Tư vấn Chia sẻ kiến thức Pháp luật 24/7

Tư vấn Chia sẻ kiến thức Pháp luật 24/7 Trang thông tin Tư vấn Chia sẻ kiến thức Pháp luật 24/7. Fanpage xây dựng Vì cộng đồng xây một xã hội văn minh, thượng tôn pháp luật.

Nếu không đánh thuế bất động sản thứ nhất và thuế suất lũy tiến bất động sản thứ hai trở lên thì giá BDS sẽ không ngừng ...
19/12/2024

Nếu không đánh thuế bất động sản thứ nhất và thuế suất lũy tiến bất động sản thứ hai trở lên thì giá BDS sẽ không ngừng leo thang. Giá BĐS Việt Nam hiện nay còn cao hơn cả một số nước phát triển.
Điều nguy hiểm nhất đang đe dọa, phá hoại có nguy cơ làm sụp đổ toàn bộ nền kinh tế cũng như nền nông nghiệp yếu kém của Việt Nam đó chính là giá bất động sản quá đắt đỏ khiến cho mọi chi phí tăng vọt đội giá! Nếu chúng ta không thể cạnh tranh được trong đầu tư, sản xuất, chăn nuôi, trồng lúa và xuất khẩu thì nền kinh tế rơi vào suy thoái

Điều kiện giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024Ngày cập nhật 06/09/2024Thực hiện c...
12/11/2024

Điều kiện giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024
Ngày cập nhật 06/09/2024
Thực hiện các giao dịch dân sự đối với quyền sử dụng đất là một trong những quyền cơ bản của người sử dụng đất. Để thực hiện quyền này cần đáp ứng các điều kiện theo quy định. So với Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 có những điểm mới cơ bản.



1. Về mặt kỹ thuật:

Đối với Luật Đất đai năm 2013, điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất được quy định tập trung tại Điều 188 (Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất) và Điều 168 (Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất).

Luật Đất đai năm 2024 quy định tập trung các điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất và quy định thêm điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất tại Điều 45.

2. Các điều kiện chung để thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất

Một là, phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (viết tắt là Giấy chứng nhận), trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng dự án bất động sản theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản (quy định tại khoản 7 Điều 124 Luật Đất đai năm 2024) và hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án (theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật Đất đai năm 2024);

Trong đó, về thừa kế quyền sử dụng đất, người nhận thừa kế chỉ được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 (khoản 4 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).

Hai là, đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật. So với Luật Đất đai năm 2013, điều kiện này được bổ sung, làm rõ hơn với quy định “hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật” (Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định “Đất không có tranh chấp”).

Về khái niệm “tranh chấp đất đai”, Luật Đất đai năm 2024 kế thừa quy định của Luật Đất đai năm 2013, tại khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 giải thích “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2024 bổ sung thêm khái niệm “Đất đang có tranh chấp” tại khoản 16 Điều 3, cụ thể: “Đất đang có tranh chấp là thửa đất có tranh chấp đất đai mà đang trong quá trình được cơ quan có thẩm quyền giải quyết”.

Ba là, quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Luật Đất đai năm 2024 kế thừa Luật Đất đai năm 2013 quy định “quyền sử dụng đất không bị kê biên”, đồng thời bổ sung thêm quyền sử dụng đất không bị “áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án” để bao quát các trường hợp liên quan đến thi hành án dân sự.

Bốn là, trong thời hạn sử dụng đất. Quy định này kế thừa quy định tại Luật năm 2013.

Năm là, quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Quy định này được bổ sung so với Luật Đất đai năm 2013.

3. Các điều kiện riêng

Ngoài các điều kiện chung nêu trên, Luật Đất đai năm 2024 bổ sung thêm các điều kiện khác đối với một số trường hợp:

- Trường hợp chủ đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản thì còn phải đáp ứng điều kiện khác theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở (khoản 2 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).

- Người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì còn phải đáp ứng các điều kiện theo các trường hợp sau đây (khoản 3 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024): (i) Đối với trường hợp mua, bán tài sản gắn liền với đất, quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm thì phải đáp ứng điều kiện về bán tài sản gắn liền với đất, quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm (quy định tại Điều 46 của Luật Đất đai năm 2024). (ii) Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì phải đáp ứng điều kiện: Cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng đơn vị hành chính cấp tỉnh cho cá nhân khác và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ. (iii) Đối với trường hợp thực hiện quyền sử dụng đất của cá nhân là người dân tộc thiểu số được giao đất, cho thuê đất thuộc chính sách hỗ trợ đất đai để bảo đảm ổn định cuộc sống cho cá nhân là người dân tộc thiểu số đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất quy định tại khoản 2 Điều này nhưng nay không còn đất hoặc thiếu đất so với hạn mức mà thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Luật Đất đai năm 2024) thì phải đáp ứng điều kiện thuộc trường hợp thực hiện quyền sử dụng đất có điều kiện (quy định tại Điều 48 của Luật Đất đai năm 2024).

- Trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định (khoản 4 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).

- Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (khoản 5 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).

