LUẬT 3S

LUẬT 3S Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from LUẬT 3S, Lawyer & Law Firm, 231/233 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Ho Chi Minh City.

Dịch vụ Pháp lý & Dịch vụ Thuế | Hotline: 0363383438 | Thành lập Doanh nghiệp - Dịch vụ Kế toán Thuế - Đăng ký Nhãn hiệu - Hợp đồng - Luật sư tư vấn & tham gia tố tụng các lĩnh vực: Dân sự, Hình sự, Đất đai, Thừa kế, Hôn nhân gia đình ..

Tranh chấp hợp đồng dịch vụ: Vi phạm nghĩa vụ thanh toán kéo dài, liên tục; bị đơn vẫn sử dụng dịch vụ nên không được hư...
30/04/2026

Tranh chấp hợp đồng dịch vụ: Vi phạm nghĩa vụ thanh toán kéo dài, liên tục; bị đơn vẫn sử dụng dịch vụ nên không được hưởng lợi từ việc hết thời hiệu khởi kiện, Tòa án chấp nhận yêu cầu thanh toán toàn bộ

Bản án số 157/2026/KDTM-PT ngày 17/4/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”

- Tóm tắt nội dung vụ án

Công ty Cổ phần B là đơn vị quản lý hạ tầng trong cụm công nghiệp. Năm 2014, Công ty TNHH C1 có khu đất liền kề nhưng không có đường đi nên ký Hợp đồng đấu nối hạ tầng với Công ty B để sử dụng đường nội bộ và các dịch vụ liên quan đến hạ tầng kỹ thuật. Hai bên thỏa thuận Công ty C1 phải thanh toán phí quản lý hàng tháng, nếu chậm thanh toán phải chịu lãi và có thể bị phạt vi phạm.

Từ sau khi ký hợp đồng, Công ty B nhiều lần gửi thông báo thu phí quản lý nhưng Công ty C1 không thanh toán đầy đủ. Công ty B khởi kiện yêu cầu thanh toán phí quản lý, lãi chậm trả, phạt vi phạm và chấm dứt một phần hợp đồng. Công ty C1 cho rằng một số hạng mục hạ tầng chưa hoàn thiện, mức phí chưa hợp lý và đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng.

- Nhận định của Tòa án phúc thẩm

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn về thời hiệu khởi kiện, theo quy định tại Điều 319 Luật thương mại năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Trên bì thư gửi đơn khởi kiện của nguyên đơn, ngày chuyển phát thư của cơ quan bưu chính là ngày 27/8/2024. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào “Bảng tính tiền yêu cầu thanh toán phí quản lý và lãi suất Cosmos” của Công ty B để xác định thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn đối với các khoản phí yêu cầu thanh toán từ ngày 01/9/2017 đến ngày 27/8/2022 đã hết thời hiệu khởi kiện là phù hợp với cách tính thời hạn, thời hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kể từ ngày đến hạn thanh toán phí dịch vụ đầu tiên (ngày 31/12/2017) cho đến nay, Công ty C1 không thanh toán tiền phí dịch vụ cho Công ty B là vi phạm có tính liên tục, kéo dài, trong khi Công ty B vẫn duy trì việc cung cấp các dịch vụ theo Hợp đồng đấu nối bình thường. Do đó, vì lẽ công bằng Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc Công ty C1 được hưởng lợi do hết thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là không hợp lý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên cung cấp dịch vụ. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về thời hiệu khởi kiện.

- Phán quyết của Tòa án phúc thẩm

Chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B; sửa một phần bản án sơ thẩm.

Buộc Công ty TNHH C1 thanh toán cho Công ty Cổ phần B phí quản lý từ ngày 01/9/2017 đến ngày 31/7/2024 số tiền 634.812.967 đồng (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng), tiền lãi chậm trả 172.749.950 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng 34.914.714 đồng.

Tuyên đình chỉ thực hiện Hợp đồng đấu nối hạ tầng ngày 25/3/2014; Công ty TNHH C1 chỉ được sử dụng đường đi trong cụm để ra vào, Công ty Cổ phần B chấm dứt việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến môi trường, cấp thoát nước, xử lý chất thải và nước thải.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH C1 về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng.

30/04/2026

Mẫu đơn khiếu nại chấp hành viên chậm giải quyết việc thi hành án dân sự 👇

Khiếu kiện quyết định hành chính về thuế: Người sử dụng đất đã được cho ghi nợ tiền sử dụng đất và được cấp giấy chứng n...
30/04/2026

Khiếu kiện quyết định hành chính về thuế: Người sử dụng đất đã được cho ghi nợ tiền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận, cơ quan thuế không có căn cứ truy thu tiền chậm nộp do thay đổi mục đích sử dụng đất trước đó.

