Luật Tân Cảng

Luật Tân Cảng Lĩnh vực hoạt động: Tư vấn pháp luật
Hotline: 0965921058
Trụ sở: Số 85, đường 13, Khu đô thị Vạn Phúc, Tp Hồ Chí Minh

Mỗi người dân đến với Luật sư đều mang theo những nỗi lo liên quan đến pháp luật nhưng chưa hiểu cần phải làm gì để được...
12/08/2026

Mỗi người dân đến với Luật sư đều mang theo những nỗi lo liên quan đến pháp luật nhưng chưa hiểu cần phải làm gì để được pháp luật bảo vệ. Luật sư chính là người gánh vác trách nhiệm khi người dân gửi gắm niềm tin và hi vọng khi nhận giải quyết vụ việc.

VIỆT NAM CHÍNH THỨC GHI NHẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ƯỚC TÍNH Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 phát sinh hiệu lực từ 1/7/2...
12/08/2026

VIỆT NAM CHÍNH THỨC GHI NHẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ƯỚC TÍNH

Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 phát sinh hiệu lực từ 1/7/2026 vừa chính thức công nhận cơ chế bồi thường thiệt hại ước tính. Đây chính là điểm mới so với hệ thống pháp luật Việt Nam trước đây. Chính vì thế, chế định này vẫn còn khá mới mẻ đối với đại đa số người dân. Trong bài viết này, Công ty Luật Tân Cảng sẽ phân tích những điểm đáng lưu ý về chế định bồi thường thiệt hại ước tính.

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ƯỚC TÍNH LÀ GÌ?

Thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính được áp dụng tương đối phổ biến tại các quốc gia theo hệ thống thông luật trên thế giới và được ghi nhận tại các hiệp định thương mại quốc tế như Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC), Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG). Trong đó, Điều 74 CISG quy định: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết”.

Theo đó, Công ước Viên cho phép các bên trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế được dự liệu về những tổn thất mà họ có thể phải gánh chịu, cũng như ước tính về “khoản tiền bồi thường thiệt hại” có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, miễn là khoản tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu.

Trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế của Việt Nam, thỏa thuận “bồi thường thiệt hại ước tính” (liquidated damages) ngày càng xuất hiện nhiều ở các hợp đồng được ký kết giữa bên tham gia hợp đồng tại Việt Nam và các đối tác nước ngoài, nhằm xử lý các vi phạm hợp đồng và/hoặc để phân bố rủi ro theo ý định thương mại giữa các bên. Theo đó, các bên thỏa thuận một số tiền bồi thường mà một bên có thể nhận được đối với những thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia. Khi sự cố xảy ra, ví dụ chậm tiến độ, cơ chế này kích hoạt gần như tự động, không cần chứng minh thiệt hại thực tế nữa.

Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về chế định bồi thường thiệt hại ước tính. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
🏢Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
📍Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
📞Điện thoại: 0965 921 058
📩Email: [email protected]
📰Website: luattancang.com

ĐẦY ĐỦ CHỨNG CỨ NHƯNG VẪN THUA KIỆN?❓Câu hỏi của người dân: Tôi và hàng xóm có phát sinh tranh chấp từ quan hệ cho vay m...
11/08/2026

ĐẦY ĐỦ CHỨNG CỨ NHƯNG VẪN THUA KIỆN?

❓Câu hỏi của người dân: Tôi và hàng xóm có phát sinh tranh chấp từ quan hệ cho vay mượn tiền. Tôi đã nộp đơn khởi kiện kèm theo các hình ảnh chuyển khoản số tiền cho vay và nghĩ chắc chắn sẽ đòi được số tiền gốc này. Tuy nhiên, phiên tòa sơ thẩm diễn ra với sự ngỡ ngàng khi Tòa tuyên bố không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của tôi. Tôi muốn biết lý do vì sao?

📍Luật sư tư vấn:
Trong vô số các vụ án dân sự, đất đai hay kinh doanh thương mại, không ít người đi kiện bước vào phòng xử án với tâm thế vô cùng tự tin, nắm chắc 100% thắng kiện vì trong tay có đầy đủ hợp đồng, giấy vay tiền, tin nhắn, video ghi âm và cả người làm chứng.

