02/10/2026
⚖️ THUÊ NHÀ 10 NĂM, BỎ TIỀN CẢI TẠO: KHI CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG, AI PHẢI CHỊU CHI PHÍ?
Bạn thuê một căn nhà trong 10 năm, bỏ hàng trăm triệu đồng sửa chữa, cải tạo để kinh doanh. Nhưng chỉ vài năm sau, hợp đồng chấm dứt. Khi đó, tiền bạn đã bỏ ra sẽ thuộc về ai? Chủ nhà có phải hoàn trả? Hay bạn phải tự tháo dỡ từng hạng mục đã đầu tư để trả lại hiện trạng ban đầu?
Đây không phải là câu hỏi giả định.
Một bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Đồng Tháp đã đặt ra chính vấn đề này, đồng thời cho thấy một rủi ro rất phổ biến trong các hợp đồng thuê nhà, thuê mặt bằng kinh doanh: các bên thường thỏa thuận rất kỹ về giá thuê và thời hạn thuê, nhưng lại bỏ ngỏ việc xử lý tiền đặt trước, chi phí cải tạo và tài sản đầu tư khi hợp đồng chấm dứt.
Và đến khi tranh chấp xảy ra, một câu hỏi tưởng như đơn giản – “Tôi đã bỏ tiền sửa nhà, tại sao không được nhận lại?” – lại trở thành một vấn đề pháp lý không hề đơn giản.
Bản án phúc thẩm số 826/2025/DS-PT ngày 03/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp là một tình huống rất đáng để người thuê và chủ nhà cùng nhìn lại cách mình đang giao kết và thực hiện hợp đồng.
Bởi trong quan hệ thuê tài sản, điều đáng sợ không phải là hợp đồng dài 10 năm; mà là hợp đồng dài 10 năm nhưng những điều khoản quan trọng nhất lại chỉ được thỏa thuận bằng lời nói.
Bản án phúc thẩm số 826/2025/DS-PT ngày 03/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp là một tình huống đáng lưu ý. Hai bên ký hợp đồng thuê nhà trong thời hạn 10 năm, giá thuê 3 triệu đồng/tháng. Khi giao kết, bên thuê đưa trước 36 triệu đồng, hợp đồng ghi là “đặt cọc (thế chân)”. Trong quá trình thuê, bên thuê có thực hiện một số hạng mục sửa chữa, cải tạo để phục vụ việc sử dụng, kinh doanh. Sau hơn 3 năm, hai bên phát sinh tranh chấp và chấm dứt quan hệ thuê. Bên thuê yêu cầu giải quyết khoản tiền 36 triệu đồng, chi phí cải tạo; trong khi bên cho thuê yêu cầu tháo dỡ, di dời một số hạng mục mà bên thuê đã đầu tư. Tòa án đã xem xét bản chất từng khoản tiền, từng hạng mục tài sản và nghĩa vụ của các bên thay vì chỉ căn cứ vào cách gọi trong hợp đồng.
“ĐẶT CỌC” CÓ PHẢI LÚC NÀO CŨNG ĐƯỢC XỬ LÝ NHƯ TIỀN ĐẶT CỌC?
Đây là vấn đề đầu tiên người thuê và chủ nhà cần đặc biệt lưu ý.
Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên giao tài sản cho bên kia nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Khi hợp đồng được thực hiện, tiền đặt cọc có thể được trả lại hoặc cấn trừ vào nghĩa vụ thanh toán; cơ chế phạt cọc chỉ phát sinh khi có hành vi từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
Vì vậy, không phải cứ hợp đồng ghi “đặt cọc” thì khi tranh chấp, khoản tiền đó đương nhiên được áp dụng cơ chế phạt cọc.
Trong thực tế, một khoản tiền có thể được gọi là “đặt cọc”, “thế chân”, “tiền giữ chỗ”, “tiền trả trước” nhưng bản chất pháp lý lại khác nhau. Tòa án sẽ phải xem xét mục đích giao tiền, cách thức các bên sử dụng khoản tiền đó và toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng.