Bản án số 02/2024/HC-PT ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế, phạt tiền, buộc thi hành”

- Tóm tắt nội dung vụ án

Bà Nguyễn Thị M nộp hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất và xin ghi nợ tiền sử dụng đất đối với thửa đất tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20/12/2019, Ủy ban nhân dân quận T cho phép bà M chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở và ghi nợ tiền sử dụng đất với số tiền 3.478.967.550 đồng. Sau đó, bà M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định.

Đến năm 2021, Chi cục Thuế thành phố T ban hành Thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp, xác định bà M còn phải nộp tiền sử dụng đất và tiền chậm nộp phát sinh từ năm 2020 đến năm 2021. Bà M khởi kiện yêu cầu hủy các thông báo này. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện, bà M kháng cáo.

- Nhận định của Tòa án phúc thẩm

Xét ngay khi nộp hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất, bà M đã có đơn và được cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân quận T cho nợ tiền sử dụng đất, nghĩa vụ nộp tiền của bà M chỉ phát sinh khi người có thẩm quyền yêu cầu phải nộp tiền sử dụng đất.

Việc người bị kiện cho rằng trường hợp của bà M là trường hợp ghi nợ không đúng do không thuộc trường hợp được cho ghi nợ theo quy định tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP của Chính phủ là không có căn cứ. Do đó, người khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp số 09/TB07-CCT ngày 11/01/2021 và Thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp số 36/TB07-CCT ngày 20/4/2021 là có cơ sở nên được chấp nhận, do đó hội đồng xét xử cần phải sửa án sơ thẩm, hủy các thông báo nêu trên của Chi cục thuế T để tính lại cho đúng.

Cấp sơ thẩm nhận định và đình chỉ yêu cầu tuyên bà M không phải đóng số tiền chậm nộp 68.752.285 đồng là đúng pháp luật nên được giữ nguyên.

- Phán quyết của Tòa án phúc thẩm

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị M; sửa một phần bản án sơ thẩm.

Hủy Thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp số 09/TB07-CCT ngày 11/01/2021 và hủy Thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp số 36/TB07-CCT ngày 20/4/2021 của Chi cục Thuế thành phố T.

Buộc Chi cục Thuế thành phố T thực hiện nghĩa vụ công vụ, tính lại nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất đối với bà Nguyễn Thị M theo đúng quy định pháp luật.

Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu của bà M về việc hủy Quyết định thi hành pháp luật số 377.815.876 đồng tiền chậm nộp.

DỰ KIẾN KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỚI YÊU CẦU ĐÒI LẠI TÀI SẢN ĐẶT CỌCTòa án nhân dân Tối cao (TANDTC) đang xây d...
30/04/2026

DỰ KIẾN KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỚI YÊU CẦU ĐÒI LẠI TÀI SẢN ĐẶT CỌC

Tòa án nhân dân Tối cao (TANDTC) đang xây dựng dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc, trong đó đáng chú ý là việc làm rõ cách xác định thời hiệu khởi kiện đối với từng loại tranh chấp phát sinh từ quan hệ này.

Cụ thể, dự thảo Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về thời hiệu khởi kiện trong 3 trường hợp gồm:

- Thứ nhất, đối với tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, thời hiệu khởi kiện được xác định theo Điều 429 của Bộ luật Dân sự 2015, với thời hạn 3 năm kể từ thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

- Thứ hai, đối với yêu cầu tuyên bố giao dịch đặt cọc vô hiệu, thời hiệu khởi kiện là 2 năm theo Điều 132 của Bộ luật này.

- Thứ ba, đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ trong thỏa thuận đặt cọc, thời hiệu được áp dụng theo Điều 588 của Bộ luật Dân sự 2015, cũng là 3 năm kể từ thời điểm phát sinh quyền yêu cầu.

Đáng chú ý, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu trả lại tài sản đặt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.

Theo cơ quan soạn thảo, hiện tồn tại hai quan điểm khác nhau về vấn đề này.

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu. Trong trường hợp này, tài sản đặt cọc chỉ được “gửi tạm” cho bên nhận đặt cọc để bảo đảm cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng. Quyền sở hữu vẫn thuộc về bên đặt cọc, trừ khi xảy ra các điều kiện pháp lý làm chuyển giao quyền sở hữu theo quy định hoặc thỏa thuận. Do đó, yêu cầu đòi lại tài sản thuộc phạm vi bảo vệ quyền sở hữu và không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện.

