chức địa chính cấp xã nhưng Ủy ban nhân dân xã không cử và cũng không đồng ý cho người dẫn đạc ký tên nên không đo vẽ được bản đồ địa chính. Vậy người yêu cầu có quyền khởi kiện vụ án hành chính không, ai là người bị kiện?

Tòa án nhân dân tối cao giải đáp tại “Công văn số 207/TANDTC-PC ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử vụ án hành chính” như sau:

Theo quy định tại Điều 5 và khoản 2 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có thẩm quyền lập hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất. Khi lập Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất yêu cầu phải đo vẽ bản đồ địa chính. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không lập Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất do không có người dẫn đạc ký tên trong hồ sơ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ thì người yêu cầu có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với hành vi hành chính không lập Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của Văn phòng đăng ký đất đai. Việc Ủy ban nhân dân cấp xã không cử cũng không đồng ý cho người dẫn đạc ký tên nên không đo vẽ được bản đồ địa chính là hành vi không thực hiện nhiệm vụ công vụ, mang tính chất nội bộ, không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Kết luận:
Người yêu cầu có quyền khởi kiện hành vi hành chính không lập hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của Văn phòng đăng ký đất đai. Riêng việc Ủy ban nhân dân cấp xã không cử người dẫn đạc chỉ là việc mang tính nội bộ, không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Án lệ 37/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi k...
25/08/2026

Án lệ 37/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm

- Tình huống pháp lý:

Sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm mới đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến gì, không có văn bản thông báo cho bên mua bảo hiểm về việc chấm dứt hợp đồng mà vẫn nhận phí bảo hiểm, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về khoản tiền đóng phí bảo hiểm. Sau đó, sự kiện bảo hiểm xảy ra.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm.

- Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 28/2018/KDTM-GĐT ngày 26-6-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” tại tỉnh Đồng Nai giữa nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn N với bị đơn là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Công ty bảo hiểm P1, Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty cổ phần giấy S.

- Nội dung án lệ:

“[4]… Sau khi nhận được tiền phí bảo hiểm của Công ty N, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P và Bảo hiểm P1 không có ý kiến gì và cũng không có văn bản thông báo về việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm thì hai Hợp đồng trên đụ không còn hiệu lực từ ngày 01-5-2015, mà Bảo hiểm P1 vẫn nhận, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về hai khoản tiền đóng bảo hiểm này của Công ty N, nên mặc nhiên Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P và Bảo hiểm P1 thừa nhận việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm của Công ty N và thừa nhận hai hợp đồng bảo hiểm trên có hiệu lực thi hành. [5] Do đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P phải có trách nhiệm bồi thường theo Hợp đồng giữa hai bên đụ ký kết.”

25/08/2026

Hủy một phần bản án sơ thẩm về chia tài sản chung vợ chồng để xét xử lại nhằm làm rõ ý chí tự nguyện của các bên khi xác lập thỏa thuận phân chia trong thời kỳ hôn nhân.

Address

231/233 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
70000

Telephone

+84363383438

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT 3S posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to LUẬT 3S:

Shortcuts

Share