20/05/2026
QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ-Bạn cần biết?
Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục nghiêm ngặt do pháp luật quy định nhằm giải quyết các vụ án hình sự một cách công minh và đúng người, đúng tội. Quy trình này bao gồm các giai đoạn liên hoàn và chặt chẽ. Việc hiểu rõ từng giai đoạn không chỉ đảm bảo chức năng tư pháp được thực hiện đúng quy định mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Mục lục ẩn
1 Khởi tố vụ án
1.1 Các nội dung chính của giai đoạn khởi tố
2 Điều tra vụ án
2.1 Nội dung hoạt động điều tra
2.2 Kết thúc điều tra
3 Truy tố
3.1 Đặc điểm của giai đoạn truy tố
3.2 Ý nghĩa
3.3 Quy trình thực hiện truy tố
4 Xét xử sơ thẩm
4.1 Xét xử sơ thẩm là giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng nhất (Ảnh minh họa)
4.2 Phiên tòa sơ thẩm (Giai đoạn trực tiếp xét xử)
4.3 Ý nghĩa
4.4 Thời hạn xét xử sơ thẩm
5 Xét xử phúc thẩm
5.1 Khái niệm
5.2 Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX)
5.3 Phạm vi xét xử phúc thẩm
5.4 Các quyết định của Tòa án phúc thẩm
6 Thi hành án
6.1 Khái niệm
6.2 Quy trình thi hành án
7 Giai đoạn đặc biệt (tái thẩm, giám đốc thẩm)
Khởi tố vụ án
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên và vô cùng quan trọng trong tố tụng hình sự, nơi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm để quyết định có hay không khởi tố vụ án. Giai đoạn này đảm bảo mọi hành vi phạm tội được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng pháp luật, đồng thời tránh oan sai.
Khởi tố vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra. Người dân muốn đưa báo cáo về hành vi phạm tội của cá nhân, tổ chức có thể làm đơn tố giác tội phạm, gửi đến trụ sở Công an xã/phường, cơ quan điều tra (Công an tỉnh), Viện kiểm sát hoặc tố giác trực tuyến qua ứng dụng VNeID. Sau khi nhận được tố giác của người dân, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào đấy để làm đơn khởi tố vụ án hình sự.
Suýt mất 110 triệu đồng sau cuộc gọi của kẻ mạo danh công an TP.HCM ...
Việc người dân tố giác tội phạm là bước đầu để cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự
Các nội dung chính của giai đoạn khởi tố
– Tiếp nhận và xác minh: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận thông tin từ tố giác, tin báo, hoặc tự phát hiện, sau đó kiểm tra dấu hiệu tội phạm. Dựa trên kết quả xác minh, cơ quan thẩm quyền ra Quyết định khởi tố (khi có dấu hiệu) hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
– Thời hạn ra quyết định khởi tố vụ án hình sự: Thông thường là 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo; trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp cần được kiểm tra, xác minh, thời hạn khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Viện trưởng viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn một lần nếu không thể kết thúc việc kiểm tra tin tố giác trong thời hạn trên, nhưng không quá 02 tháng.
Điều tra vụ án
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố tụng cốt lõi, do Cơ quan điều tra thực hiện sau khi khởi tố, nhằm thu thập chứng cứ, làm rõ tội phạm và người thực hiện. Quá trình này bắt đầu khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc bằng bản kết luận điều tra (đề nghị truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ). Thời gian điều tra thường kéo dài từ 4 – 12 tháng tuỳ loại tội phạm và tình tiết thực tế của vụ án.
Quá trình trên nhằm mục đích thu thập đầy đủ bằng chứng, lời khai, tình tiết vụ án để làm căn cứ buộc tội và gỡ tội; xác định đầy đủ các bị hại, bị cáo và người liên quan trong vụ án; làm rõ các tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ của bị cáo để Hội đồng xét xử xác định khung hình phạt phù hợp…
Nội dung hoạt động điều tra
– Khởi tố bị can: Khởi tố bị can là việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố hình sự một người hoặc một pháp nhân khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị can sẽ nhận được giấy triệu tập và yêu cầu có mặt tại địa điểm được ghi trên giấy triệu tập, nếu vắng mặt không lý do hoặc có biểu hiện trốn tránh sẽ bị áp giải đến địa điểm triệu tập.
– Hỏi cung bị can: nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can, do Điều tra viên tiến hành tại trụ sở của cơ quan điều tra hoặc cơ sở giam giữ. Mỗi lần hỏi cung bị can đều có biên bản ghi lại đầy đủ, chính xác lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời.