Bài học đối với cả hai bên là: đừng sử dụng thuật ngữ pháp lý một cách tùy tiện. Nếu là tiền đặt cọc thì phải quy định rõ mục đích bảo đảm nghĩa vụ nào, khi nào hoàn trả, khi nào được cấn trừ và trường hợp nào phát sinh phạt cọc. Nếu là tiền thuê trả trước thì cũng cần ghi đúng bản chất.
NGƯỜI THUÊ BỎ TIỀN CẢI TẠO NHÀ CÓ ĐƯƠNG NHIÊN ĐƯỢC CHỦ NHÀ HOÀN LẠI?
Câu trả lời là không đương nhiên.
Điều 479 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên thuê có trách nhiệm bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ tài sản thuê. Đáng chú ý, bên thuê có thể tu sửa và làm tăng giá trị tài sản thuê nếu được bên cho thuê đồng ý và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý.
Như vậy, để yêu cầu chủ nhà thanh toán chi phí cải tạo, bên thuê cần quan tâm ít nhất đến ba vấn đề: có được chủ nhà đồng ý hay không; việc cải tạo có thuộc phạm vi được phép hay không; và chi phí thực tế, hợp lý có được chứng minh hay không.
Do đó, câu nói “tôi đã bỏ ra 200 triệu đồng để sửa nhà” chưa đủ để xác lập nghĩa vụ thanh toán của chủ nhà.
Quan trọng hơn phải là:
Chủ nhà có đồng ý cho sửa không?
Hai bên có thỏa thuận ai chịu chi phí không?
Hạng mục đó sau khi chấm dứt hợp đồng thuộc về ai?
Nếu không tháo dỡ thì chủ nhà có phải hoàn trả giá trị còn lại không?
Nếu những vấn đề này không được thỏa thuận rõ, người thuê có thể đứng trước rủi ro rất lớn: vừa bỏ tiền đầu tư, vừa phải tháo dỡ tài sản khi trả nhà.
NHƯNG CHỦ NHÀ CŨNG KHÔNG ĐƯƠNG NHIÊN ĐƯỢC “HƯỞNG” MỌI GIÁ TRỊ CẢI TẠO
Nhìn từ phía bên cho thuê, cũng không nên hiểu rằng “nhà là của tôi nên mọi thứ người thuê làm đều thuộc về tôi”.
Nếu chủ nhà đã đồng ý cho cải tạo, việc cải tạo được thực hiện nhằm làm tăng giá trị tài sản và các bên có thỏa thuận về việc xử lý chi phí thì quyền lợi của bên thuê phải được tôn trọng.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa tài sản có thể tháo dỡ, di chuyển với hạng mục đã gắn liền với công trình.
Một bộ khung nhôm kính, máy bơm, bồn nước hoặc hạng mục có khả năng tháo dỡ có thể được xử lý khác với phần gạch lát nền, hệ thống điện nước hoặc những hạng mục mà việc tháo dỡ có thể làm ảnh hưởng đến hiện trạng và giá trị căn nhà.
Chính bản án nói trên cho thấy Tòa án không xử lý tất cả các hạng mục theo một cách máy móc mà xem xét từng tài sản cụ thể; có hạng mục được yêu cầu tháo dỡ, di dời, trong khi có hạng mục được giữ lại và chi phí được xử lý theo sự thỏa thuận, tự nguyện của bên cho thuê.
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI VIỆC MỘT BÊN ĐƯƠNG NHIÊN PHẢI BỒI THƯỜNG
Một nhầm lẫn khá phổ biến là: hợp đồng thuê ký 10 năm nhưng mới sử dụng được 3–4 năm đã chấm dứt thì mặc nhiên bên nào làm cho hợp đồng kết thúc trước thời hạn sẽ phải chịu toàn bộ thiệt hại.
Về pháp lý, không thể kết luận đơn giản như vậy.
Cần xác định hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận, theo điều khoản đã cam kết hay do một bên đơn phương chấm dứt có căn cứ hoặc không có căn cứ.
Nếu hai bên thống nhất chấm dứt thì cần xử lý hậu quả theo thỏa thuận chấm dứt. Nếu một bên đơn phương chấm dứt thì phải xem xét căn cứ pháp luật, căn cứ hợp đồng và lỗi của các bên.