Thế nhưng, đến ngày tuyên án, họ sụp đổ hoàn toàn khi nghe Hội đồng xét xử tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện, hoặc tuyên họ thua kiện. Họ uất ức, gào khóc cho rằng Tòa án xử ép, không công bằng. Nhưng khi lật lại hồ sơ dưới góc độ kỹ thuật tố tụng, nguyên nhân thất bại lại xuất phát từ những sai lầm pháp lý cực kỳ vô lý mà chính họ đã vô tình vướng phải.

Có chứng cứ trong tay chỉ mới là nguyên liệu. Việc biến nguyên liệu đó thành một chiến thắng pháp lý lại phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ năng tố tụng. Dưới đây là những lý do bất ngờ khiến bạn dù có đầy đủ chứng cứ nhưng vẫn bị tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

✅CHỨNG CỨ ĐẦY ĐỦ NHƯNG KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ
Điều này có nghĩa là đương sự đã thu thập các tài liệu, chứng cứ sai quy định. Cụ thể, theo quy định tại Điều 93, 94, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, một tài liệu chỉ được coi là “Chứng cứ” nếu nó thỏa mãn đồng thời 03 thuộc tính:

- Tính khách quan: Tài liệu, chứng cứ phải phản ánh đúng sự thật khách quan, không bị biến dạng, làm giả hay hư cấu.

- Tính liên quan: Tài liệu, chứng cứ phải có mối quan hệ logic, trực tiếp hoặc gián tiếp với các tình tiết cần chứng minh trong vụ án.

- Tính hợp pháp: Tài liệu, chứng cứ phải được thu thập, giao nộp theo đúng trình tự, thủ tục mà BLTTSDS quy định và từ những nguồn do luật định.

Ví dụ: Bạn có file ghi âm đối phương thừa nhận nợ, nhưng file đó được ghi âm lén và không chứng minh được nguồn gốc; bạn có hợp đồng mua bán đất nhưng chỉ là bản photocopy không công chứng/chứng thực và không có bản gốc để đối đối soát; bạn có tin nhắn Zalo nhưng không thực hiện thủ tục Lập vi bằng bởi Thừa phát lại..Tòa án buộc phải loại bỏ toàn bộ các tài liệu này ra khỏi hồ sơ vụ án vì chúng vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ. Dù sự thật là đối phương có nợ, nhưng về mặt pháp lý, bạn trở thành người “không có chứng cứ”.

✅VI PHẠM “NGHĨA VỤ GIAO NỘP CHỨNG CỨ” ĐÚNG THỜI HẠN

Rất nhiều người đi kiện giữ tâm lý “giấu bài”, muốn đợi đến phiên tòa xét xử mới giở các chứng cứ quan trọng ra để làm đối phương bất ngờ.

Tuy nhiên, BLTTDS quy định rất rõ về thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ tại khoản 4 Điều 96 như sau: “Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Nếu bạn cố tình giấu chứng cứ và chỉ giao nộp tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng, Hội đồng xét xử có quyền không chấp nhận tài liệu đó.

Chính vì thế, bạn đọc cần nắm rõ những quy định này để tránh những trường hợp dù có trong tay những chứng cứ cụ thể nhưng vẫn không thể dành phần thắng trong tranh chấp. Trong trường hợp trên, mặc dù hình ảnh chuyển khoản vẫn có thể vẫn có thể trở thành tài liệu, chứng cứ nhưng điều kiện đủ là phải hợp pháp hóa số hình ảnh đó. Tức là bạn đọc cần phải tiến hành Lập vi bằng để biến những hình ảnh này trở thành nguồn tài liệu chứng cứ có giá trị pháp lý. Thay vào đó, việc chuyển tiền cho vay có thể được chứng minh qua sao kê ngân hàng hợp pháp.

📍Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của đương sự. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
🏢Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
📍Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
📞Điện thoại: 0965 921 058
📩Email: [email protected]
📰Website: luattancang.com

VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH CÓ MẤT QUYỀN NUÔI CON KHÔNG?❓Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng kết hôn năm 2016, có hai con c...
10/08/2026

VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH CÓ MẤT QUYỀN NUÔI CON KHÔNG?

