LUẬT 3S

Call Directions Website Contact the practice

LUẬT 3S Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from LUẬT 3S, Lawyer & Law Firm, 231/233 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Ho Chi Minh City.

Dịch vụ Pháp lý & Kế toán Thuế | Hotline: 0363383438 | Thành lập Doanh nghiệp - Thủ tục Thuế - Hợp đồng - Lao động - Tư vấn luật thường xuyên - Luật sư tư vấn & tham gia tố tụng các lĩnh vực: Dân sự, Hình sự, Đất đai, Thừa kế, Hôn nhân gia đình

29/09/2026

Tòa án chấp nhận kháng cáo cho nữ bị cáo trẻ tuổi phạm tội đánh bạc được hưởng án treo do mắc bệnh hiểm nghèo và là lao động duy nhất nuôi mẹ bệnh.

Mua đất khai hoang bằng giấy viết tay không có chứng cứ, bị Toà tuyên phải trả lại đất cho người bánBản án số: 205/2026/...
29/09/2026

Mua đất khai hoang bằng giấy viết tay không có chứng cứ, bị Toà tuyên phải trả lại đất cho người bán

Bản án số: 205/2026/DS-PT ngày 05/8/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất".

- Tóm tắt nội dung vụ án

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn thứ nhất cùng vợ chồng người liên quan (bị đơn thứ hai, bị đơn thứ ba) trả lại thửa đất số 168, tờ bản đồ 38 diện tích 90,8m2 tại thôn T, xã P và chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật. Bị đơn thứ nhất cho rằng đã nhận chuyển nhượng thửa đất từ nguyên đơn vào năm 2012 với giá 1.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ chứng minh. Bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn thứ nhất và người liên quan (vợ chồng bị đơn thứ hai) nộp đơn kháng cáo.

- Nhận định của Tòa án

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy thửa đất số 168 do hộ nguyên đơn khai hoang từ năm 1980, xây nhà ở ổn định liên tục hơn 30 năm không có tranh chấp và đứng tên hộ nguyên đơn trong sổ VLAP. Lập luận nhận chuyển nhượng của bị đơn thứ nhất không có chứng cứ chứng minh nên không được chấp nhận. Vợ chồng bị đơn thứ hai, bị đơn thứ ba tự ý lấn chiếm đất của nguyên đơn làm nhà ở là xâm phạm quyền sử dụng đất hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút yêu cầu buộc vợ chồng bị đơn thứ hai chấm dứt hành vi cản trở do ngôi nhà lấn chiếm đã bị sập không còn cản trở. Do đó, Tòa án chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn thứ hai về việc hủy phần tuyên buộc chấm dứt hành vi cản trở đối với bị đơn thứ hai.

- Phán quyết của Tòa án

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn thứ nhất; chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng bị đơn thứ hai. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST. Công nhận hộ gia đình nguyên đơn được trọn quyền sử dụng thửa đất số 168 diện tích 90,8m2. Buộc bị đơn thứ nhất cùng vợ chồng bị đơn thứ hai, bị đơn thứ ba trả lại toàn bộ thửa đất 168 cho hộ nguyên đơn. Hủy phần tuyên buộc bị đơn thứ hai, bị đơn thứ ba chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật. Bị đơn thứ nhất phải chịu 14.000.000 đồng chi phí tố tụng.

- Cơ sở pháp lý

Khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 158, 163, 164, 165, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO THỎA THUẬN: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU ÝTrong quá trình sử dụng lao động, không phải m...
28/09/2026

CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO THỎA THUẬN: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý

Trong quá trình sử dụng lao động, không phải mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đều phải xuất phát từ quyết định đơn phương của người lao động hoặc người sử dụng lao động. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp và người lao động lựa chọn thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động nhằm chủ động xác định thời điểm nghỉ việc, các khoản tiền được thanh toán và hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên, việc hai bên cùng ký vào một văn bản không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên được miễn các nghĩa vụ đối với người lao động. Dưới đây là một số vấn đề pháp lý cần lưu ý khi chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận

1. Lập văn bản thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động

Khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019 quy định “hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động” là một trong những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động. Đây là trường hợp mà việc chấm dứt xuất phát từ sự thống nhất ý chí của cả người lao động và người sử dụng lao động, khác với đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 35 và Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.