- Quan điểm thứ hai lại nhìn nhận đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, do đó cần áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 của Bộ luật Dân sự 2015, tức là 3 năm kể từ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Cơ quan soạn thảo cho rằng không phải trong mọi trường hợp hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện thì bên đặt cọc đương nhiên có quyền đòi lại tài sản. Việc giải quyết tranh chấp cần dựa trên đánh giá toàn diện các điều khoản hợp đồng, chứng cứ và mức độ lỗi của các bên liên quan. Quyền sở hữu đối với tài sản đặt cọc không phải là quyền “tuyệt đối”, do đó cần được xem xét trong mối quan hệ với nghĩa vụ hợp đồng và các điều kiện pháp lý cụ thể.

Hiện tại, TANDTC đang dự thảo theo phương án thứ nhất, tức không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc.

Theo Tạp chí Luật sư

NHỮNG LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI NHỜ NGƯỜI KHÁC ĐỨNG TÊN GIÙM NHÀ ĐẤTViệc nhờ người đứng tên giùm tài sản (đặc biệt là bất độn...
30/04/2026

NHỮNG LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI NHỜ NGƯỜI KHÁC ĐỨNG TÊN GIÙM NHÀ ĐẤT

Việc nhờ người đứng tên giùm tài sản (đặc biệt là bất động sản) là một giao dịch tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và đạo đức. Thực tế đã có nhiều trường hợp phát sinh tranh chấp phức tạp từ việc nhờ đứng tên giùm.

Chẳng hạn như vợ chồng ông B nhờ vợ chồng ông Đ đứng tên giùm mảnh đất nông nghiệp hơn 7.000 m². Sau đó, vợ chồng ông B cho vợ chồng ông Đ mượn đất này để canh tác; có làm giấy mượn đất.

Sau đó, vợ chồng ông B phải đi kiện đòi đất vì phát hiện vợ chồng ông Đ đã sang tên toàn bộ diện tích đất cho hai người con. Xử phúc thẩm ngày 18-5-2020, toà đã tuyên buộc gia đình ông Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả giá trị quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông B.

Những trường hợp như nêu trên không phải hiếm. Vì nhiều lý do, như ngại thủ tục hành chính hoặc không đủ điều kiện đứng tên lúc đó mà nhiều người chọn cách nhờ người khác đứng tên cho nhanh.

RỦI RO PHÁP LÝ KHI NHỜ ĐỨNG TÊN GIÙM TÀI SẢN

Theo Luật Đất đai, người đứng tên trên giấy chứng nhận có các quyền như chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp hoặc để lại thừa kế. Khi đó, người nhờ đứng tên đối mặt với nhiều rủi ro lớn.

Nếu người được nhờ có ý định chiếm đoạt, họ có thể phủ nhận việc đứng tên hộ. Lúc này, chủ sở hữu thực sự buộc phải nhờ cơ quan có thẩm quyền can thiệp để đòi lại tài sản. Trường hợp tài sản đã được chuyển nhượng cho bên thứ ba ngay tình và người bán đã sử dụng hết số tiền này thì việc đòi lại tài sản sẽ gặp nhiều khó khăn.

Nếu người đứng tên giùm qua đời, tài sản đó trở thành di sản thừa kế. Tranh chấp rất dễ xảy ra nếu người thừa kế không thừa nhận hoặc không biết về việc đứng tên giùm này.

Một rủi ro khác là nếu người đứng tên giùm có nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba, quyền sử dụng đất và nhà ở có thể bị kê biên để thi hành án. Người nhờ đứng tên sẽ không được đảm bảo quyền lợi, thậm chí "mất trắng" nếu không có chứng cứ chứng minh.

"Người dân nên cân nhắc kỹ trước khi nhờ hoặc đứng tên giùm tài sản. Nếu có phương án khác, hãy ưu tiên lựa chọn để hạn chế rủi ro cho cả hai bên.

Ví dụ, lúc trước người Việt Nam ở nước ngoài thường hay chọn cách gửi tiền về nhờ người thân mua nhà và đứng tên giùm, không ít trường hợp trần ai vẫn không đòi lại được. Hiện nay, pháp luật đã nới lỏng quy định liên quan đến việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Do đó thay vì phải nhờ người thân đứng tên giùm khi mua nhà thì kiều bào nên tìm hiểu thủ tục để có thể tự mình đứng tên nhà hợp pháp"

CÁCH HẠN CHẾ RỦI RO KHI NHỜ ĐỨNG TÊN

Lựa chọn người thực sự đáng tin cậy và trao đổi thẳng thắn các tình huống có thể xảy ra để chuẩn bị phương án giải quyết. Việc nhờ đứng tên nên lập thành hợp đồng và có người làm chứng. Người làm chứng nên là người khách quan, không có quan hệ họ hàng hay lợi ích liên quan đến các bên. Các thông tin cá nhân của người làm chứng cần được ghi đầy đủ để xác minh khi cần thiết.