❓Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng kết hôn năm 2016, có hai con chung, bé lớn 7 tuổi, bé nhỏ 3 tuổi. Tôi tình cờ phát hiện chồng có quan hệ tình cảm với đồng nghiệp đến nay khoảng 8 tháng. Tôi có ảnh thân mật, hình ảnh tin nhắn chồng tôi với người phụ nữ kia. Hiện nay tôi muốn ly hôn. Vậy tôi có được quyền trực tiếp nuôi con không? Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn như thế nào?

📍Luật sư tư vấn:
Một trong những quan điểm sai lầm phổ biến trong các vụ án ly hôn là người dân cho rằng chỉ cần chứng minh được một bên ngoại tình thì bên đó đương nhiên sẽ mất quyền nuôi con. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không tiếp cận vấn đề theo hướng “xử phạt người có lỗi” mà đặt quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em làm trung tâm của mọi quyết định.

✅VỀ NGUYÊN TẮC: QUYỀN LỢI CỦA CON LÀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH, KHÔNG PHẢI “LỖI’ TRONG HÔN NHÂN
Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Luật HNGĐ 2014): Sau khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con; nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng con là hai phạm trù pháp lý độc lập. Vi phạm nghĩa vụ chung thủy là căn cứ để xem xét yếu tố lỗi khi phân chia tài sản chung, nhưng không đương nhiên đồng nghĩa với việc người đó không đủ tư cách nuôi dạy con. Tòa án chỉ coi hành vi ngoại tình là yếu tố bất lợi khi bên còn lại chứng minh được hậu quả cụ thể của hành vi đó đến việc chăm sóc, giáo dục hoặc môi trường sống của con.

✅03 MỐC TUỔI QUYẾT ĐỊNH CÁCH TÒA ÁN XÉT QUYỀN NUÔI CON

Trường hợp 1: Con dưới 36 tháng tuổi
Theo khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 quy định: Con dưới 36 tháng tuổi được ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con, hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trường hợp 2: Con từ 3 đến dưới 7 tuổi
Ở giai đoạn này, quyền nuôi con giữa cha và mẹ là ngang nhau về nguyên tắc. Tòa án sẽ giao con cho bên có điều kiện tốt hơn để đảm bảo quyền lợi toàn diện của con, dựa trên các tiêu chí được hướng dẫn cụ thể tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP:
- Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (thu nhập, chỗ ở, thời gian dành cho con);
- Mức độ gắn bó tình cảm giữa con với từng bên cha, mẹ;
- Tính ổn định của môi trường sống (trường học, bạn bè, nơi ở quen thuộc);
- Sự quan tâm, chăm lo thực tế của mỗi bên trong quá trình chung sống trước đó.

Trường hợp 3: Con từ đủ 7 tuổi trở lên
Ngoài các tiêu chí trên, luật quy định thêm một yêu cầu bắt buộc: Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con, và nguyện vọng này được ghi nhận bằng văn bản. Đây là điểm khác biệt lớn so với nhóm tuổi 3-7, vì ý kiến của chính đứa trẻ trở thành một căn cứ pháp lý có trọng số trong quyết định cuối cùng.

🧐KHI NÀO NGOẠI TÌNH THỰC SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN NUÔI CON?

Đây là phần nhiều người nhầm lẫn nhất. Bằng chứng ngoại tình như tin nhắn, hình ảnh, nhân chứng tự thân nó không phải là căn cứ pháp lý độc lập để quyết định ai được nuôi con. Nó chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành chứng cứ về hậu quả thực tế đối với con, ví dụ:
- Sao nhãng, bỏ mặc việc đưa đón, chăm sóc con vì dành thời gian cho mối quan hệ ngoài hôn nhân;
- Đưa con vào môi trường sống không an toàn, không phù hợp (như cho con tiếp xúc, chung sống cùng người thứ ba trong hoàn cảnh bất ổn);
- Sử dụng tài sản, thu nhập chung cho mối quan hệ ngoài hôn nhân dẫn đến thiếu hụt điều kiện tài chính nuôi con;
- Gây tổn thương tâm lý, khiến con chứng kiến xung đột hoặc sa sút học tập, biểu hiện lo âu.

