CÔNG TY LUẬT BẢO TÍN

CÔNG TY LUẬT BẢO TÍN Chung tay - vì một nền pháp lý công bằng

THÔNG BÁO !!!🐎(V/v: Nghỉ Tết Nguyên Đán năm 2026)Kính gửi: Quý khách hàng, Quý đối tác!Chúng tôi xin Thông báo lịch nghỉ...
13/02/2026

THÔNG BÁO !!!🐎
(V/v: Nghỉ Tết Nguyên Đán năm 2026)
Kính gửi: Quý khách hàng, Quý đối tác!
Chúng tôi xin Thông báo lịch nghỉ Tết Nguyên Đán năm 2026 (Tết Bính Ngọ) như sau:
- Thời gian nghỉ Tết từ ngày 14/02/2026 đến hết ngày 23/02/2026 (tức từ 27/12 âm lịch đến hết 07/01 âm lịch).
- Thời gian làm việc trở lại từ Thứ Ba, ngày 24/02/2026 (tức 08/01 âm lịch).
--------------------------------------------------------------------------
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 phố Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Kính chúc Quý khách hàng "sức khoẻ - hạnh phúc - vạn sự như ý".
Trân trọng

🎯Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như thế nào?🎯Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 qu...
06/02/2026

🎯Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như thế nào?🎯
Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình. Theo đó, trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình.
Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🎯TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN🎯Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Bộ luật hình sự...
16/01/2026

🎯TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN🎯
Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Bộ luật hình sự là một trong những tội danh xâm phạm sở hữu có tính chất phức tạp và thường xuyên gây ra tranh luận trong thực tiễn pháp lý. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại về vật chất cho người bị hại mà còn làm tổn thương niềm tin trong các mối quan hệ xã hội.
Theo Điều 175 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định:
“ Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Về khách thể, hành vi này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Về chủ thể của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Về mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội này thể hiện qua việc người phạm tội chiếm hữu tài sản của người khác một cách hợp pháp thông qua các hình thức vay mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản dưới các hình thức hợp đồng. Trong quá trình đó, người phạm tội đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản này và đã thực hiện các thủ đoạn gian dối, bỏ trốn, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp làm mất khả năng chi trả hoặc không trả tiền dù có đủ điều kiện.
Đối với hậu quả: Tài sản bị chiếm đoạt phải từ 4.000.000 đồng trở lên. Nếu giá trị tài sản dưới dưới 4.000.000 đồng thì phải có các điều kiện như: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội (Cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, ...) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Như vậy, dấu hiệu đặc trưng của tội này thể hiện rõ nhất ở việc ý định chiếm đoạt tài sản có sau khi được chủ tài sản tiến hành giao tài sản. Điều này hoàn toàn khác biệt so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thủ đoạn gian dối xuất hiện trước khi tiến hành giao tài sản giữa nạn nhân với người phạm tội.
Về mặt chủ quan, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội có ý thức và biết được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng mong muốn chiếm đoạt được tài sản.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🎯Khái quát chung vấn đề Đại diện giữa vợ và chồng theo quy định pháp luật🎯1. Đại diện giữa vợ và chồng là gì?Khoản 1 Điề...
10/01/2026