- Tổ chức kinh tế được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp phải có phương án sử dụng đất nông nghiệp được Ủy ban nhân dân cấp huyện chấp thuận. Phương án sử dụng đất nông nghiệp phải có các nội dung chính sau đây: Địa điểm, diện tích, mục đích sử dụng đất; kế hoạch sản xuất, kinh doanh nông nghiệp; vốn đầu tư; thời hạn sử dụng đất; tiến độ sử dụng đất (khoản 6 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).

- Cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa quá hạn mức (quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai năm 2024) thì phải thành lập tổ chức kinh tế và có phương án sử dụng đất trồng lúa được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt, trừ trường hợp người nhận tặng cho là người thuộc hàng thừa kế (khoản 7 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024).

- Các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất: (i) Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. (ii) Cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở và đất khác trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng đó. (iii) Tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà pháp luật không cho phép nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất (khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024)./.

HIẾN PHÁP CỦA HOA KỲ ĐÃ LỖI THỜI?Bài viết gốc: America’s Broken Constitution11 tháng 10 năm 2024NICHOLAS REED LANGENTron...
05/11/2024

HIẾN PHÁP CỦA HOA KỲ ĐÃ LỖI THỜI?
Bài viết gốc: America’s Broken Constitution
11 tháng 10 năm 2024
NICHOLAS REED LANGEN
Trong khi nhiều người cho rằng văn kiện lập quốc của Hoa Kỳ phải được đại tu hoàn toàn, thì việc cải cách Tòa án Tối cao có thể là đủ. Và với Đại cử tri đoàn và Thượng viện bị giới hạn về mặt chính trị, việc đưa Tòa án vào thế kỷ 21 có thể là đủ.
LONDON – Gọi Hoa Kỳ là một nền dân chủ đã trở nên hơi quá đáng. Ngay cả sự kiện dân chủ được tôn vinh nhất của đất nước (và thế giới) cũng chỉ là ảo tưởng về ý chí của người dân. Do có Đại cử tri đoàn, hầu hết phiếu bầu của người Mỹ cho chức tổng thống cuối cùng đều không liên quan. Kết quả không phụ thuộc vào mong muốn chung của người dân Hoa Kỳ, mà phụ thuộc vào ý thích của một bộ phận nhỏ cử tri ở một vài quận tại một vài tiểu bang.
Các cuộc bầu cử lập pháp cũng không khá hơn là bao, nhờ vào những tác động bóp méo của việc phân chia khu vực địa lý bầu cử, theo đó các quan chức đảng phái phân chia các khu vực bầu cử theo kiểu Dalí để có lợi cho đảng của họ. Đây là trường hợp các chính trị gia lựa chọn cử tri của mình, với kỹ năng của người vẽ bản đồ quan trọng hơn mong muốn của người dân.
Kết quả là các tổng thống thường không chiếm được lòng tin của hầu hết người dân trong nước, và các nhà lập pháp quan tâm nhiều hơn đến việc chiều theo ý muốn của họ hơn là phục vụ lợi ích của đất nước. Nếu có một sự kiểm soát độc lập, đáng tin cậy đối với hai nhánh chính quyền này, thì điều đó có thể giữ cho nước Mỹ đi đúng hướng theo hiến pháp và ngăn chặn các chính trị gia đi chệch hướng sang chế độ chuyên quyền hoặc chế độ cai trị của đám đông. Nhưng không có, vì hiến pháp Hoa Kỳ được bảo vệ bởi Tòa án Tối cao, nơi các thành viên hiện tại không chỉ chấp nhận sự thiên vị chính trị mà còn đắm chìm trong đó.
Không còn một số thẩm phán thậm chí còn giả vờ gọi là "bóng và cú đánh", như Chánh án John Roberts đã nói một cách nổi tiếng tại phiên điều trần xác nhận của mình cách đây 19 năm. Trong những vụ án lớn thực sự quan trọng, các thẩm phán cuối cùng sẽ bám chặt vào bản sắc giáo phái của họ, sử dụng chính trị, thay vì luật pháp, làm kim chỉ nam. Mặc dù họ sẽ trích dẫn văn bản Hiến pháp và nói suông về các nguyên tắc tư pháp cơ bản, nhưng những tài liệu tham khảo này không phải để đưa ra quyết định mà là để che giấu chính trị.
HIẾN PHÁP CHO THỜI KỲ KHÁC