Ngược lại, nếu người ngoại tình vẫn duy trì tốt việc chăm sóc, đưa đón, quan tâm con như bình thường, thì riêng bằng chứng ngoại tình không đủ căn cứ để Tòa án loại người đó khỏi quyền nuôi con. Nói cách khác: Tòa án không xét xử hành vi ngoại tình, mà xét xử hệ quả của hành vi đó đối với quyền lợi của con.
Về mặt thu thập chứng cứ, bên muốn sử dụng yếu tố ngoại tình làm lợi thế cần đi xa hơn việc chỉ chứng minh “có ngoại tình” - cần có thêm tài liệu, nhân chứng (ví dụ xác nhận của giáo viên, người thân, hồ sơ học tập, sao kê tài chính) thể hiện rõ mối liên hệ nhân quả với việc chăm sóc con.

✅VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG NUÔI CON
Nghĩa vụ cấp dưỡng không phụ thuộc vào việc ai ngoại tình hay ai có lỗi làm tan vỡ hôn nhân. Theo Điều 82 Luật HNGĐ 2014, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con - đây là nghĩa vụ đương nhiên phát sinh từ quan hệ cha/mẹ - con và tồn tại độc lập với nguyên nhân ly hôn.

Mức và phương thức cấp dưỡng căn cứ Điều 116, 117 Luật HNGĐ 2014:
- Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án quyết định. Mức này có thể được điều chỉnh khi có lý do chính đáng như thu nhập thay đổi hoặc nhu cầu của con tăng theo độ tuổi.

- Phương thức cấp dưỡng có thể theo định kỳ (tháng/quý/năm) hoặc một lần, tùy thỏa thuận; có thể tạm ngừng nếu người cấp dưỡng lâm vào khó khăn kinh tế thực sự không có khả năng thực hiện.

- Nghĩa vụ này kéo dài đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc lâu hơn nếu con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, tài sản để tự nuôi mình.

Song song với nghĩa vụ cấp dưỡng, người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật HNGĐ 2014. Quyền này chỉ bị hạn chế trong các trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều so với việc ngoại tình đơn thuần như bị kết án về hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con, hoặc có lối sống đồi trụy, phá tán tài sản của con (Điều 85 Luật HNGĐ 2014).

✅ĐỐI VỚI TÌNH HUỐNG NÊU TRÊN:
Đối với người con 07 tuổi, Tòa án sẽ đánh giá toàn diện điều kiện nuôi dưỡng của cả cha và mẹ, đồng thời bắt buộc phải ghi nhận nguyện vọng của cháu trước khi đưa ra quyết định. Trong nhiều trường hợp, ý kiến của trẻ là một căn cứ có giá trị đáng kể nếu phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ.

Đối với người con 03 tuổi, cần xác định chính xác đã đủ 36 tháng tuổi hay chưa. Nếu chưa đủ 36 tháng thì người mẹ được ưu tiên trực tiếp nuôi, trừ trường hợp không đủ điều kiện hoặc các bên có thỏa thuận khác. Nếu đã đủ 36 tháng thì việc xác định quyền nuôi con sẽ được xem xét trên cơ sở các tiêu chí chung mà pháp luật quy định.

Đối với chứng cứ ngoại tình, nếu chỉ dừng lại ở tin nhắn, hình ảnh hoặc lời khai chứng minh có quan hệ ngoài hôn nhân thì giá trị chứng minh trong tranh chấp quyền nuôi con còn hạn chế. Ngược lại, nếu chứng minh được hành vi này dẫn đến việc người chồng bỏ bê con cái, ảnh hưởng đến điều kiện kinh tế gia đình hoặc gây tổn hại đến sự phát triển của trẻ thì đây sẽ là yếu tố bất lợi đáng kể khi Tòa án đánh giá quyền trực tiếp nuôi con.

Dù kết quả giao con cho bên nào, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng và vẫn được bảo đảm quyền thăm nom theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, trừ trường hợp thuộc các căn cứ hạn chế quyền theo luật định.

📍Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn theo quy định pháp luật hiện hành . Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

🏢Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
📍Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
📞Điện thoại: 0965 921 058
📩Email: [email protected]
📰Website: luattancang.com

📰Ố TỤNG DÂN SỰ, BÊN NHẬN ỦY QUYỀN CÓ THỂ ỦY QUYỀN CHO BÊN THỨ BA KHÔNG? ❓Câu hỏi của người dân: Tranh chấp giữa dân sự g...
10/08/2026

📰Ố TỤNG DÂN SỰ, BÊN NHẬN ỦY QUYỀN CÓ THỂ ỦY QUYỀN CHO BÊN THỨ BA KHÔNG?