🎯Khái quát chung vấn đề Đại diện giữa vợ và chồng theo quy định pháp luật🎯
1. Đại diện giữa vợ và chồng là gì?
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.”
Như vậy, đại diện giữa vợ và chồng là việc một bên vợ hoặc chồng nhân danh và vì lợi ích của người còn lại xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Quyền đại diện cho nhau giữa vợ và chồng là quyền mà pháp luật quy định hoặc có thể theo sự uỷ quyền của bên còn lại. Theo đó, một bên vợ/ chồng có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người còn lại trừ trường hợp pháp luật quy định không được xác lập, thực hiện thông qua người đại diện.
2. Căn cứ xác lập quan hệ đại diện giữa vợ và chồng
Theo quy định tại Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì căn cứ để xác lập đại diện giữa vợ và chồng được xác định như sau:
- Đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật HN&GĐ, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
- Vợ, chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
- Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Toà án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ liên quan.
- Trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Toà án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì việc đại diện giữa vợ và chồng có hai trường hợp: đại diện theo pháp luật giữa vợ – chồng và đại diện theo uỷ quyền giữa vợ – chồng.
👉2.1 Đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng
Căn cứ tại khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.
Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.”
Khoản 2 Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”.
Như vậy, trong trường hợp này khi vợ hoặc chồng được xác định là người giám hộ của người còn lại thì người đó có quyền, nghĩa vụ đại diện cho người được giám hộ trong xác giao dịch dân sự. Khi thực hiện quyền đại diện cho người được giám hộ thì vợ hoặc chồng là người giám hộ có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung hoặc tài sản riêng của người kia trên cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Khoản 2 Điều 24 Bộ luật dân sự quy định: “Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Toà án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác”.
Trường hợp này, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nên họ có quyền tự mình xác lập, thực hiện xác giao dịch dân sự với người khác nhưng xác giao dịch này chỉ có hiệu lực pháp lý khi có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Như vậy, có thể thấy, quy định này rằng buộc trách nhiệm của vợ chồng với nhau trong việc thực hiện giao dịch dân sự vì mục đích duy trì đời sống chung của gia đình. Quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện hi sinh vì nhau nên họ có thể là chỗ dựa tin cậy cho nhau khi người kia không đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch.
👉2.2 Đại diện theo uỷ quyền giữa vợ và chồng
Khoản 2 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng”.
Điều 139 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
2. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.
3. Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.”
Theo đó, vợ, chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Về nguyên tắc, các giao dịch liên quan tới tài sản chung của vợ chồng phải có sự thoả thuận của cả hại vợ chồng, trừ trường hợp các giao dịch được vợ hoặc chồng xác lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Tuy nhiên, đối với những tài sản chung của vợ chồng là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yêu của gia đình thì việc định đoạt phải có sự thoả thuận của vợ chồng và việc thoả thuận này phải được thể hiện bằng văn bản.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🇻🇳 THÔNG BÁO NGHỈ TẾT DƯƠNG LỊCH 2026 🇻🇳Kính gửi Quý khách hàng, Quý đối tác,Công ty Luật TNHH Bảo Tín  xin trân trọng t...
30/12/2025

🇻🇳 THÔNG BÁO NGHỈ TẾT DƯƠNG LỊCH 2026 🇻🇳
Kính gửi Quý khách hàng, Quý đối tác,
Công ty Luật TNHH Bảo Tín xin trân trọng thông báo lịch nghỉ Tết dương lịch 2026, cụ thể như sau:
🔹Thời gian nghỉ lễ: Từ thứ Năm (Ngày 01/01/2026) đến hết Chủ Nhật (ngày 04/01/2026);
🔹Thời gian hoạt động trở lại: Từ thứ Hai (ngày 05/01/2026).
Công ty Luật TNHH Bảo Tín xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, Quý đối tác đã đồng hành cùng chúng tôi trong thời gian qua.
Kính chúc Quý khách và gia đình một kỳ nghỉ vui vẻ, bình an !
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🎯TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ🎯Tội “Cướp tài sản” là một trong những tội phạm nguy hiểm không chỉ x...
20/12/2025