Trong tác phẩm “Không nền dân chủ nào tồn tại mãi mãi: Hiến pháp đe dọa Hoa Kỳ như thế nào, của Erwin Chemerinsky, hiệu trưởng Trường Luật Berkeley, kết luận rằng giải pháp duy nhất cho tình trạng hiến pháp của Hoa Kỳ là phải bắt đầu lại. Ông lập luận rằng nếu Hoa Kỳ muốn duy trì nền dân chủ, thì việc can thiệp vào hệ thống - dù là bằng sắc lệnh tư pháp hay sửa đổi hiến pháp - có thể là không đủ. Chỉ bằng cách quay trở lại thời điểm ban đầu, chúng ta mới có thể khắc phục được những sai sót cơ bản ở cốt lõi của trật tự hiến pháp Hoa Kỳ.
Chemerinsky muốn chúng ta nhận ra rằng không ai đặt mục tiêu thiết lập một hệ thống chính trị dân chủ ngày nay sẽ soạn thảo bất cứ thứ gì giống như hiến chương thành lập Hoa Kỳ. Ngay cả khi bạn coi hiến pháp như sau Nội chiến - khi chế độ nô lệ cuối cùng mất đi sự bảo vệ hợp pháp và quyền bầu cử đã được mở rộng ra ngoài phạm vi những người đàn ông sở hữu tài sản - thì bạn sẽ có một văn bản về cơ bản là không có chức năng. Bạn sẽ có một bản hiến pháp đề cao quyền tự do ngôn luận thay vì quyền tự do ngôn luận thực sự, coi trọng quyền sở hữu súng hơn hầu hết mọi thứ khác và coi trọng quan điểm của người dân sống ở những tiểu bang có nhiều thảo nguyên và miền núi hơn là thành phố và thị trấn.
Như Chemerinsky đã nói, "các tiểu bang miền Nam và Trung Tây có quyền lực không cân xứng trong Đại cử tri đoàn là đỏ [Cộng hòa], trong khi các tiểu bang có dân số thành thị ít được đại diện nhất là xanh [Dân chủ]." Kết hợp các lực lượng cấu trúc này với nhân khẩu học đang thay đổi của đất nước và bạn "có thể khiến các cuộc bầu cử không thành công trở nên phổ biến hơn nhiều." Wyoming, với dân số 581.000 người, có cùng số lượng thượng nghị sĩ như California, với dân số 39 triệu người. Tất nhiên, những người trích dẫn số liệu thống kê này thường bỏ qua đối tác của nó: Texas (31 triệu) có cùng số lượng thượng nghị sĩ như Rhode Island nhỏ bé (1,1 triệu người).
Có những lý do chính đáng cho nhiều điều kỳ lạ này ngay từ đầu. Nhưng đó là hai thế kỷ rưỡi trước. Viết vào thời điểm mà các hệ thống chính trị dễ bị bạo ngược hoặc cai trị bởi đám đông, những người sáng lập nước Mỹ đang tìm cách vạch ra một lộ trình mới. Nhưng họ không cho rằng họ đang soạn thảo một văn bản có giá trị mãi mãi. Không có kỳ vọng nào rằng những gì hiệu quả vào năm 1787 sẽ hiệu quả vào năm 2024. Ngược lại, những người soạn thảo đã đảm bảo rằng hiến pháp có thể được sửa đổi, để nó có thể phát triển và lớn mạnh như đất nước đã từng. Họ đang soạn thảo "những thỏa hiệp chính trị về mọi vấn đề", chứ không phải tuyên bố thánh thư cho mọi thời đại.
BỎ LỠ MỤC TIÊU
Chemerinsky đưa ra nhiều đề xuất khác nhau để cập nhật và sửa chữa hệ thống, cuối cùng kết luận rằng nước Mỹ cần một hiến pháp mới. Ưu tiên hàng đầu của ông là bãi bỏ hoặc cải cách Đại cử tri đoàn. Nhưng ngay cả khi điều này được thực hiện, nó cũng sẽ không thay đổi cơ bản bối cảnh hiến pháp và chính trị. Với tất cả những điều vô lý của nó, và với tất cả sự chú ý mà nó nhận được sau mỗi bốn năm, Đại cử tri đoàn đã bầu ra một tổng thống chỉ thua phiếu phổ thông hai lần kể từ thế kỷ XIX, khi họ thua ba lần.
Đúng vậy, hai lần đó bao gồm hai trong sáu cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất, vào năm 2000 và 2016, cả hai đều dẫn đến chiến thắng của Đảng Cộng hòa, và điều tương tự có thể xảy ra một lần nữa trong năm nay. Nhưng việc tập trung vào Đại cử tri đoàn lại bỏ qua vấn đề nhạy cảm: nước Mỹ bị chia rẽ giữa phe đỏ và phe xanh. Mặc dù Đại cử tri đoàn có lợi cho các ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa, nhưng số phiếu phổ thông sẽ có lợi cho đảng Dân chủ. Đại cử tri đoàn đẩy vòng quay tổng thống về phía đỏ, và số phiếu phổ thông sẽ đẩy vòng quay về phía xanh. Chỉ dựa trên cơ sở này, Đảng Cộng hòa sẽ không bao giờ cho phép cải cách.