Các bên có thể lập vi bằng ghi nhận việc ký kết hợp đồng nhờ đứng tên. Quá trình này nên được chụp ảnh, ghi âm hoặc ghi hình công khai để làm căn cứ pháp lý sau này. Nếu nhờ người đã kết hôn, hợp đồng phải có sự tham gia và ký kết của cả hai vợ chồng.

Về giao dịch tài chính, người nhờ đứng tên nên chuyển khoản trực tiếp cho người bán và ghi rõ nội dung mình là người mua. Nếu chuyển tiền qua người đứng tên giùm, nội dung chuyển khoản cần ghi rõ là tiền nhờ mua và đứng tên giùm tại địa chỉ cụ thể, đồng thời lưu giữ mọi chứng từ, sao kê.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận, hai bên nên lập biên bản bàn giao để người nhờ đứng tên giữ bản chính. Nếu người đứng tên giùm trực tiếp sử dụng bất động sản, cần lập hợp đồng cho thuê hoặc cho ở nhờ. Khi đủ điều kiện, chủ sở hữu thực sự nên thực hiện ngay thủ tục sang tên theo quy định.

VƯỚNG TÙ TỘI VÌ ĐỨNG TÊN GIÙM NHƯNG KHÔNG TRẢ

Năm 2002, ông T và vợ là bà Q mua 5 lô đất dự án. Do không tiện đứng tên vào thời điểm mua nên ông T nhờ ông N đứng tên giùm. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, ông N đã giao lại toàn bộ giấy tờ cho vợ chồng ông T.

Năm 2015, ông T mất. Ông N trả lại giấy tờ đất cho gia đình ông T nhưng đòi phải cho mình hơn 2 lô đất mới đồng ý làm thủ tục sang tên. Tuy nhiên bà Q từ chối. Sau đó, vợ chồng ông N báo mất giấy tờ đối với 2 lô đất và được cấp lại giấy chứng nhận. Họ bán đi để lấy tiền tiêu xài.

Khi ông N tiếp tục báo mất để chiếm đoạt 3 lô còn lại, bà Q phát hiện và tố cáo. Kết quả, ông N bị tuyên phạt 14 năm tù, vợ ông lãnh 3 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Theo Báo pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh

29/04/2026

Khiếu kiện quyết định hành chính về thuế: Người sử dụng đất đã được cho ghi nợ tiền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận, cơ quan thuế không có căn cứ truy thu tiền chậm nộp do thay đổi mục đích sử dụng đất trước đó.

Xem chi tiết bản án:
https://drive.google.com/file/d/15t_53PO_WsvmshOxRM3JX2uLAph69tvX/view?usp=sharing

Trốn thuế trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Các bên ghi giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để giảm nghĩa vụ thuế. T...
29/04/2026

Trốn thuế trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Các bên ghi giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để giảm nghĩa vụ thuế. Tòa tuyên 01 năm 02 tháng tù nhưng cho hưởng án treo

Bản án số 191/2026/HS-PT ngày 27/3/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tội “Trốn thuế”

- Tóm tắt nội dung vụ án

Bị cáo Nguyễn Thị Phương H nhận chuyển nhượng thửa đất diện tích 95.463,8m² tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) với giá thực tế 18 tỷ đồng. Khi lập hợp đồng công chứng ngày 19/6/2019, giá chuyển nhượng chỉ ghi 5 tỷ đồng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bị cáo H là người chịu trách nhiệm nộp toàn bộ thuế, phí, lệ phí.

Sau khi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị cáo H tiếp tục chuyển nhượng thửa đất này cho Võ Đức Q1 với giá thực tế 18 tỷ đồng nhưng hợp đồng công chứng ngày 04/11/2019 chỉ ghi 3 tỷ đồng. Cơ quan giám định xác định việc kê khai giá thấp hơn thực tế làm giảm số tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ phải nộp.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên các bị cáo Nguyễn Thị Phương H, Trần Thanh T và Võ Đức Q1 phạm tội “Trốn thuế”. Bị cáo H và T kháng cáo.