🎯TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ🎯
Tội “Cướp tài sản” là một trong những tội phạm nguy hiểm không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu mà còn trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của bị hại. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và dễ nhầm lẫn với các tội danh có yếu tố chiếm đoạt tài sản khác như “Cướp giật” hay tội “Cưỡng đoạt tài sản. Do vậy, việc xác định chính xác các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội “Cướp tài sản” là hết sức cần thiết.
Theo Điều 168 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định:
“ Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.”
Trước hết, về khách thể của tội phạm: Hành vi cướp tài sản xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Ngoài ra, hành vi này còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của chủ tài sản và người quản lý tài sản.
Về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi của tội cướp tài sản được thể hiện ở một trong ba dạng hành vi sau:
- Hành vi dùng vũ lực: Hành vi dùng vũ lực (đấm, đá, bóp cổ, đâm, chém,…), dùng sức mạnh thể chất hoặc vật chất tác động đến thân thể của người bị tấn công (chủ sở hữu, người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người khác mà người phạm tội cho rằng họ đã hoặc có khả năng ngăn cản việc chiếm đoạt tài sản của mình) làm cho nạn nhân không thể bảo vệ được tài sản để chiếm đoạt tài sản ngay thời điểm đó.
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Hành vi đe dọa dùng ngay lập tức sức mạnh thể chất hoặc vật chất đối với người bị tấn công làm cho người bị tấn công tin và lo sợ việc nguy hại cận kề ngay đến tính mạng, sức khoẻ nếu kháng cự. Hành vi này có thể được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ hoặc sự kết hợp đồng thời thái độ, cử chỉ, lời nói, tương quan lực lượng.
- Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: Đó có thể là cho uống thuốc ngủ, thuốc mê làm người bị tấn công không nhận thức được sự việc đang xảy ra hoặc có thể biết sự việc xảy ra nhưng bị tê liệt tinh thần, tê liệt sức kháng cự nên không thể chống trả việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.
Có thể thấy, điểm khác biệt rõ ràng nhất của tội này đó là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc - cường độ và sự mãnh liệt của lời đe dọa làm cho người bị tấn công bị tê liệt ý chí phản kháng, không còn có khả năng lựa chọn phương án để chống trả lại sự tấn công của người phạm tội.
Một điểm cần lưu ý, tội “Cướp tài sản” là tội có cấu thành tội phạm hình thức tức chỉ cần thực hiện một trong ba dạng hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội nêu trên nhằm chiếm đoạt tài sản là tội phạm đã hoàn thành, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản như mong muốn hay chưa.
Về chủ thể của tội “Cướp tài sản” là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự:
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định khác.
+ Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu các khung hình phạt rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng của tội cướp tài sản.
Về mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi trong mặt chủ quan của tội này là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm nhưng họ vẫn mong muốn thực hiện để nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản. Đồng thời, mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của tội này.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🎯Phân chia tài sản khi không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật🎯👉Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ...
12/12/2025

🎯Phân chia tài sản khi không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật🎯
👉Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:
Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
👉Theo đó, căn cứ Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
👉Như vậy, quan hệ tài sản sẽ được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên.
Trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Việc giải quyết quan hệ tài sản này phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập
👉Căn cứ Điều 219 Bộ luật dân sự 2015 quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:
Chia tài sản thuộc sở hữu chung
1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
👉Như vậy, nếu chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì tài sản sẽ được giải quyết theo nguyên tắc là:
- Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó.
- Tài sản chung sẽ được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🎯Quy định pháp luật về nhà ở xã hội, đối tượng được mua nhà ở xã hội🎯1. Nhà ở xã hội là gì?Khoản 7 Điều 2 Luật Nhà ở 202...
06/12/2025