Cải cách quan trọng thứ hai của Chemerinsky liên quan đến Thượng viện, nơi ông cho rằng đại diện nên được phân bổ lại để phản ánh nhân khẩu học thay vì địa lý. Chemerinsky thừa nhận rằng việc phân bổ bình đẳng các thượng nghị sĩ giữa các tiểu bang là "thiết yếu để tạo ra Hiến pháp", ngay cả khi điều đó khiến "Thượng viện trở nên phi dân chủ ngay từ đầu". Nhưng không rõ liệu điều đó có trở nên kém thiết yếu hơn không, ngay cả khi sự mất cân bằng này "đáng lo ngại hơn nhiều ngày nay vì sự chênh lệch về dân số ... đã tăng lên rất nhiều theo thời gian". Sự bình đẳng trong Thượng viện công nhận sự đóng góp của mỗi tiểu bang có chủ quyền vào dự án của Hoa Kỳ. Việc phân bổ lại các thượng nghị sĩ dựa trên dân số sẽ làm suy yếu điều này. 50 tiểu bang có thể bình đẳng, nhưng một số sẽ bình đẳng hơn những tiểu bang khác.
Hơn nữa, giải pháp của Chemerinsky sẽ nâng cao các trung tâm đô thị của Hoa Kỳ (có xu hướng thiên về Đảng xanh) với cái giá phải trả là các quận nông thôn (có xu hướng thiên về Đảng đỏ), một lần nữa đặt ra câu hỏi tại sao một tập hợp các tiểu bang không thể đồng ý về ngay cả những cải cách vừa phải lại có thể cùng nhau cải tổ toàn bộ hệ thống. Đảng Cộng hòa hoàn toàn nhận thức được rằng họ được hưởng lợi từ tình trạng hiện tại coi trọng địa lý hơn nhân khẩu học.
Thừa nhận điều này, Chemerinsky chỉ ra rằng các cải cách lớn về trật tự chính trị của Hoa Kỳ luôn phải diễn ra trong thời kỳ chia rẽ lớn và thường phải trả giá đắt. Rõ ràng nhất là phải có một cuộc nội chiến để xóa bỏ chế độ nô lệ. Nhưng nếu một nỗ lực đảo chính và một cuộc nổi loạn bạo lực tại Điện Capitol không đủ để thuyết phục những người Cộng hòa về nhu cầu thay đổi, thì không rõ điều gì sẽ đủ.
CÔNG LÝ CỦA SỰ MƠ HỒ
May mắn thay, có một giải pháp tiềm năng đơn giản hơn. Tất cả những sai sót cơ bản mà Chemerinsky xác định đều có thể được tòa án khắc phục, ngoại trừ đại diện thượng nghị sĩ và Đại cử tri đoàn. Gerrymandering, tài chính chiến dịch, quyền tự do ngôn luận và các vấn đề khác đều có thể - và đã - được đưa ra trước tòa án. Kể từ vụ Marbury kiện Madison (1803), thẩm quyền của Tòa án Tối cao trong việc giải quyết các vấn đề hiến pháp gây chia rẽ là rất lớn, nếu không muốn nói là không thể nghi ngờ.
Kể từ khi lao đầu vào mớ bòng b**g những câu đố về hiến pháp vào buổi bình minh của nền cộng hòa, Tòa án chưa bao giờ lùi bước. Vào nhiều thời điểm khác nhau, Tòa án đã khẳng định tính hợp hiến của chế độ nô lệ, duy trì việc phân chia khu vực bầu cử, trao cho các tập đoàn quyền tự do ngôn luận giống như công dân và cấm các tiểu bang quản lý ngân hàng, súng và chăm sóc sức khỏe. Tòa án đã chứng minh rằng họ sẵn sàng công nhận các quyền hiến định và tước bỏ chúng. Như Alexis de Tocqueville đã tiên đoán, mọi vấn đề chính trị ở Hoa Kỳ cuối cùng đều trở thành vấn đề tư pháp.
Nhưng thẩm quyền của Tòa án Tối cao không phải là vấn đề đáng lo ngại. Mặc dù một số nhà bình luận có thể than thở về thực tế là một cơ quan không được bầu lại nắm giữ quyền lực như vậy, nhưng vai trò của ngành tư pháp là một đặc điểm cốt lõi của nền dân chủ tự do. Đây là biện pháp bảo vệ quan trọng để ngăn nhà nước đi theo con đường chuyên quyền hoặc cai trị của đám đông chính trị gia. Nhưng thực sự đáng lo ngại khi Tòa án Tối cao trở thành một cơ quan chính trị hơn là một cơ quan tư pháp.
Đúng vậy, Tòa án chưa bao giờ thoát khỏi chính trị và chủ nghĩa bè phái. Marbury được viết bởi Chánh án John Marshall, người từng là Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống John Adams trước khi được bổ nhiệm vào vị trí thẩm phán. Nhưng ngay cả khi phán quyết của Marshall bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoài tư pháp, thì cuối cùng nó vẫn tự đứng vững. Ngược lại, các thẩm phán Tòa án Tối cao sau này ít thành thạo hơn trong việc đưa ra các quyết định chính trị của mình thành các quyết định tư pháp.