- Nhận định của Tòa án phúc thẩm

Tòa án xác định có đủ căn cứ chứng minh giá trị chuyển nhượng thực tế của các giao dịch là 18 tỷ đồng, nhưng các bị cáo đã thống nhất ghi giá thấp hơn trong hợp đồng công chứng để kê khai thuế.
Đối với giao dịch ngày 19/6/2019, bị cáo Trần Thanh T biết rõ giá thực tế nhưng vẫn ký hợp đồng ghi giá 5 tỷ đồng, tạo điều kiện để bị cáo H thực hiện hành vi trốn thuế, nên phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm giúp sức.

Đối với bị cáo H, ngoài hành vi trực tiếp trốn thuế ở giao dịch thứ nhất, bị cáo còn tham gia ghi giá chuyển nhượng 3 tỷ đồng trong giao dịch bán lại cho Võ Đức Q1 nhằm giúp sức cho người mua trốn thuế.

Bị cáo T không đưa ra được chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Riêng bị cáo H tại cấp phúc thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục một phần hậu quả, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên được xem xét cho hưởng án treo.

- Phán quyết của Tòa án phúc thẩm

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Phương H; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương H 01 năm 02 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 04 tháng về tội “Trốn thuế”.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T; giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Trần Thanh T số tiền 150.000.000 đồng về tội “Trốn thuế”.

𝐂𝐇À𝐎 𝐌Ừ𝐍𝐆 ĐẠ𝐈 𝐋Ễ 𝟑𝟎/𝟎𝟒 𝐕À 𝟎𝟏/𝟎𝟓𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 𝟑𝐒 trân trọng thông báo 𝐂𝐇ƯƠ𝐍𝐆 𝐓𝐑Ì𝐍𝐇 Ư𝐔 ĐÃ𝐈 ĐẶ𝐂 𝐁𝐈Ệ𝐓 mừng đại lễ 30/04 và 01/05 nh...
29/04/2026

𝐂𝐇À𝐎 𝐌Ừ𝐍𝐆 ĐẠ𝐈 𝐋Ễ 𝟑𝟎/𝟎𝟒 𝐕À 𝟎𝟏/𝟎𝟓

𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 𝟑𝐒 trân trọng thông báo 𝐂𝐇ƯƠ𝐍𝐆 𝐓𝐑Ì𝐍𝐇 Ư𝐔 ĐÃ𝐈 ĐẶ𝐂 𝐁𝐈Ệ𝐓 mừng đại lễ 30/04 và 01/05 như sau:

Link đăng ký chương trình ưu đãi:
https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLScu_llqFQjlwxXfU5uXoU9ciUGK1pW6W157wchOkznT35Iw2g/viewform?usp=sharing

Điều kiện nhận ưu đãi: Nhấn Like và Follow Kênh Fanpage chính thức của 3S:
https://www.facebook.com/share/18QtuhsD6t/?mibextid=wwXIfr

Thời gian áp dụng: Từ ngày 30/04/2026 đến hết ngày 03/05/2026

Nhiều Dịch vụ pháp lý quan trọng cho cá nhân và doanh nghiệp được ưu đãi giảm từ 20% - 50%. Số lượng suất ưu đãi có giới hạn, mọi người tranh thủ đăng ký nhé.

___________________________
𝐋𝐔𝐀̣̂𝐓 𝟑𝐒 | 𝗡𝗼 𝗺𝗼𝗿𝗲 𝗟𝗲𝗴𝗮𝗹 𝗪𝗼𝗿𝗿𝗶𝗲
Dịch vụ Luật sư & Kế toán Thuế
𝗛𝗼𝘁𝗹𝗶𝗻𝗲: 0363383438 (Call/Zalo)
𝗘𝗺𝗮𝗶𝗹: [email protected]
𝗪𝗲𝗯: http://luat3s.com/
Fanpage: https://www.facebook.com/share/1DmYNisWsu/?mibextid=wwXIfr

Một số Dịch vụ trọng tâm:
✅ Thành lập Doanh nghiệp, Hộ kinh doanh (toàn quốc), Thay đổi Giấy phép kinh doanh…
✅ Thành lập Công ty có vốn đầu tư nước ngoài; Giấy phép đầu tư; xin cấp Visa; Thẻ Tạm trú; Thẻ thường trú; Giấy phép lao động cho Người nước ngoài …
✅ Dịch vụ Kế toán Thuế (toàn quốc)
✅ Dịch vụ xin Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh các loại; Đại diện ngoài tố tụng
✅ Tư vấn, soạn thảo, soát xét Hợp đồng và Đơn từ các loại
✅ Đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu; Bản quyền tác giả; Sáng chế ...
✅ Dịch vụ tư vấn luật thường xuyên cho Doanh nghiệp và Cá nhân
✅ Luật sư tư vấn, đại diện, tham gia tố tụng (bảo vệ quyền & lợi ích hợp pháp; Bào chữa) tại Toà án các cấp
✅ Dịch vụ đào tạo Pháp lý
✅ Và nhiều Dịch vụ pháp lý khác ....