❓Câu hỏi của người dân: Tranh chấp giữa dân sự giữa tôi và hàng xóm đã được Tòa án thụ lý giải quyết nhưng vì nhà có con nhỏ nên tôi đã ủy quyền cho chồng tham gia phiên tòa. Tuy nhiên hiện nay chồng tôi vừa được điều chuyển công tác xa nhà tạm thời nên không thể tiếp tục và muốn em trai thực hiện trong thời gian vắng nhà. Tôi muốn hỏi là pháp luật có cho phép không?

📍Luật sư tư vấn:
Trong tố tụng dân sự, cơ chế đại diện theo ủy quyền đóng vai trò thiết yếu giúp đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi đương sự không thể trực tiếp tham gia tố tụng do nhiều lý do khác nhau, họ thường ủy quyền cho cá nhân khác (thường là luật sư hoặc người thân) thay mặt làm việc với Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, việc ủy quyền lại trong tố tụng dân sự lại là một trong những điểm phát sinh rất nhiều tranh cãi giữa các Tòa án, người tiến hành tố tụng và các bên tham gia.

✅CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN
Theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người đại diện theo ủy quyền là việc một cá nhân hoặc pháp nhân (gọi là bên ủy quyền) giao cho một cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi là bên nhận ủy quyền) thay mặt mình tham gia vào quá trình tố tụng tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Về chủ thể: theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tất cả các đương sự trong vụ việc dân sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan) đều có quyền ủy quyền cho người khác đại diện cho mình.

Tuy nhiên có một ngoại lệ là “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện.” Họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác thay mình giải quyết các vấn đề tài sản hoặc con cái riêng biệt nếu tách thành vụ án khác, hoặc nhờ luật sư tham gia với tư cách Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Nguyên tắc: Bên đại diện chỉ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi ủy quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

✅ỦY QUYỀN LẠI
Ủy quyền lại hiện nay không được định nghĩa một cách cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên theo các quy định về đại diện theo ủy quyền và Điều 564 Bộ luật Dân sự năm 2015, ủy quyền lại, hay còn gọi là ủy quyền lại cho bên thứ ba có thể được hiểu là là việc người đang giữ tư cách bên nhận ủy quyền tiếp tục chuyển giao một phần hoặc toàn bộ công việc, quyền hạn mà mình được giao cho một người khác (bên thứ ba) thay mặt mình thực hiện.

Theo Điều 564 Bộ luật Dân sự 2015, bên nhận ủy quyền không được tự ý ủy quyền lại cho bên thứ ba, trừ khi rơi vào 1 trong 2 trường hợp sau:

- Có sự đồng ý của bên ủy quyền: Sự đồng ý này có thể được ghi rõ ngay trong Hợp đồng ủy quyền ban đầu hoặc được người ủy quyền chấp thuận bằng văn bản riêng sau đó.

- Do sự kiện bất khả kháng: Trường hợp người nhận ủy quyền gặp sự cố bất khả kháng (tai nạn, bệnh tật cấp cứu, thiên tai...) mà nếu không lập tức ủy quyền lại cho người thứ ba thì mục đích giao dịch của người ủy quyền sẽ bị thiệt hại hoặc không thực hiện được.

- Thủ tục ủy quyền lại cần phải đáp ứng các điều kiện nhất định bao gồm:
Không được vượt quá phạm vi ban đầu: Thời hạn và phạm vi công việc ủy quyền lại cho người thứ ba không được vượt quá thời hạn và phạm vi mà người ủy quyền đã ủy quyền ban đầu cho người nhận ủy quyền.

- Hình thức văn bản: Hình thức của hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức của hợp đồng ủy quyền ban đầu (ví dụ: nếu hợp đồng của người ủy quyền và người nhận ủy quyền phải công chứng, thì việc ủy quyền lại cho người thứ ba cũng phải công chứng).