Cho đến thế kỷ này, giai đoạn rõ ràng nhất của sự chính trị hóa rõ ràng là thời kỳ Lochner 1897-1937, lên đến đỉnh điểm trong các cuộc đụng độ giữa Tòa án và Tổng thống Franklin D. Roosevelt. Năm trong số chín thẩm phán của Tòa án đã kịch liệt phản đối Chính sách kinh tế mới và tìm cách bóp nghẹt nó trong cái nôi của nó. Chánh án Charles Evans Hughes, một cựu ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa, liên tục tham gia cùng "Bốn kỵ sĩ" bảo thủ tại Tòa án để bãi bỏ các chính sách chủ chốt như Đạo luật Phục hồi Công nghiệp Quốc gia năm 1933, cũng như các nỗ lực của chính quyền Roosevelt nhằm quản lý khai thác than và nông nghiệp. Mỗi biện pháp được coi là nằm ngoài thẩm quyền hiến định của Quốc hội hoặc Nhà Trắng.
Cơ sở trí tuệ bề ngoài cho sự moi ruột chính sách của chính phủ này là cam kết của Four Horsemen đối với "chủ nghĩa nguyên bản". Họ khăng khăng rằng ý nghĩa của Hiến pháp đã được xác định tại thời điểm phê chuẩn, họ tuyên bố rằng họ có nghĩa vụ phải diễn giải văn bản của nó theo đó. Bất chấp việc những người sáng lập đã từ chối cách tiếp cận này một cách rõ ràng. Vấn đề với chủ nghĩa nguyên bản không chỉ là nó không phù hợp với ý định ban đầu; mà còn là nó không phù hợp với thực tế.
Như bất kỳ nhà sử học có năng lực nào cũng sẽ chỉ ra, không thể biết chính xác những nhân vật lịch sử đang nghĩ gì khi họ đưa ra những quyết định quan trọng. Điều tốt nhất mà các nhà sử học có thể làm là đưa ra những diễn giải hoặc suy luận dựa trên bằng chứng. Không giống như các thẩm phán Tòa án Tối cao, họ không cho rằng các giả thuyết của họ nên được sử dụng để làm cơ sở cho luật pháp và chính sách đương thời ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người.
Tuy nhiên, chủ nghĩa nguyên bản - hoặc ít nhất là đứa con hoang của nó, "chủ nghĩa văn bản" - vẫn tồn tại. Dưới bàn tay chỉ đạo của cố Antonin Scalia và người theo ông, Clarence Thomas, nó đã trở thành triết lý tư pháp nổi bật nhất của Tòa án trong những thập kỷ gần đây. Như Elena Kagan, người được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm, đã nói với Thượng viện trong phiên điều trần phê chuẩn của bà: “Bây giờ tất cả chúng ta đều là những người theo chủ nghĩa nguyên bản.”
CHỐNG LỬA BẰNG NƯỚC
Vào những năm 1930, Roosevelt đã thắng thế khi đánh bại Tứ Kỵ Sĩ trong trò chơi chính trị của chính họ. Khi thảo luận về cải cách Tòa án Tối cao trong một trong những "cuộc trò chuyện bên lò sưởi" được phát sóng trên toàn quốc, ông đã hỏi làm thế nào để Tòa án có thể "tiếp tục nhiệm vụ cao cả của mình là xây dựng lại một hệ thống luật sống dựa trên Hiến pháp". Ông đề xuất giải pháp là bổ sung một thẩm phán mới cho mỗi thẩm phán đương nhiệm trên 70 tuổi. Trên thực tế, điều này có nghĩa là phải bổ sung sáu thẩm phán mới vào tòa án ngay lập tức.
Kế hoạch "gói gọn tòa án" của Roosevelt không đạt được tiến triển nào; nhưng ông cũng không cần điều đó. Với ý tưởng cải cách lan tỏa khắp Washington, văn bản luật New Deal tiếp theo được đưa ra trước tòa án đã được duy trì hợp lệ. Rốt cuộc thì New Deal cũng hợp hiến.
Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã cố gắng thực hiện một động thái tương tự với các cải cách mà ông đề xuất vào mùa hè này. Nhưng giống như Roosevelt, các cải cách mà ông đề xuất sẽ duy trì vị thế của Tòa án trước tiên là một cơ quan chính trị, sau đó là một cơ quan pháp lý. Ví dụ, việc đưa ra giới hạn nhiệm kỳ và một bộ quy tắc đạo đức ràng buộc có thể kiềm chế Tòa án, nhưng sẽ không thay đổi được quy trình bổ nhiệm mang tính chính trị hoặc bản chất chính trị của Tòa án.