Do đó, về nguyên tắc, khi hai bên thực sự tự nguyện thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, pháp luật không đặt ra yêu cầu phải chứng minh một trong các lý do chấm dứt và cũng không áp dụng thời hạn báo trước theo cơ chế đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đồng thời có thể thỏa thuận về tiền lương còn lại, trợ cấp thôi việc, tiền phép năm chưa nghỉ, khoản hỗ trợ thêm khi nghỉ việc, thời điểm thanh toán và trách nhiệm bàn giao công việc, tài sản, hồ sơ.

Mặc dù pháp luật không quy định một mẫu bắt buộc riêng cho “thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động”, về mặt chứng cứ, doanh nghiệp nên lập văn bản thỏa thuận có chữ ký của hai bên, trong đó thể hiện rõ việc chấm dứt là do hai bên tự nguyện thống nhất.

2. Trợ cấp thôi việc khi chấm dứt theo thỏa thuận

Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, khi hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp được liệt kê tại Điều 34, trong đó có trường hợp hai bên thỏa thuận chấm dứt theo khoản 3 Điều 34, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, trừ các trường hợp luật định.

Mức hưởng: mỗi năm làm việc, người lao động được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật lao động (trường hợp Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên).

Theo khoản 2, khoản 3 Điều 46 Bộ luật lao động 2019: Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

3. Trách nhiệm thanh toán và thủ tục khi chấm dứt hợp đồng lao động

Theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày trong các trường hợp: người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm.
Khi thanh lý quan hệ lao động, doanh nghiệp cần lưu ý rà soát tối thiểu các khoản sau:

Thứ nhất, tiền lương còn phải trả đến ngày chấm dứt hợp đồng.

Thứ hai, tiền nghỉ hằng năm chưa sử dụng nếu thuộc trường hợp phải thanh toán theo quy định.

Thứ ba, trợ cấp thôi việc, nếu người lao động đủ điều kiện theo Điều 46.

Thứ tư, các khoản hỗ trợ hoặc quyền lợi khác mà hai bên đã thỏa thuận trong văn bản chấm dứt hợp đồng.

Thứ năm, các nghĩa vụ liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và hồ sơ quá trình làm việc của người lao động.

Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng bản chính giấy tờ khác nếu đã giữ của người lao động; đồng thời cung cấp bản sao tài liệu liên quan đến quá trình làm việc nếu người lao động có yêu cầu, chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động chi trả.

Như vậy, việc ký “Biên bản thanh lý hợp đồng” không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể bỏ qua các thủ tục về bảo hiểm hoặc các khoản tiền mà pháp luật bắt buộc phải thanh toán.

4. Một số vấn đề pháp lý liên quan

Về hình thức văn bản thỏa thuận: pháp luật không bắt buộc mẫu cố định, nhưng văn bản cần thể hiện rõ: hai bên tự nguyện thỏa thuận chấm dứt theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, thời điểm chấm dứt, các khoản quyền lợi được chi trả (lương những ngày làm việc còn lại, trợ cấp thôi việc, các khoản khác nếu có), và cam kết của hai bên về việc không còn khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến quan hệ lao động đã chấm dứt.

Về bảo hiểm thất nghiệp: người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận vẫn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, vì đây không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hay bị xử lý kỷ luật sa thải.

Về rủi ro khi chậm thanh toán quyền lợi: nếu người sử dụng lao động không thanh toán đầy đủ các khoản trong thời hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện tranh chấp lao động cá nhân ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, và doanh nghiệp còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không thanh toán đúng hạn các khoản tiền liên quan đến chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động hiện hành.