✅ỦY QUYỀN LẠI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Việc ủy quyền lại trong tố tụng lại là một trong những điểm phát sinh rất nhiều tranh cãi giữa các Tòa án, người tiến hành tố tụng và các bên tham gia vì sự không thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức: Bộ luật Dân sự 2015 cho phép bên nhận ủy quyền được ủy quyền lại nếu có sự đồng ý của bên ủy quyền hoặc do sự kiện bất khả kháng. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 lại không có quy định riêng biệt, chi tiết về cơ chế này đối với tư cách người đại diện theo ủy quyền tại Tòa án.

Sự thiếu vắng hướng dẫn tố tụng này dẫn đến 2 góc nhìn đối lập trong quá trình giải quyết vụ án dân sự:

- Nhiều Tòa án từ chối chấp nhận người được ủy quyền lại tham gia phiên tòa với các lý do:

- Tính chất của quan hệ tố tụng: Khác với giao dịch dân sự ngoài đời sống, tố tụng là quan hệ pháp luật công giữa Tòa án và đương sự;

Cơ chế gọi tên tư cách: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ định danh “Người đại diện theo ủy quyền của đương sự”. Khi bên nhận ủy quyền lại cho người thứ ba, bên nhận ủy quyền ban đầu không phải là đương sự, nên không có quyền ủy quyền và tạo một người đại diện tố tụng mới cho đương sự ban đầu.

Tuy nhiên, một số Tòa án ủng hộ hướng áp dụng quy định mở theo hướng dẫn chiếu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để đảm bảo quá trình tố tụng được diễn ra thuận lợi.

Chính vì thế trong trường hợp nêu trên, người đọc cần có hướng giải quyết thỏa đáng để tránh làm phức tạp hóa quá trình giải quyết vụ án dân sự. Nếu thật sự rơi vào trường hợp cần ủy quyền lại cho người thứ ba, đương sự có thể tham vấn ý kiến của Luật sư hoặc các chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên các bên có thể thực hiện thủ tục chấm dứt việc ủy quyền ban đầu để xác lập một giao dịch ủy quyền mới cho người có khả năng thực hiện công việc ủy quyền.

📍Liên hệ Luật sư tư vấn: Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc ủy quyền lại trong tố tụng dân sự. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
🏢Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
📍Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
📞Điện thoại: 0965 921 058
📩Email: [email protected]
📰Website: luattancang.com

CÓ THỂ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ KHÔNG? 🧐Câu hỏi của người dân: Anh trai tôi bị tai nạn giao thôn...
08/08/2026

CÓ THỂ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ KHÔNG?

🧐Câu hỏi của người dân: Anh trai tôi bị tai nạn giao thông rất nặng, người gây tai nạn hiện đã bị khởi tố hình sự. Từ ngày bị tai nạn anh phải nằm suốt ở bệnh viện, vẫn chưa thể hồi phục các chức năng cơ thể như người bình thường và cha mẹ tôi đã phải chi trả khoản tiền viện phí rất cao. Vậy gia đình tôi có thể yêu cầu người gây tai nạn giao thông bồi thường phần viện phí này hay không?

📍Luật sư tư vấn:
Trong thực tiễn, các hành vi vi phạm pháp luật hình sự không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước, tính mạng, sức khỏe hay danh dự của con người mà còn trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những tổn thất về tài sản, vật chất và tinh thần cho các bên liên quan. Khi vụ án hình sự xảy ra, bên cạnh việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, việc giải quyết trách nhiệm dân sự là một nội dung quan trọng nhằm khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại hoặc nguyên đơn dân sự.

Tuy nhiên, thực trạng áp dụng pháp luật hiện nay cho thấy phát sinh không ít khó khăn, vướng mắc trong việc xác định: Ai là người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại? Yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết đồng thời trong vụ án hình sự hay tách ra giải quyết bằng một vụ án dân sự riêng biệt?

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI LÀ GÌ❓
Bồi thường thiệt hại (BTTH) là một chế định pháp lý mang tính chất khôi phục và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên bị xâm phạm trong các quan hệ pháp luật. Xét dưới góc độ pháp lý, BTTH được hiểu theo hai tầng nghĩa: là một hình thức trách nhiệm dân sự và là một biện pháp khắc phục hậu quả.