🎯Quy định pháp luật về nhà ở xã hội, đối tượng được mua nhà ở xã hội🎯
1. Nhà ở xã hội là gì?
Khoản 7 Điều 2 Luật Nhà ở 2023 quy định:
Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở theo quy định của Luật này.
Theo đó, mặc dù là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng phải đáp ứng tiêu chuẩn về diện tích theo từng loại nhà theo quy định tại Điều 27 Nghị định 100/2024/NĐ-CP, cụ thể:
Loại 1: Nhà chung cư
Trường hợp là nhà chung cư thì căn hộ phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích sử dụng mỗi căn hộ tối thiểu là 25 m2, tối đa là 70 m2, bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Dự án đầu tư xây dựng được tăng mật độ xây dựng hoặc hệ số sử dụng đất lên tối đa 1,5 lần so với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hiện hành do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Việc tăng mật độ xây dựng hoặc hệ số sử dụng đất phải đảm bảo sự phù hợp với chỉ tiêu dân số, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, không gian, kiến trúc cảnh quan trong phạm vi đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt và phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đó phê duyệt điều chỉnh.
Căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương, UBND cấp tỉnh được điều chỉnh tăng tiêu chuẩn diện tích sử dụng căn hộ tối đa, nhưng mức tăng không quá 10% so với diện tích sử dụng căn hộ tối đa là 70 m2 và bảo đảm tỷ lệ số căn hộ trong dự án có diện tích sử dụng trên 70 m2 không quá 10% tổng số căn hộ nhà ở xã hội trong dự án.
Loại 2: Nhà ở liền kề thấp tầng
Trường hợp là nhà ở liền kề thấp tầng thì tiêu chuẩn diện tích đất xây dựng của mỗi căn nhà không vượt quá 70 m2, hệ số sử dụng đất không vượt quá 2,0 lần và phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Các đối tượng được mua nhà ở xã hội
Theo quy định tại Điều 76 và khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở 2023 thì có 10 đối tượng sau đây được mua nhà ở xã hội:
- Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.
- Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn.
- Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
- Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị.
- Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
- Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác.
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
- Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 125 Luật Nhà ở 2023, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật Nhà ở 2023.
- Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

🎯Cấu thành tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định pháp luật🎯 Tội cố ý gây t...
28/11/2025

🎯Cấu thành tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định pháp luật🎯
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một trong những tội danh phổ biến và phức tạp trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Hành vi này trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của công dân - vốn là một trong những quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.
👉Về khách thể, đây là hành vi cố ý làm người khác bị tổn hại đến sức khỏe, xâm phạm quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ của con người được quy định tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”
👉Về chủ thể, theo quy định của Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định:
“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Như vậy, chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có lỗi cố ý trong việc thực hiện hành vi vi phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
👉Về mặt khách quan, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật thông qua việc dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương, bị tổn hại sức khỏe. Các hành vi thường thấy là: đánh, đập, đâm, chém, đấm, đá,.... làm cho người bị gây thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe bị tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 BLHS. Bên cạnh đó, tại Khoản 14 Mục I Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/06/2020 của TANDTC giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử có quy định:
“ Quy định này không bắt buộc người phạm tội phải hoàn thành hành vi khách quan là gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác và cũng không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra. Người có hành vi chuẩn bị một trong các loại công cụ, phương tiện phạm tội như: Vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì đã đủ dấu hiệu về mặt hành vi khách quan để xử lý hình sự người phạm tội.
Do đó, đối với trường hợp nêu trên thì các đối tượng mặc dù chưa thực hiện hành vi gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng đã có sự bàn bạc thống nhất, câu kết chặt chẽ với nhau và đã hoàn thành việc chuẩn bị các loại hung khí nguy hiểm nhằm mục đích tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do đó, các đối tượng này có đủ dấu hiệu về mặt hành vi khách quan theo quy định tại Khoản 6 Điều 134 của BLHS.”
Dựa trên giải đáp trên thì mặc dù chưa thỏa mãn yếu tố có hậu quả gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe người khác nhưng đã có sự bàn bạc thống nhất, cấu kết chặt chẽ với nhau và đã hoàn thành việc chuẩn bị các loại hung khí nguy hiểm nhằm mục đích tấn công gây thương thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì đã có đầy đủ dấu hiệu về mặt khách quan trong cấu thành tội phạm.
👉Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
-----------------------------------------------------------------------
Mọi thông tin tư vấn xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH Bảo Tín⚖️⚖️⚖️
🕍Trụ sở: Số 48, ngõ 169 phố Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.
🏢Văn phòng giao dịch: Số 33 đường Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
🌐Website: http://luatbaotin.com.vn/
☎️Call: 0963. 28 92 72 - 0915. 98 83 83
📩Email: [email protected]
Trân trọng!

Address

P. 5A, Tầng 5, Tòa Nhà Thăng Long Tower, Phường Yên Hòa , Quận Cầu Giấy
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CÔNG TY LUẬT BẢO TÍN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to CÔNG TY LUẬT BẢO TÍN:

Share