Chemerinsky cũng mắc phải sai lầm tương tự. Ông đã đúng khi lưu ý rằng Tòa án ngày nay đã làm suy yếu nền dân chủ Hoa Kỳ với các phán quyết như Citizens United kiện Ủy ban Bầu cử Liên bang (2010), cho phép các tập đoàn "chi những khoản tiền không giới hạn" cho các cuộc bầu cử. Nhưng khi nhắc lại đề xuất về giới hạn nhiệm kỳ của thẩm phán, ông cho rằng các thẩm phán "phần lớn được cách ly khỏi chính trị đa số", trong khi thực tế họ là những người theo đảng phái chính trị ngay từ đầu. Giới hạn nhiệm kỳ có thể giải quyết những điều vô lý như thực tế là Thomas đã làm việc tại Tòa án kể từ khi một số luật sư trình diện trước ông được sinh ra. Nhưng chúng sẽ không thay đổi được thực tế rằng Thomas là một người theo đảng phái không hối hận và sẽ có một người khác kế nhiệm.
Thách thức thực sự đối với nước Mỹ là chuyển sang một hệ thống mà các quyết định của tòa án không được đưa ra bởi "thẩm phán Dân chủ" hay "thẩm phán Cộng hòa", mà chỉ bởi các thẩm phán. Để các thẩm phán Tòa án Tối cao không chỉ là "chính trị gia mặc áo choàng", quy trình bổ nhiệm cần phải được cải tổ hoàn toàn.
HOA KỲ NGOẠI LỆ
Không có quốc gia nào khác giao toàn bộ việc lựa chọn các viên chức tư pháp hàng đầu cho các nhánh hành pháp và lập pháp. Ví dụ, tại Vương quốc Anh, Ngài Thủ tướng sẽ giới thiệu một ứng cử viên cho thủ tướng, nhưng chỉ sau khi ủy ban bổ nhiệm tư pháp hoàn tất thẩm định. Khi có một vị trí trên ghế thẩm phán, các thẩm phán (và luật sư cao cấp) đáp ứng các tiêu chí sẽ được mời nộp đơn và một số sẽ được lựa chọn để phỏng vấn trước một hội đồng gồm các thẩm phán cao cấp và luật sư. Ngài Thủ tướng là tiếng nói duy nhất của đảng phái. Sau khi phỏng vấn nhiều ứng cử viên, hội đồng sẽ đưa ra khuyến nghị cho chính phủ. Mặc dù thủ tướng có thể từ chối người được đề cử, nhưng điều này không bao giờ xảy ra.
Quy trình bổ nhiệm của Vương quốc Anh không đảm bảo rằng các thẩm phán không bị chỉ trích và cáo buộc thiên vị chính trị; nhưng nó đảm bảo rằng những đòn như vậy hiếm khi xảy ra. Khi Tòa án Tối cao Anh thách thức các yếu tố trong chiến lược của chính phủ nhằm rút nước này khỏi Liên minh châu Âu, các phương tiện truyền thông cánh hữu đã cố gắng bôi nhọ các thẩm phán chủ tọa là "kẻ thù của nhân dân". Nhưng không giống như ở Hoa Kỳ, nơi mà vụ kiện tụng như vậy sẽ leo thang thành một cuộc ẩu đả chính trị, những cuộc tấn công này đã sớm bị lãng quên. Tòa án Tối cao đã ban hành phán quyết, chính phủ tuân thủ và Vương quốc Anh rời khỏi EU theo cách hợp hiến.
Tương tự như vậy đối với các nền dân chủ tự do hàng đầu khác, bao gồm Canada, Đức và Pháp. Mặc dù có thể có nhiều mức độ tham gia chính trị khác nhau trong mỗi hệ thống, nhưng nó luôn được kiềm chế và các thẩm phán vẫn đứng trên cuộc chiến đảng phái.
Một Tòa án Tối cao Hoa Kỳ phi đảng phái sẽ mang đến cái nhìn khách quan về chính trị để giải quyết các vấn đề như phân chia khu vực bầu cử, phá thai, quyền sở hữu súng hoặc các thách thức trong tương lai đối với kết quả bầu cử. Tòa án này cũng có thể khôi phục lại một số uy tín mà tòa án này đã mất trong những thập kỷ gần đây. Trước đây là một trong những tổ chức được kính trọng nhất trong nền chính trị Hoa Kỳ, với tỷ lệ chấp thuận trên 60%, các quyết định của tòa án này thường được tôn trọng. Tuy nhiên, dưới sự quản lý của Roberts, tòa án này đã trở thành một tổ chức không xứng đáng được tôn trọng và không thể chỉ huy. Theo Trung tâm nghiên cứu Pew, chỉ có 47% người Mỹ chấp thuận tòa án này - mức thấp gần như lịch sử. Những phát hiện như vậy cho thấy ngay cả một số người ủng hộ Trump cũng hoài nghi về tòa án mà họ yêu thích.
Chemerinsky lập luận rằng toàn bộ hiến pháp cần phải bị xóa bỏ, và có thể là như vậy. Nhưng cải cách Tòa án Tối cao có thể là đủ. Và với Đại cử tri đoàn và Thượng viện bị cấm, việc đưa Tòa án vào thế kỷ 21 có thể phải đủ.
🍀 Theo Erwin Chemerinsky, “Không có nền dân chủ nào tồn tại mãi mãi: Hiến pháp đe dọa Hoa Kỳ như thế nào?” NXB Liveright, 2024.
🍀 Nicholas Reed Langen, nghiên cứu viên về tái lập hiến năm 2021, biên tập Tạp chí Chính sách công của LSE và viết về hiến pháp Anh cho The Justice Gap (Kẽ hở của Pháp luật).