Vì vậy, trong tranh chấp hợp đồng thuê nhà, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là:
“Ai là người muốn chấm dứt hợp đồng trước?”
mà phải là:
“Việc chấm dứt có căn cứ pháp lý hay không và hậu quả của việc chấm dứt đã được các bên thỏa thuận như thế nào?”
TỪ GÓC NHÌN BÊN THUÊ: ĐỪNG ĐẦU TƯ LỚN CHỈ BẰNG MỘT LỜI HỨA
Đối với người thuê nhà, đặc biệt là thuê mặt bằng để kinh doanh, đây có lẽ là bài học quan trọng nhất.
Nếu dự kiến bỏ ra hàng trăm triệu hoặc hàng tỷ đồng để cải tạo nhà thuê, hợp đồng cần có một điều khoản riêng về đầu tư và cải tạo tài sản.
Phải xác định rõ: bên thuê được cải tạo những gì; hạng mục nào cần chủ nhà phê duyệt; chi phí do ai chịu; tài sản sau khi lắp đặt thuộc quyền sở hữu của ai; khi chấm dứt hợp đồng có được tháo dỡ hay không; nếu để lại thì chủ nhà có phải thanh toán giá trị còn lại hay không; và trường hợp hợp đồng chấm dứt trước hạn thì chi phí đầu tư được xử lý như thế nào.
Đặc biệt, mọi khoản đầu tư lớn nên có văn bản đồng ý của chủ nhà, dự toán, hóa đơn, chứng từ thanh toán và hồ sơ nghiệm thu hoặc bàn giao hạng mục.
Bởi khi tranh chấp xảy ra, “tôi đã bỏ tiền ra sửa” chỉ là một lời trình bày. Điều quyết định quyền lợi là chứng cứ chứng minh khoản tiền đó được chi cho mục đích gì và trên cơ sở thỏa thuận pháp lý nào.
TỪ GÓC NHÌN BÊN CHO THUÊ: CHO PHÉP CẢI TẠO CŨNG PHẢI QUẢN LÝ BẰNG VĂN BẢN
Ngược lại, chủ nhà cũng không nên cho phép người thuê tự do sửa chữa, cơi nới rồi đến khi chấm dứt hợp đồng mới tranh luận “cái gì được giữ, cái gì phải tháo”.
Nếu đồng ý cho thuê dài hạn và cho phép cải tạo, chủ nhà nên xác định ngay từ đầu phạm vi được cải tạo, tiêu chuẩn kỹ thuật, trách nhiệm xin phép nếu pháp luật yêu cầu, quyền sở hữu đối với tài sản đầu tư và phương án xử lý khi hợp đồng kết thúc.
Đặc biệt, nếu chủ nhà muốn giữ lại một hạng mục đã được người thuê đầu tư thì cũng cần thỏa thuận rõ về việc có thanh toán chi phí hoặc giá trị còn lại cho người thuê hay không.
🔎 THÔNG ĐIỆP PHÁP LÝ
Qua vụ án này có thể thấy một nguyên tắc rất quan trọng của pháp luật hợp đồng:
Người thuê bỏ tiền cải tạo nhà không có nghĩa đương nhiên được chủ nhà hoàn trả; nhưng chủ nhà cũng không đương nhiên được hưởng toàn bộ giá trị do người thuê tạo ra.
Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên phải được xác định từ hợp đồng, sự đồng ý của các bên, bản chất của khoản tiền, tính chất của tài sản đầu tư, chứng cứ về chi phí và nguyên nhân chấm dứt hợp đồng.
Đối với hợp đồng thuê nhà, thuê mặt bằng dài hạn, một điều khoản được soạn thảo rõ ràng ngay từ đầu có thể giúp các bên tránh được một tranh chấp kéo dài nhiều năm sau đó.
Thuê nhà để kinh doanh không chỉ là thỏa thuận về “giá thuê bao nhiêu và thuê trong bao lâu”, mà còn phải tính trước “nếu chấm dứt hợp đồng thì tài sản và tiền đầu tư của ai sẽ được xử lý như thế nào”.