📍 Luật 3S - Luật sư Riêng của bạn | Giúp các Doanh nghiệp và Cá nhân chủ động Phòng ngừa rủi ro pháp lý ngay từ đầu | Người Quản lý rủi ro & bảo vệ Tài sản, Thời gian, sự Bình an và Tự do của bạn.









1 VỤ ÁN "BÁN ĐẤT KHÔNG BÁN NHÀ" CẦN ĐƯỢC XEM XÉT LẠIQuyền sở hữu nhà ở thường gắn liền với quyền sử dụng đất ở, bởi nếu ...
29/04/2026

1 VỤ ÁN "BÁN ĐẤT KHÔNG BÁN NHÀ" CẦN ĐƯỢC XEM XÉT LẠI

Quyền sở hữu nhà ở thường gắn liền với quyền sử dụng đất ở, bởi nếu không có đất sao có thể cất nhà. Dù vậy, hoạt động chuyển nhượng trên thực tế lại phát sinh nhiều tranh chấp, xuất phát từ chuyện chỉ bán đất chứ không bán nhà. Vụ tranh chấp nhà đất ở tỉnh Tây Ninh của bà M.T.T.Th và ông N.V.T mà TAND Tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử bằng Bản án phúc thẩm số 49/2025/HNGĐ-PT là một ví dụ.

THOẢ THUẬN BÁN CẢ NHÀ, HỢP ĐỒNG CHỈ BÁN ĐẤT

Theo hồ sơ vụ án, bà Th và ông T chung sống với nhau từ năm 1998, không đăng ký kết hôn, có một con chung (sau đó có Quyết định của toà không công nhận quan hệ hôn nhân).

Trong quá trình chung sống, có tồn tại tài sản là nhà, đất tại phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Đáng chú ý, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) cấp ngày 25-1-2002 chỉ mình ông T đứng tên; còn GCN quyền sở hữu nhà cấp ngày 21-2-2002 thì đứng tên cả hai người. Từ đây, rắc rối phát sinh.

Theo lời khai của bà Th, sau khi không còn chung sống với nhau, ông T không ở nhà đất nêu trên nữa, nhà đất bà cho chị V thuê...

Năm 2024, ông T đã đăng ký biến động và được cấp sổ mới (chỉ ghi nhận phần đất). Sau đó, tháng 11-2024, ông tự ý chuyển nhượng cho chị L, hiện chị L đứng tên trên sổ.

Không đồng ý, bà Th khởi kiện, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T và chị L vô hiệu và yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất nói trên; bà yêu cầu được nhận nhà đất...

Về phía bị đơn, ông T xác nhận nhà đất tranh chấp là tài sản chung. Ông cũng trình bày: ông ký chuyển nhượng QSDĐ cùng căn nhà với giá 2,5 tỉ đồng. Ông đã nhận đủ tiền nhưng chưa thể bàn giao nhà đất vì nhiều lần yêu cầu chị V (người thuê nhà) rời đi nhưng không thành...

Đáng chú ý, chị L cũng trình bày tương tự, hai bên ký chuyển nhượng nhà và đất, giá 2,5 tỉ đồng nhưng trên hợp đồng chỉ ghi 1,5 tỉ để giảm bớt tiền nộp thuế. Trước khi ký hợp đồng, chị đã đến nhà đất để kiểm tra trước, đồng thời yêu cầu cán bộ địa chính đến thực hiện việc đo đạc.

Trong vụ án này, hợp đồng ký kết giữa ông T và chị L là Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (tức chỉ bán đất, không bao gồm nhà). Phía văn phòng công chứng (VPCC) cho rằng tại thời điểm ký công chứng, QSDĐ đủ điều kiện chuyển nhượng, các bên tự nguyện,... việc công chứng là đúng trình tự, quy định pháp luật.

Xử sơ thẩm, toà tuyên ông T được nhận đất và nhà, trả cho bà Th 50% giá trị tổng tài sản chung. Toà buộc ông T và chị V phải giao nhà và đất cho chị L.

SAU ĐÓ CẢ ÔNG T VÀ BÀ TH KHÁNG CÁO.

Theo HĐXX phúc thẩm, khi ông T chuyển nhượng đất cho chị L thì chỉ cung cấp cho chị này và VPCC giấy độc thân và GCN QSDĐ (không cung cấp giấy sở hữu nhà) nên cả hai bên không biết việc có tồn tại GCN quyền sở hữu nhà. Chị L nhận chuyển nhượng ngay tình, công khai nên việc toà án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng là có cơ sở.