– Lấy lời khai: người được lấy lời khai là người biết về tình tiết, diễn biến vụ án, bao gồm bị hại, nhân chứng, nguyên đơn/bị đơn dân sự. Đây là cơ sở quan trọng để Điều tra viên tìm ra sự thật, liên kết các bằng chứng thu thập được. Trong trường hợp xuất hiện mâu thuẫn giữa lời khai của những người tham gia tố tụng với nhau, cơ quan điều tra sẽ tiến hành đối chất.
– Khám xét: Khám nghiệm hiện trường, tử thi (điều tra thu thập chứng cứ thông qua việc xem xét, tìm kiếm dấu vết tội phạm tại nơi xảy ra sự việc phạm tội hoặc từ tử thi); khám xét chỗ ở, nơi làm việc (thường của bị can hoặc bị hại trong vụ án).
– Biện pháp khác: Nhận dạng, giám định, thực nghiệm điều tra vụ án nhằm thu thập bằng chứng, manh mối phục vụ công tác điều tra
Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Cơ quan điều tra được gia hạn thời gian điều tra nếu tình tiết vụ án phức tạp, tuy nhiên số lần gia hạn và thời gian gia hạn có giới hạn theo luật định.
Kết thúc điều tra
Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra, mục đích đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra. Trong thời hạn 02 ngày phải giao hồ sơ trên cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can hoặc đại diện bị can, người bào chữa; bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nhận được thông báo khi việc điều tra kết thúc.
– Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố: bản kết luận ghi rõ tình tiết vụ án, nhân thân người phạm tội…; đưa ra lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điều luật áp dụng và ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của cơ quan điều tra. (Điều 233 BLTTHS 2025).
– Kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra: Bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến sự việc, quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra. (Điều 234 BLTTHS 2025).
– Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp không thể tiếp tục điều tra do nguyên nhân khách quan (hết thời hạn điều tra nhưng không xác định được vị trí của bị can; bị can mắc bệnh tâm thần…).
Truy tố
Giai đoạn truy tố là bước thứ ba trong tố tụng hình sự, diễn ra sau khi kết thúc điều tra, nơi Viện kiểm sát (VKS) kiểm tra hồ sơ, chứng cứ để quyết định đưa bị can ra xét xử. Đây là khâu trung tâm đảm bảo quyền công tố, tính pháp chế, và tránh làm oan sai, kết thúc bằng cáo trạng hoặc quyết định đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án.
Đặc điểm của giai đoạn truy tố
– Thẩm quyền truy tố: Viện kiểm sát cùng cấp với cấp xét xử của Tòa án có thẩm quyền thực hiện truy tố (ví dụ, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội có thẩm quyền truy tố với vụ án hình sự xét xử sơ thẩm tại TAND khu vực 1 – Hà Nội). Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiếm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
– Viện kiểm sát ra quyết định truy tố kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, thời hạn ra quyết định là 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng (gia hạn không quá 10 ngày), 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (gia hạn không quá 15 ngày).
– Nếu không quyết định truy tố, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Ý nghĩa
– Kiểm tra tính hợp pháp và căn cứ: Kiểm tra kỹ bản kết luận điều tra, chứng cứ, tài liệu, hồ sơ vụ án để bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
– Đánh giá chứng cứ: Xác định xem các chứng cứ đã thu thập là đầy đủ, hợp pháp và có thể buộc tội bị can hay chưa.
Quy trình thực hiện truy tố
Bước 1: VKS tiếp nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra từ cơ quan điều tra.
Bước 2: Kiểm sát viên được phân công nghiên cứu kỹ hồ sơ, có thể hỏi cung bị can hoặc kiểm tra lại chứng cứ.
Bước 3: Ban hành một trong các quyết định sau:
– Truy tố: Ra bản cáo trạng, trong thời hạn từ 03 – 10 ngày chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng sang Tòa án.
– Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát: Trong trường hợp thiếu chứng cứ; có dấu hiệu bỏ sót tội phạm; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
– Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ: Nếu có căn cứ không khởi tố vụ án, chưa bắt được bị can, hoặc bị can bị bệnh hiểm nghèo…
Xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, nơi Tòa án trực tiếp xem xét toàn diện nội dung vụ án (hình sự, dân sự, hành chính) để đưa ra phán quyết, xác định tội danh, hình phạt của bị can hoặc phân định quyền và nghĩa vụ các bên. Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.
Xét xử sơ thẩm là giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng nhất
Phiên tòa sơ thẩm :
Trình tự một phiên toà hình sự cấp sơ thẩm thường diễn ra như sau:
– Chuẩn bị khai mạc phiên tòa: Thư ký Tòa án tiến hành các công việc:
Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập, nếu có người vắng mặt phải nêu rõ lý do;
Phổ biến nội quy phiên tòa.