5. Kết luận

Chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận là căn cứ chấm dứt hợp pháp theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, nhưng vẫn kéo theo đầy đủ trách nhiệm về trợ cấp thôi việc theo Điều 46, thời hạn và thủ tục thanh toán, chốt sổ bảo hiểm xã hội theo Điều 48 của Bộ luật này. Để tránh tranh chấp về sau, cả người lao động và người sử dụng lao động cần lập văn bản thỏa thuận rõ ràng, thể hiện đúng bản chất tự nguyện, ghi nhận đầy đủ các khoản quyền lợi đã thống nhất, và thực hiện nghĩa vụ thanh toán, hoàn tất thủ tục bảo hiểm xã hội đúng thời hạn luật định.

Án lệ 03/2016/AL về vụ án ly hôn- Tình huống pháp lý: Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và v...
28/09/2026

Án lệ 03/2016/AL về vụ án ly hôn

- Tình huống pháp lý:

Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.

- Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 208/2013/DS-GĐT ngày 03-5-2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Ly hôn” tại Hà Nội giữa nguyên đơn là chị Đỗ Thị Hồng với bị đơn là anh Phạm Gia Nam; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Gia Phác, bà Phùng Thị Tài, anh Phạm Gia Ơn, chị Phạm Thị Lữ, anh Bùi Văn Đáp, chị Đỗ Thị Ngọc Hà.

- Nội dung án lệ:

“Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo thì năm 2001 xã tổ chức cho các hộ dân trong xã Vân Tảo đăng ký kê khai để xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và các hộ kê khai tại trụ sở thôn xóm (BL 103). Tất cả các hộ dân trong xã đều được biết về chủ trương kê khai đất này. Ông Phác là chủ đất nhưng không đi kê khai. Anh Nam đang ở trên đất và là người đi kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận. Ngày 21-12-2001 anh Nam được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 đứng tên hộ ông Phạm Gia Nam. Vợ chồng anh chị đã xây nhà 2 tầng kiên cố vào năm 2002 và đến năm 2005 thì xây thêm tum tầng 3. Ông Phác và các anh chị em trong gia đình anh Nam đều biết việc xây dựng trên của vợ chồng anh Nam chị Hồng, nhưng cũng không ai có ý kiến gì. Như vậy, từ khi được cấp giấy chứng nhận (2001) cho đến khi có việc ly hôn của anh Nam, chị Hồng (2009), gia đình ông Phác cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Phác là đã cho anh Nam và chị Hồng diện tích đất nêu trên.

Do đó, việc ông Phác và anh Nam khai rằng anh Nam tự ý kê khai giấy tờ đất, ông Phác không biết là không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị Hồng về việc gia đình ông Phác đã cho anh chị diện tích đất trên, là có cơ sở. Do đó, việc Tòa án các cấp nhận định rằng anh Nam đi làm giấy tờ đất ông Phác không biết và việc chị Hồng khai gia đình chồng đã cho vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, để xác định diện tích đất 80m2 tại thôn Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội là tài sản thuộc hộ gia đình ông Phạm Gia Phác; đồng thời buộc anh Nam, chị Hồng trả lại đất cho gia đình ông Phác, là không đúng. Cần phải xác định diện tích đất tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng anh Nam, chị Hồng và khi chia phải coi anh Nam có công sức đóng góp nhiều hơn để chia theo công sức của mỗi bên và cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.”

28/09/2026

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bị tuyên vô hiệu do giả tạo nhằm mục đích nhờ người khác đứng tên vay vốn ngân hàng.

Công nhân đi làm thuê, đốt tổ ong vô tình làm cháy rừng, bị Toà tuyên 03 năm tù vì tội vi phạm quy định phòng cháy chữa ...
28/09/2026

Công nhân đi làm thuê, đốt tổ ong vô tình làm cháy rừng, bị Toà tuyên 03 năm tù vì tội vi phạm quy định phòng cháy chữa cháy

Bản án số: 123/2026/HS-PT ngày 26-8-2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về tội "Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy".