Án lệ số 03/2016/ALÁn lệ số 03 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và đượ...
23/10/2024

Án lệ số 03/2016/AL
Án lệ số 03 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ số 03
Quyết định giám đốc thẩm số 208/2013/DS-GĐT ngày 03-5-2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Ly hôn” tại Hà Nội giữa nguyên đơn là chị Đỗ Thị Hồng với bị đơn là anh Phạm Gia Nam; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Gia Phác, bà Phùng Thị Tài, anh Phạm Gia Ơn, chị Phạm Thị Lữ, anh Bùi Văn Đáp, chị Đỗ Thị Ngọc Hà.
Khái quát nội dung của án lệ số 03
Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
– Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;
– Điều 242 của Bộ luật dân sự năm 1995;
– Khoản 2 Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 1995.
Khái quát nội dung vụ án:
Chị Đỗ Thị Hồng và anh Phạm Gia Nam kết hôn năm 1992, có đăng ký tại UBND xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Sau chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2008 đến nay. Ngày 18-4-2009, chị Hồng khởi kiện xin ly hôn anh Nam, anh Nam cũng đồng ý. Về tài sản: Trong quá trình chung sống thì vợ chồng có xây nhà hai tầng vào năm 2002 (năm 2005 xây thêm một tum để chống nóng), nhà được xây trên thửa đất 80m2 tại xóm Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín. Về nhà, vợ chồng thống nhất là tài sản chung hai vợ chồng. Riêng về đất thì các bên không thống nhất được với nhau.
Theo chị Hồng: Đất là của gia đình ông Phạm Gia Phác (bố đẻ anh Nam) được cấp đất giãn dân năm 1992, sau đó gia đình ông Phác đã họp và tuyên bố cho vợ chồng chị diện tích đất, không làm giấy tờ. Năm 2001, ông Phác sang báo và anh Nam đi làm thủ tục cấp sổ đỏ nên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Phạm Gia Nam nên đất này là tài sản chung của vợ chồng. Chị yêu cầu được sử dụng nhà và đất nêu trên và thanh toán 1/2 giá trị đất và tài sản trên đất cho anh Nam như giá mà Hội đồng định giá đã đưa ra.
Theo anh Nam: Thửa đất này bố mẹ anh được cấp giãn dân năm 1992, bố mẹ chỉ cho vợ chồng ở nhờ chứ chưa cho vì gia đình anh còn đông anh em. Năm 2001, anh tự kê khai làm giấy tờ đất, gia đình anh không biết. Quan điểm của anh là trả lại đất cho ông Phác.
Theo ông Phác và bà Tài (bố mẹ anh Nam): Nguồn gốc đất là của ông được Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo cấp đất giãn dân năm 1992, ông có xây một căn nhà cấp 4 trên đó. Năm 1993, gia đình ông cho vợ chồng anh Nam, chị Hồng ra đó làm ăn sinh sống chứ không cho đất vì vợ ông bị liệt 15 năm nay, ông và anh Ơn (em trai anh Nam) phải chăm sóc, nguyện vọng của gia đình là để mảnh đất này cho anh Ơn vì anh Ơn chưa có chỗ ở. Khi gia đình được cấp đất giãn dân thì gia đình chỉ có 4 người là ông, bà Tài, chị Lữ, anh Ơn (còn anh Nam đã thoát ly khỏi địa phương). Khi chị Hồng xin ly hôn anh Nam thì gia đình mới biết anh Nam đã tự động sang tên đất từ năm 2001. Nay ông, bà yêu cầu anh Nam, chị Hồng trả lại đất cho ông, bà.
Tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín và bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đều cho rằng quyền sử dụng 80m2 đất trên thuộc về hộ gia đình ông Phác, không phải là tài sản chung của vợ chồng anh Nam chị Hồng. Tuy nhiên, bản án sau đó đã được kháng nghị. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cho rằng việc Tòa án các cấp nhận định rằng anh Nam đi làm giấy tờ đất ông Phác không biết và việc chị Hồng khai gia đình chồng đã cho vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, để xác định diện tích đất 80m2 tại thôn Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội là tài sản thuộc hộ gia đình ông Phạm Gia Phác; đồng thời, buộc anh Nam, chị Hồng trả lại đất cho gia đình ông Phác, là không đúng. Cần phải xác định diện tích đất tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng anh Nam, chị Hồng và khi chia phải coi anh Nam có công sức đóng góp nhiều hơn để chia theo công sức của mỗi bên và cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Nội dung án lệ số 03
Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo thì năm 2001 xã tổ chức cho các hộ dân trong xã Vân Tảo đăng ký kê khai để xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và các hộ kê khai tại trụ sở thôn xóm (BL 103). Tất cả các hộ dân trong xã đều được biết về chủ trương kê khai đất này. Ông Phác là chủ đất nhưng không đi kê khai. Anh Nam đang ở trên đất và là người đi kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận. Ngày 21-12-2001 anh Nam được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 đứng tên hộ ông Phạm Gia Nam. Vợ chồng anh chị đã xây nhà 2 tầng kiên cố vào năm 2002 và đến năm 2005 thì xây thêm tum tầng 3. Ông Phác và các anh chị em trong gia đình anh Nam đều biết việc xây dựng trên của vợ chồng anh Nam chị Hồng, nhưng cũng không ai có ý kiến gì. Như vậy, từ khi được cấp giấy chứng nhận (2001) cho đến khi có việc ly hôn của anh Nam, chị Hồng (2009), gia đình ông Phác cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Phác là đã cho anh Nam và chị Hồng diện tích đất nêu trên. Do đó, việc ông Phác và anh Nam khai rằng anh Nam tự ý kê khai giấy tờ đất, ông Phác không biết là không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị Hồng về việc gia đình ông Phác đã cho anh chị diện tích đất trên, là có cơ sở.