BTTH được giải thích theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” Quy định này có thể hiểu là bên có hành vi vi phạm bao gồm vi phạm hợp đồng hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải dùng tài sản của mình để bù đắp, khắc phục những tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần mà mình đã gây ra cho bên bị thiệt hại.

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
BTTH trong vụ án hình sự có thể hiểu là việc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội hoặc hậu quả liên quan đến tội phạm gây ra đối với tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm.

Và theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “ Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”
Quy định này có ý nghĩa rằng việc giải quyết vấn đề dân sự như BTTH trong vụ án hình sự phải được tiến hành cùng lúc với việc giải quyết trách nhiệm hình sự nhằm Giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá toàn diện hậu quả của tội phạm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại/nguyên đơn dân sự một cách nhanh chóng, tránh việc người bị thiệt hại phải khởi kiện một vụ án dân sự riêng biệt tốn kém thời gian và chi phí.

Cụ thể hơn, việc này mang lại 3 lợi ích lớn:
✅Đối với bị hại / nguyên đơn dân sự: Tiết kiệm tối đa thời gian, công sức và chi phí tố tụng. Họ không phải gánh chịu rắc rối của một vụ kiện dân sự độc lập (phải nộp đơn mới, chịu án phí dân sự sơ thẩm, tham gia các buổi hòa giải/phiên tòa mới...).

✅Đối với Cơ quan tiến hành tố tụng: Tập trung toàn bộ chứng cứ vào một hồ sơ. Chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án hình sự (kết luận định giá tài sản, kết luận giám định thương tích, hóa đơn viện phí...) được trưng dụng ngay để tính toán mức BTTH mà không cần xác minh lại từ đầu.

✅Đánh giá toàn diện vụ án: Mức độ thiệt hại về tài sản, sức khỏe hay tính mạng là căn cứ trực tiếp để định khung hình phạt, đồng thời là cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015).

Tuy nhiên cũng có ngoại lệ cho phép tách việc giải quyết dân sự khỏi vụ án hình sự khi đáp ứng đủ 2 điều kiện sau:
- Chưa có điều kiện chứng minh: Ví dụ, bị hại vẫn đang trong quá trình điều trị tích cực, chưa thể xác định tổng chi phí y tế hay tỷ lệ thương tật cuối cùng; hoặc tài sản bị xâm phạm phức tạp chưa thể định giá ngay được.

- Không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự: Việc tách này không làm thay đổi bản chất của hành vi phạm tội hay định khung hình phạt của bị cáo.

Trong trường hợp trên, anh của bạn đọc hoặc người đại diện theo ủy quyền có thể nộp đơn yêu cầu BTTH trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với hành vi gây tai nạn giao thông nếu không rơi vào trường hợp ngoại lệ.

📍Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
🏢Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
📍Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
📞Điện thoại: 0965 921 058
📩Email: [email protected]
📰Website: luattancang.com

BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG CÓ PHẢI LÀ CĂN CỨ HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ? 📍Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng cũ đã được Tòa án ...
07/08/2026

BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG CÓ PHẢI LÀ CĂN CỨ HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ?

📍Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng cũ đã được Tòa án tuyên bố ly hôn, chấm dứt quan hệ vợ chồng. Và theo Bản án của Tòa án, anh có nghĩa vụ nuôi dưỡng cho con gái cho đến khi con bé đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tôi được biết gia đình anh đã có đơn xin hoãn thi hành án vì việc anh sẽ được hoãn nghĩa vụ nuôi dưỡng con vì anh bị tai nạn đang nằm viện🚑. Tôi lo lắng sẽ anh ấy tìm cách trốn tránh thực hiện nghĩa vụ này nên muốn hỏi đây có phải là căn cứ để hoãn thi hành án không?

📍Luật sư tư vấn:
Trong thực tiễn, việc thi hành án dân sự thường gặp nhiều trở ngại xuất phát từ thái độ trốn tránh của người phải thi hành án hoặc do các sự kiện bất khả kháng phát sinh trong đời sống. Một trong những tình huống khá phổ biến hiện nay là người phải thi hành án gặp sự cố về sức khỏe (như bị tai nạn, đổ bệnh) và gia đình họ lập tức gửi đơn xin hoãn thi hành án đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.