- Tóm tắt nội dung vụ án

Chiều ngày 02/06/2024, tại khu vực rừng trồng thuộc thôn A, xã T, bị cáo đã dùng một đoạn cây quấn vải tẩm dầu nhớt đốt để đốt tổ ong trong khu rừng đang khai thác. Trong quá trình đốt, tổ ong bị cháy rơi xuống lớp thực bì khô dưới gốc cây gây cháy lan sang rừng trồng Keo lai của một công ty và một hộ dân, gây thiệt hại tổng giá trị 573.343.550 đồng. Bản án hình sự sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 năm 06 tháng tù về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Nhận định của Tòa án

Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng và tài nguyên rừng nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo. Tuy nhiên, xét hành vi phạm tội của bị cáo là do vô ý; quá trình điều tra và tại tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại; bị cáo là người cao tuổi, gia đình khó khăn. Đặc biệt tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm chứng cứ mới xác nhận là quân nhân xuất ngũ, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, mức án sơ thẩm 04 năm 06 tháng tù có phần nghiêm khắc nên Tòa phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Phán quyết của Tòa án

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 82/2026/HS-ST, xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội "Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy". Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

- Cơ sở pháp lý

Điểm c khoản 2 Điều 313; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Án lệ 04/2016/AL về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất- Tình huống pháp lý: Trường hợp nhà đất là tài s...
27/09/2026

Án lệ 04/2016/AL về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Tình huống pháp lý:

Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.

- Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03-3-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Quý, bà Trần Thị Phấn, anh Lê Văn Tám, chị Lê Thị Tưởng, anh Lê Đức Lợi, chị Lê Thị Đường, anh Lê Mạnh Hải, chị Lê Thị Nhâm.

- Nội dung án lệ:

Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở. Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý. Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con. Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà. Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.

Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng do có sự nhầm lẫn về diện tích đất thực tế đang...
27/09/2026

Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng do có sự nhầm lẫn về diện tích đất thực tế đang do người khác quản lý sử dụng và kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận đã cấp để chỉnh lý lại cho chủ sở hữu.

Bản án số: 592/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai về việc "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất".

- Tóm tắt nội dung vụ án

Nguyên đơn (vợ chồng) đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.806m2 thuộc thửa 73 tại xã T, huyện T. Sau khi được cấp sổ, nguyên đơn chia miệng cho các con sử dụng nhưng không lập hợp đồng hay đăng ký biến động. Các con của nguyên đơn sau đó lần lượt chuyển nhượng bằng giấy tay diện tích đất được cho cho người nhận chuyển nhượng thứ nhất (vợ chồng) và người nhận chuyển nhượng thứ hai (vợ chồng). Năm 2019, bị đơn (vợ chồng) nhận chuyển nhượng lại từ người nhận chuyển nhượng thứ hai và nhờ nguyên đơn cùng vợ/chồng ra Văn phòng công chứng ký Hợp đồng số 8783 chuyển nhượng trọn thửa đất 2.806m2 để làm thủ tục sang tên. Do phát hiện hợp đồng công chứng ghi trọn thửa 2.806m2 trùm lên cả phần đất do người nhận chuyển nhượng thứ nhất đang quản lý sử dụng ổn định từ trước, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 8783 vô hiệu. Bản án sơ thẩm số 70/2025/TLST-DS chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện, tuyên hợp đồng vô hiệu, kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bị đơn để cấp lại cho nguyên đơn. Bị đơn và người liên quan (người nhận chuyển nhượng thứ hai) kháng cáo đề nghị công nhận giấy sang nhượng đất viết tay năm 2011 diện tích 1,3 sào.

- Nhận định của Tòa án

Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định diện tích đất 2.806m2 thực tế đã được phân định ranh giới rõ ràng bằng hàng rào lưới B40, trong đó người nhận chuyển nhượng thứ nhất quản lý sử dụng khoảng 2.000m2 ổn định từ các năm 2010 và 2015; bị đơn chỉ thực tế quản lý sử dụng một phần diện tích đất còn lại. Việc các bên ký Hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 8783 ngày 13/12/2019 với nội dung chuyển nhượng toàn bộ 2.806m2 thuộc thửa 73 là có sự nhầm lẫn nghiêm trọng về diện tích đất chuyển nhượng theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng công chứng này vô hiệu và buộc các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận là hoàn toàn đúng pháp luật. Đối với yêu cầu của bị đơn và người liên quan đề nghị công nhận Giấy sang nhượng đất viết tay ngày 31/01/2011 diện tích 1,3 sào, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là yêu cầu mới chưa từng được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và bị đơn không nộp đơn phản tố tại cấp sơ thẩm, do đó cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét chấp nhận; các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác theo quy định.