Cấp phúc thẩm xét đến công sức của bà Th nên tuyên bà Th được hưởng 60% giá trị tài sản bằng tiền. Hiện vật là nhà và đất giao cho ông T. Đồng thời, tuyên ông T và chị V phải giao đất cho chị L, với tình trạng nhà và đất như đã tuyên giao cho ông T.

CẦN LÀM RÕ TẠI SAO CẤP ĐỔI SỔ LẠI 'BỎ QUÊN" CĂN NHÀ

Thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp tài sản chung thường xuyên phải đối mặt với hệ quả của sự thiếu đồng bộ trong hệ thống đăng ký đất đai và nhà ở giai đoạn trước năm 2009.

Bản án của TAND tỉnh Tây Ninh nêu trên là một minh chứng điển hình cho sự xung đột giữa "hồ sơ pháp lý hình thức" và "thực trạng tài sản vật chất".

"Việc Tòa án và VPCC bỏ qua việc làm rõ sự không trùng khớp giữa đối tượng giao dịch trên giấy (chỉ có đất) và thực tế (có nhà kiên cố do đồng sở hữu khác đứng tên) đã tạo ra một tiền lệ rủi ro cho sự an toàn pháp lý trong giao dịch bất động sản”.

Một trong những thiếu sót của quá trình giải quyết vụ án của hai cấp toà là Tòa án đã không làm rõ bản chất và giá trị pháp lý của các GCN cùng tồn tại trên một thửa đất.

"Đáng lẽ ra, Tòa án cần thiết gửi công văn xác minh đến Cơ quan có thẩm quyền cấp GCN (Sở TN&MT hoặc UBND cấp huyện/Chi nhánh VPĐKĐĐ) tham gia tố tụng để làm rõ câu hỏi: Tại sao năm 2024, khi cấp đổi GCN mới cho ông T, cơ quan đăng ký lại không cập nhật thông tin về căn nhà đã được cấp GCN mang tên hai người?”.

Cũng theo ông, hành vi của ông T đi xin cấp đổi GCN vào tháng 10-2024 (ngay trước khi bán cho chị L vào tháng 11-2024) có khả năng biến một tài sản có nhà chung thành một miếng đất trống mang tên riêng. Việc Tòa án chưa xem xét sự tồn tại hợp pháp và đang có hiệu lực của GCN Sở hữu nhà năm 2002 mang tên bà Th mà chỉ căn cứ vào “Sổ hồng” mới cấp năm 2024 để công nhận giao dịch là một sự thiếu sót, đã vô tình “bỏ qua” quyền sở hữu tài sản (nhà ở) của bà Th.

NGƯỜI MUA CÓ THỰC SỰ NGAY TÌNH?

Điểm gây băn khoăn lớn nhất và cũng là căn cứ để Tòa Phúc thẩm giữ nguyên giao dịch chuyển nhượng giữa ông T và chị L là việc Tòa nhận định chị L là "người thứ ba ngay tình". Bản án nhận định: "Do ông T chỉ cung cấp cho chị L cũng như VPCC giấy độc thân và giấy chứng nhận QSDĐ, chị L... không biết việc có tồn tại GCN quyền sở hữu nhà. Chị L thực hiện việc nhận chuyển nhượng đất ngay tình, công khai...".

Tuy nhiên, lập luận này của Tòa án (dựa trên Điều 133 BLDS 2015) tồn tại sự mâu thuẫn nội tại.

Thứ nhất, thiếu sự "ngay tình" về mặt chiếm hữu thực tế. Bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS đặt nền tảng trên "niềm tin vào sự đăng ký công khai của nhà nước". Theo chính lời khai của chị L, chị đã đến kiểm tra nhà đất thực tế, nhờ người đo đạc. Nghĩa là chị L nhận thức rất rõ trên đất có một căn nhà và đang có người thứ ba chiếm hữu, quản lý. Một người mua thận trọng khi thấy tài sản đang bị chiếm hữu bởi người không phải là chủ đất và thấy trên đất có nhà nhưng GCN năm 2024 ghi "không có nhà", thì theo logic thông thường phải nghi ngờ và yêu cầu làm rõ nguồn gốc tài sản.

Thứ hai, sự mâu thuẫn trong việc giải quyết đối tượng của Hợp đồng. Tòa án lập luận rằng giao dịch của chị L là hợp pháp vì trên GCN chỉ có đất. Nghĩa là hợp đồng công chứng giữa ông T và chị L về mặt pháp lý chỉ làm phát sinh quyền đối với QSDĐ. Thế nhưng, tại phần Quyết định, Tòa án lại buộc các đương sự giao cho chị L cả nhà và đất.