Việc hoãn thực hiện nghĩa vụ tài chính này đẩy người trực tiếp nuôi con vào thế khó khăn khi vừa phải gánh vác toàn bộ chi phí sinh hoạt của con nhỏ. Thực trạng này làm phát sinh các câu hỏi pháp lý then chốt: Việc bị tai nạn nằm viện có đương nhiên cấu thành căn cứ hoãn thi hành án đối với nghĩa vụ cấp dưỡng hay không? Thời hạn hoãn được xác định thế nào để vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng cho trẻ em, vừa không xâm phạm đến quyền con người của người đang trong tình trạng sức khỏe suy giảm?

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LÀ GÌ?
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về “thi hành án dân sự”. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2025, có thể hiểu thi hành án dân sự là giai đoạn tố tụng đặc biệt, nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài có hiệu lực pháp luật được thực hiện trên thực tế. Và bản án hoặc quyết định của Tòa án dù chính xác đến đâu cũng chỉ dừng lại ở ý nghĩa trên giấy nếu không được tổ chức thi hành án. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện chấp hành, cơ quan thi hành án có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, khấu trừ thu nhập...) để buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ.

HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Hoãn thi hành án dân sự là việc tạm thực hiện các thủ tục, biện pháp tổ chức thi hành án dân sự trong một thời hạn nhất định do phát sinh các lý do khách quan hoặc căn cứ pháp lý theo quy định của pháp luật. Việc hoãn chỉ là tạm dừng quá trình thi hành án tại một thời điểm nhất định, hoàn toàn không làm chấm dứt hay xóa bỏ bản án, quyết định của Tòa án hay nghĩa vụ của người phải thi hành án.
Các căn cứ hoãn thi hành án dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 bao gồm:
“a) Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà người phải thi hành án bị bệnh hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của pháp luật;
b) Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án;
c) Đương sự thỏa thuận bằng văn bản về việc hoãn thi hành án hoặc người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu hoãn thi hành án làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
d) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác để thi hành án;
đ) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu hủy kết quả đấu giá, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá;
e) Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
g) Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật;
h) Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
i) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;
k) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật chưa thực hiện được vì tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng;
l) Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 2 của Luật này.”

BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG CÓ PHẢI LÀ CĂN CỨ HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ?
Để áp dụng quy định hoãn thi hành án theo căn cứ này, cần đáp ứng đủ 3 điều kiện đồng thời:
🔹Về bản chất nghĩa vụ: nghĩa vụ của người phải thi hành án dân sự là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án (ví dụ: nghĩa vụ xin lỗi công khai, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng/cấp dưỡng, nghĩa vụ thực hiện một công việc cụ thể đòi hỏi kỹ năng cá nhân...) hoặc là nghĩa vụ mà pháp luật quy định không được chuyển giao cho người khác.

🔹Về tình trạng sức khỏe: Người phải thi hành án bị mắc bệnh hiểm nghèo (như ung thư giai đoạn cuối, suy gan/suy thận giai đoạn cuối,...).

🔹Về văn bản xác nhận: Phải có xác nhận bằng văn bản của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên (theo hệ thống phân cấp chuyên môn kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh hiện hành).

Trong trường hợp trên, chồng cũ của bạn đọc có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung của vợ chồng sau ly hôn. Đây được xem là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân với người phải thi hành án dân sự vì việc nuôi dưỡng con chung không thể được chuyển giao cho người khác. Tuy nhiên vấn đề đặt ra rằng việc người chồng bị tai nạn giao thông có phải là căn cứ để hoãn thi hành án dân sự được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 không? Câu trả lời là không vì tình trạng sức khỏe này không được pháp luật quy định là trường hợp có thể được hoãn thi hành án. Vậy nên người chồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình mà không thể được hoãn thi hành án trong trường hợp này.

Để bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của con gái, bạn đọc còn có thể viết đơn yêu cầu thi hành án dân sự đối với người cha để đảm bảo việc thi hành án được diễn ra theo đúng quy định pháp luật.

📍Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về căn cứ hoãn thi hành án dân sự. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
🏢Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
📍Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
📞Điện thoại: 0965 921 058
📩Email: [email protected]
📰Website: luattancang.com

Address

Số 85, Đường 13, Khu đô Thị Vạn Phúc, P. Hiệp Bình, Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
70000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Tân Cảng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật Tân Cảng:

Shortcuts

Share