- Phán quyết của Tòa án

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người nhận chuyển nhượng thứ hai); giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/TLST-DS. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 8783 ngày 13/12/2019 giữa nguyên đơn với bị đơn đối với diện tích 2.806m2 thuộc thửa 73 là vô hiệu. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn để chỉnh lý, cấp lại cho nguyên đơn. Buộc bị đơn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 35.000.000 đồng chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá đất. Mỗi người kháng cáo phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.

- Cơ sở pháp lý

Khoản 1 Điều 308; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; khoản 2 Điều 184; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 235; Điều 273; Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 117, 122, 126, 127, 131; Các Điều 398, 422, 423, 425, 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 31, Điều 220 Luật Đất đai năm 2024. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

BỊ ĐƠN LÀ HỘ KINH DOANH CÓ CHỦ HỘ TRÊN 60 : CÓ ĐƯỢC MIỄN ÁN PHÍ NHƯ CÁ NHÂN CAO TUỔI?Hỏi: Khi giải quyết các tranh chấp ...
26/09/2026

BỊ ĐƠN LÀ HỘ KINH DOANH CÓ CHỦ HỘ TRÊN 60 : CÓ ĐƯỢC MIỄN ÁN PHÍ NHƯ CÁ NHÂN CAO TUỔI?

Hỏi: Khi giải quyết các tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng với bị đơn là hộ kinh doanh cá thể, trong đó chủ hộ kinh doanh là người trên 60 tuổi. Hộ kinh doanh cá thể vay tiền để thực hiện hoạt động kinh doanh có mục đích lợi nhuận. Vậy người trên 60 tuổi trong trường hợp này có được miễn án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không?

Tòa án nhân dân tối cao giải đáp tại “Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử” như sau:

Theo khoản 1 Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 quy định: “1. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.” Theo khoản 2 Điều 81 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 thì chủ hộ kinh doanh đại diện cho hộ kinh doanh với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án.
Trong trường hợp này, chủ hộ kinh doanh chỉ là người đại diện cho hộ kinh doanh tham gia tố tụng tại Tòa án, nên hộ kinh doanh là chủ thể phải nộp án phí chứ không phải là chủ hộ kinh doanh. Vì vậy, nếu chủ hộ kinh doanh là người trên 60 tuổi thì cũng không được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Kết luận:
Trong tranh chấp hợp đồng tín dụng mà bị đơn là hộ kinh doanh, chủ thể có nghĩa vụ nộp án phí là hộ kinh doanh chứ không phải cá nhân chủ hộ, nên dù chủ hộ kinh doanh trên 60 tuổi cũng không được miễn án phí theo diện người cao tuổi.

Lưu ý: Nghị định số 01/2021/NĐ-CP hiện đã được thay thế bởi Nghị định 168/2025/NĐ-CP, theo đó các quy định tại Điều 79, Điều 81 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP hiện nay thực hiện theo quy định tương ứng tại Điều 82, 83 Nghị định 168/2025/NĐ-CP.

Án lệ 05/2016/AL về vụ án tranh chấp di sản thừa kế- Tình huống pháp lý: Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương...
26/09/2026

Án lệ 05/2016/AL về vụ án tranh chấp di sản thừa kế

- Tình huống pháp lý:

Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế.

- Giải pháp pháp lý:

Nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.

- Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” tại Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân với bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải (Cesar Trai Nguyen), chị Nguyễn Thị Thuý Phượng, bà Nguyễn Thị Bích Đào; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Xê, Nguyễn Chí Đạt (Danforth Chi Nguyen), Nguyễn Thuần Lý, Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Thị Thuý Loan, Phạm Thị Liên, Phạm Thị Vui, Trần Đức Thuận, Trần Thành Khang.

- Nội dung án lệ:

“Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có chị Phượng.

Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.”.

Address

231/233 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
70000

Telephone

+84363383438

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT 3S posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to LUẬT 3S:

Shortcuts

Share