Bình luận án lệ số 03
Án lệ số 03/2016/AL (án lệ số 03) xoay quanh tranh chấp đất đai nhằm phân chia tài sản trong vụ án ly hôn. Án lệ số 03 lập luận việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cha mẹ và con cái có thể được xác lập qua hành vi cụ thể của các bên mà không cần văn bản. Ngoài ra, việc tặng cho của cha mẹ chồng khi không có bằng chứng chỉ cho riêng con trai thì cần được hiểu là cho cả hai vợ chồng người con – tức đây được xem như tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
Theo án lệ số 03, cha mẹ chồng đã có hành vi cho vợ chồng người con trai sử dụng đất làm nhà nhưng không có giấy tờ chuyển nhượng. Tuy vậy lại có ba yếu tố pháp lý sau:
Thứ nhất, hai vợ chồng đã xây nhà kiên cố trên đất. Việc đầu tư tiền bạc, công sức xây dựng căn nhà khang trang ba tầng đã thể hiện vợ chồng người con có ý định sinh sống lâu dài trên đất.
Thứ hai, cả vợ chồng đã ở công khai liên tục 16 năm nhưng gia đình chồng không có bất kì phản đối hay khiếu kiện lên cơ quan thẩm quyền. Nếu nhà chồng không đồng ý việc tặng cho quyền sử dụng đất thì liệu có “bình chân như vại” khi hai vợ chồng xây dựng nhà kiên cố và ở tận 16 năm?
Thứ ba, người chồng trong thời kì hôn nhân đã tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất và được Uỷ ban nhân dân xã cấp chứng nhận đứng tên hộ gia đình. Sổ đỏ do hộ gia đình người con trai đứng tên, tức cả vợ và chồng đều có chung quyền sử dụng đất. Việc cha mẹ chồng khai con trai tự ý đi đăng ký nên họ không biết là vô lý vì với tư cách là chủ sở hữu, cha mẹ chồng phải biết và có trách nhiệm đối với tài sản cũng như thực hiện các thủ tục pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, việc xây dựng nhà cửa do cả hai vợ chồng cùng nhau tiến hành. Việc tạo lập, xây dựng do công sức đóng góp của cả hai. Hơn nữa sổ đỏ không đứng tên riêng người con mà đứng tên hộ gia đình, tức cả vợ và chồng đều xác lập quyền sử dụng. Luật Hôn nhân và gia đình quy định khi không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Ở đây cha mẹ chồng kháng cáo với lý do chưa cho vợ chồng người con đất chứ không phải việc chỉ cho riêng con trai mà không cho con dâu. Án lệ số 03 nhận định quyền sử dụng đất là tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng và khi chia phải căn cứ theo công sức đóng góp, nhu cầu về chỗ ở nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên là phù hợp với nguyên tắc phân chia tài sản của Luật Hôn nhân và gia đình.
Pháp luật ghi nhận quy tắc chia đôi tài sản chung khi ly hôn, nhưng cần xét đến những yếu tố khác như hoàn cảnh, công sức đóng góp của các bên. Quy định này phù hợp với nguyên tắc vợ chồng bình đẳng nhau về quyền, nghĩa vụ trong hôn nhân. Tuy nhiên trên thực tế, quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã” đã ăn sâu trong nếp sống nhiều gia đình. Vì vậy cha mẹ khi cho tài sản (đặc biệt là đất) thường chỉ cho riêng con ruột chứ không cho cả dâu và rể. Đây là suy nghĩ ông bà ta từ xưa đến nay vẫn phổ biến và cũng không phải là một hủ tục cần bị bài trừ hay xoá bỏ.
Án lệ quyết định khi chia phải xem người chồng có công sức đóng góp nhiều hơn và cần phải căn cứ vào nhu cầu chỗ ở để chia hiện vật, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Án lệ số 03 nhìn chung đã có cân nhắc đến nguồn gốc đất (được cha mẹ chồng cho) khi xác định người chồng có đóng góp nhiều hơn. Đây là hướng giải quyết hợp lý nhưng chưa thật toàn diện. Vì bản chất đất ban đầu do cha mẹ chồng cho, không phải do hai vợ chồng tự bỏ công bỏ sức để có nên việc người chồng muốn “nại” lý do tự ý đăng ký để không mất đất cha mẹ vào “tay” người vợ là có thể hiểu được. Dù những căn cứ bên nhà chồng đưa ra là không thuyết phục nhưng xét về lẽ công bằng, sẽ hợp lý hơn nếu Toà án xét đến hoàn cảnh của người vợ để xác định liệu người vợ có thật sự cần đất để sinh sống không hay chỉ tranh thủ “giành” đất từ nhà chồng. Nếu người vợ có tài chính ổn định thì chỉ nên chia giá trị căn nhà – tài sản mà người vợ thật sự bỏ công sức đóng góp.
Nhìn chung, trong án lệ này, chủ thể tặng cho quyền sử dụng đất là cha mẹ, chủ thể được tặng cho quyền sử dụng đất là vợ chồng người con, đều là các thành viên trong gia đình. Như vậy, nếu chủ thể tặng cho là ông bà; chủ thể được tặng cho là vợ chồng người cháu, một hoặc nhiều người cháu, một hoặc nhiều người con thì khi giải quyết các vụ việc có các tình tiết tương tự trong án lệ số 03/2016/AL, Tòa án có thể nghiên cứu xem xét áp dụng tương tự các giải pháp pháp lý của án lệ này.

Address

Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn Chia sẻ kiến thức Pháp luật 24/7 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share