– Khai mạc phiên tòa:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Thư ký Tòa báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do của những người vắng mặt;
Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt theo báo cáo của Thư ký Tòa, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ trong vụ án được xét xử.
Tranh tụng tại phiên tòa gồm 02 giai đoạn chính: Xét hỏi và Tranh luận.
– Xét hỏi tại phiên tòa
Xét hỏi từng người có mặt tại phiên tòa (bị hại, bị cáo, các bên liên quan, người làm chứng nếu có mặt, người giám định, người định giá tài sản). Việc xét hỏi để làm rõ những vấn đề mà Hội đồng xét xử thấy còn vướng mắc, chưa đầy đủ. Thẩm phán chủ tọa sẽ xét hỏi trước, sau đó lần lượt đến phiên xét hỏi của Hội thẩm => đại diện Viện kiểm sát => người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra trong các trường hợp sau: lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa hoặc mâu thuẫn với lời khai của chính họ trước đó, hoặc không rõ ràng; người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra.
Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không; nếu không có, kết thúc việc xét hỏi.
– Tranh luận tại phiên tòa:
Những người tham gia tố tụng (người đại diện, luật sư bảo vệ của bị hại và bị cáo…) trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ và lập luận của mình. Kiểm sát viên trình bày chứng cứ, tài liệu, hồ sơ thu thập trong vụ án để đưa ra ý kiến của mình và đối đáp với những người tố tụng.
Chủ tọa tạo điều kiện để Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến; cắt bỏ những ý kiến không liên qua đến vụ án và các ý lặp lại; có quyền yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại ý kiến của người tham gia tố tụng nếu ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.
Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác để có cái nhin khách quan, toàn diện về vụ án.
– Nghị án và tuyên án:
Sau khi kết thúc tranh luận, hội đồng xét xử vào phòng nghị án, xem xét và thảo luận về các chứng cứ, lời khai, quan điểm của Viện kiểm sát và các bên tham gia tranh tụng, từ đó đưa ra quyết định bản án. Thành viên hội đồng xét xử tiến hành biểu quyết các vấn đề theo đa số (số thành viên của hội đồng xét xử là 03 hoặc 05, tùy vào mức độ nghiêm trọng của vụ án).
Chủ tọa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.
Ý nghĩa
– Ý nghĩa: Đây là cấp xét xử đầu tiên của một vụ án hình sự, cũng là cấp xét xử quan trọng nhất để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Tòa án ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
– Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm: Nếu không đồng ý với bản án, quyết định của phiên tòa sơ thẩm, các bên liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo. Theo Điều 333 BLTTHS, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
Thời hạn xét xử sơ thẩm
Thời hạn giải quyết phụ thuộc vào mức độ phức tạp, nghiêm trọng vụ án và độ dài của quy trình chuẩn bị trước khi mở phiên tòa sơ thẩm (gồm các bước điều tra, truy tố, xét xử…). Thời gian thực tế cho một phiên tòa xét xử sơ thẩm có thể kéo dài từ vài tháng đến hơn 1 năm đối với vụ án phức tạp.
Xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là giai đoạn Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án/quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng nghị. Quá trình này nhằm bảo đảm tính đúng đắn, hợp pháp của phán quyết, tập trung kiểm tra, xét xử nội dung bị kháng cáo/kháng nghị để sửa, hủy hoặc giữ nguyên bản án.
Khái niệm
– Định nghĩa: Là cấp xét xử thứ hai, xem xét lại vụ án mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo (bởi đương sự) hoặc kháng nghị (bởi Viện kiểm sát).
– Tính chất: Xét xử lại (thường là xem xét trên hồ sơ và tranh tụng tại tòa) để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bên.
– Thẩm quyền: Tòa án cấp trên trực tiếp. Ví dụ, TAND thành phố Hà Nội là tòa cấp trên trực tiếp có thẩm quyền xét xử phúc thẩm với vụ án mà TAND khu vực 1 – Hà Nội xét xử sơ thẩm.
Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX)
Theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm vụ án hình sự thông thường bao gồm 03 Thẩm phán, bao gồm Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và 02 Thẩm phán khác. Ở phiên tòa xét xử cấp phúc thẩm, không có thành viên Hội thẩm nhân dân (khác với phiên tòa sơ thẩm thường bao gồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm)
Hội đồng xét xử phiên tòa phúc thẩm thường có 03 thành viên (Ảnh minh họa)
Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án phúc thẩm chỉ xem xét lại những phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Các quyết định của Tòa án phúc thẩm
Sau khi xét xử, HĐXX phúc thẩm có thể ra các quyết định:
– Giữ nguyên bản án sơ thẩm: Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm nếu tháy các quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật (Y án)
– Sửa bản án sơ thẩm: Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật để đưa ra bản án; hoặc phát hiện việc thu thập chứng cứ ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ.