"Hợp đồng chuyển nhượng lập tại VPCC không thể và không có thẩm quyền chuyển dịch quyền sở hữu đối với một tài sản (căn nhà) không được ghi nhận trong GCN đem ra giao dịch. Tòa án không thể dùng một bản án để “định đọat” căn nhà hợp pháp của bà Th (đã được cấp GCN năm 2002) cho chị L dựa trên một hợp đồng mua bán mà đối tượng theo giấy tờ chỉ là đất trống".

CẦN XEM XÉT LẠI BẢN ÁN ĐỂ KHẮC PHỤC THIẾU SÓT

Về mặt nguyên tắc, CCV khi tiếp nhận hồ sơ phải căn cứ vào Khoản 1 Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng 2014 (Luật áp dụng tại thời điểm ông T chuyển nhượng đất) để kiểm tra tính hợp pháp của đối tượng giao dịch. Việc VPCC chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng này bộc lộ những điểm bất cập nghiêm trọng sau:

Hợp đồng công chứng chỉ ghi nhận chuyển nhượng QSDĐ, VPCC đã bỏ lọt rủi ro khi các bên cố tình giao dịch một khối tài sản vật chất lớn hơn nhiều so với hồ sơ pháp lý. CCV có quyền và nghĩa vụ đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ, hoặc tiến hành xác minh thực tế khi có căn cứ cho thấy hồ sơ có vấn đề (Khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng 2014).

Việc VPCC giải trình rằng giao dịch "đủ điều kiện chuyển nhượng", cá nhân tôi cho rằng đây là sự an toàn về mặt hình thức (chỉ xét trên sổ hồng 2024), nhưng lại thiếu trách nhiệm nghề nghiệp khi bỏ qua thực trạng tài sản.

Thứ hai, việc VPCC không có cơ chế (hoặc không thực hiện) tra cứu thông tin về tài sản gắn liền với đất đã tạo điều kiện cho ông T dùng một GCN "phiên bản thiếu" (chỉ cập nhật đất) để tước đoạt quyền sở hữu nhà của bà Th thông qua một giao dịch hợp pháp hóa bằng công chứng.

Dưới góc nhìn chuyên môn, cùng với những phân tích ở trên, tôi cho rằng Bản án phúc thẩm số 49/2025/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Tây Ninh có những thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật nội dung (Điều 133 BLDS) và chưa đánh giá toàn diện chứng cứ (sự tồn tại của GCN nhà ở cấp năm 2002).

Tóm lại, để bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật và quyền tài sản hợp pháp của công dân, Tòa án không thể xử lý các vụ án tranh chấp bất động sản chỉ bằng cách nhìn vào "phần ngọn" là hợp đồng công chứng và tờ Sổ hồng mới nhất, mà phải lật lại toàn bộ hồ sơ đánh giá lịch sử và có sự đối chiếu giữa giấy tờ pháp lý với thực tiễn hiện trạng tài sản. Việc chưa kịp thời xem xét tồn tại căn nhà hiện hữu trên đất để công nhận tính "ngay tình" cho một giao dịch chuyển nhượng QSDĐ là một thiếu sót cần được khắc phục kịp thời, bằng việc xem xét lại bản án.

Theo Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

XÂY NHẦM NHÀ TRÊN ĐẤT NGƯỜI KHÁC, THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THI HÀNH: CÓ THỂ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰĐiều 17 Luật Tổ chức TAND ...
29/04/2026

XÂY NHẦM NHÀ TRÊN ĐẤT NGƯỜI KHÁC, THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THI HÀNH: CÓ THỂ BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ

Điều 17 Luật Tổ chức TAND năm 2024 quy định bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành, phải được bảo đảm thi hành theo quy định của pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan không thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi thắng kiện và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì bên thắng cần nhanh chóng nộp đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Sau khi có Quyết định thi hành án thì bên phải thi hành án có nghĩa vụ chấp hành việc thi hành, trường hợp cố tình không chấp hành có thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 64 Nghị định 82/2020.

Cụ thể, phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định; không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định; trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án…

Trường hợp có điều kiện mà cố tình không chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cụ thể, theo Điều 380 BLHS về tội không chấp hành án với khung hình phạt cao nhất lên đến 5 năm tù. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 - 50 triệu đồng.

Theo Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Address

231/233 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
70000

Telephone

+84363383438

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT 3S posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to LUẬT 3S:

Share