– Hủy bản án sơ thẩm: Quyết định này chỉ được đưa ra trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thu thập bằng chứng hoặc áp dụng pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.
Hủy để điều tra lại (nếu có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm; chứng cứ không đầy đủ) hoặc hủy để xét xử lại (nếu thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật)
Hủy để đình chỉ giải quyết vụ án (với vụ án đáng ra bị đình chỉ từ giai đoạn sơ thẩm nhưng Tòa án vẫn xét xử; do nguyên nhân như người khởi kiện rút đơn, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự…).
– Nếu người kháng cáo rút kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát được rút lại, Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (Điều 348 BLTTHS).
Thi hành án
Giai đoạn thi hành án hình sự là khâu cuối cùng của tố tụng, nơi Nhà nước tổ chức thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm tước tự do, giáo dục cải tạo hoặc thi hành án tử hình. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm giám sát việc thi hành án, đảm bảo tính tôn nghiêm của pháp luật, trật tự xã hội và tính nhân đạo.
Khái niệm
– Thi hành án hình sự là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án.
– Thẩm quyền ra quyết định thi hành án: Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành.
– Hệ thống tổ chức thi hành án hình sự gồm nhiều cơ quan khác nhau, quy định tại Điều 11 Luật Thi hành án hình sự 2019. Các cơ quan thuộc hệ thống thi hành án hình sự sẽ trực tiếp quản lý, giám sát việc thi hành án, đảm bảo quá trình thi hành án nghiêm túc và đúng quy định pháp luật.
– Thi hành án hình sự mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án để thi hành án đạt hiệu quả, giúp người bị kết án sửa chữa sai lầm, giáo dưỡng lành mạnh và sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Quy trình thi hành án
Giai đoạn này bao gồm các hoạt động cốt lõi sau:
– Ra quyết định thi hành án: Tòa án ra quyết định trong thời hạn quy định (thường là 07 ngày làm việc kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực hoặc nhận được bản án, quyết định phúc thẩm/giám đốc thẩm/quyết định tái thẩm).
– Thi hành các hình phạt chính và bổ sung:
Tù có thời hạn/chung thân/tử hình: Đưa vào trại giam hoặc thực hiện quy trình tử hình.
Cải tạo không giam giữ/Án treo: Giao cho chính quyền địa phương, đơn vị nơi làm việc giám sát, giáo dục.
Phạt tiền/Tịch thu tài sản: Chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự (nếu có nội dung dân sự).
Tổ chức lao động, học tập, học nghề, và thực hiện các chế độ giam giữ.
insight into life of foreign inmates in Vietnamese prison picture 7
(Ảnh: VOV – Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam)
Giai đoạn đặc biệt (tái thẩm, giám đốc thẩm)
Đây là giai đoạn chỉ xuất hiện tại một số vụ án đặc biệt, nhằm xem xét lại quyết định, bản án. Bao gồm:
– Giám đốc thẩm: là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm với bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án cấp dưới.
– Tái thẩm: là việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể là thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mầ trước đó không được biết. Viện trưởng VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm với bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án cấp dưới.
=> Do chủ thể đặc biệt mới có quyền yêu cầu tái thẩm, giám đốc thẩm, xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực nên đât không được coi là cấp xét xử thứ 3. Thông thường, tại các phiên tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm, Hội đồng xét xử sẽ kiểm tra pháp luật và bằng chứng để đưa ra quyết định cho từng vấn đề trong Bản án. Còn quy trình giám đốc thẩm và tái thẩm chỉ kiểm tra xem tình tiết mới có làm thay đổi kết quả bản án đã có hiệu lực không, nếu có sự thay đổi thì vụ án sẽ được xét xử lại từ đầu (sơ thẩm => phúc thẩm).
– Dù các giai đoạn trong tố tụng hình sự có thể khác nhau ở mỗi vụ án, tuỳ theo sự kiện pháp lý và tính chất phức tạp của vụ án, tuy nhiên thông thường, thi hành án sẽ là bước cuối cùng trong tố tụng hình sự.
Lưu ý: Các phiên tòa xét xử thường diễn ra theo hướng sơ thẩm => phúc thẩm => giám đốc thẩm/tái thẩm. Nhưng thực tế tại Việt Nam, có thể tiến từ bước sơ thẩm => giám đốc thẩm trong trường hợp bản án quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
THÔNG TIN