Công ty Luật TNHH Gia Phú

Công ty Luật TNHH Gia Phú Tiếp nhận và thực hiện các dịch vụ pháp lý: Tham gia tố tụng tại phiên toà, Tư vấn pháp lý, Thực hiện các thủ tục về doanh nghiệp, soạn thảo đơn từ,...

Tư vấn pháp luật chuyên sâu trong các lĩnh vực:
- Hình sự
- Dân sự
- Đất đai, sổ đỏ
- Hôn nhân gia đình.
- Thành lập doanh nghiệp và cấp các loại giấy phép

QUY ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014Kể từ ngày 01/07/2015 Luật doanh nghiệp 2014 được áp d...
03/01/2017

QUY ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

Kể từ ngày 01/07/2015 Luật doanh nghiệp 2014 được áp dụng, nhiều quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã thay đổi so với nội dung Luật doanh nghiệp 2005.Đồng thời là quy định mang tính đột phá trong việc cho doanh nghiệp quyết định số lượng người đại diện theo pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hội nhập nhanh hơn, mạnh hơn vào nền kinh tế quốc tế, tận dụng được các cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật. Quy định này cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện duy nhất của doanh nghiệp không thực hiện các yêu cầu của thành viên, cổ đông trong quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp trong nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công ty. Công ty Luật Gia Phú xin giới thiệu một số quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và khách hàng có thể cần tham khảo trước khi quyết định thành lập doanh nghiệp.
NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP LÀ AI?
Theo như quy định tại Luật doanh nghiệp 2014, cụ thể tại Điều 13: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Người đại diện theo pháp luật đại diện cho doanh nghiệp giao tiếp với bên ngoài và quyết định các vấn đề quan trọng như việc tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp.
DOANH NGHIỆP CÓ THỂ CÓ MẤY NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT?
Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT LÀ GÌ?
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm:
Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
Nếu không có người đại diện theo pháp luật thì sao?
Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.
Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.
Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT?
Người đại diện theo pháp luật có thể là cá nhân:
Trên 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự và không bị cấm tại Luật Doanh Nghiệp.
Đến từ bất cứ đâu, không phân biệt nơi lưu trú, quốc tịch.
– Được xác nhận thường trú tại Việt Nam. Nếu là người nước ngoài thì người đó phải ở Việt Nam trong suốt thời hạn của nhiệm kỳ và phải có Thẻ tạm trú theo quy định tại Nghị định 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001.
– Đối với con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) – Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật.
– Đối với người được giám hộ – Người giám hộ là người đại diện theo pháp luật.
– Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự – Người được Toà án chỉ định là người đại diện theo pháp luật.
– Đối với hộ gia đình – Chủ hộ là người đại diện theo pháp luật.
Đại diện Pháp Luật thường giữ những chức vụ quan trọng trong công ty như Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/Quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc, phải có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chính của công ty.
MỘT NGƯỜI CÓ THỂ LÀM NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA MẤY DOANH NGHIỆP?
– Việc bổ nhiệm, thuê Tổng Giám đốc/ Giám đốc của doanh nghiệp là công việc nội bộ của doanh nghiệp. Do đó, việc thuê ai làm Tổng Giám đốc/ Giám đốc phụ thuộc vào hợp đồng giữa doanh nghiệp và người được doanh nghiệp thuê làm Tổng Giám đốc/ Giám đốc. Luật doanh nghiệp không hạn chế số lượng Doanh nghiệp tối đa mà một người có thể làm Tổng Giám đốc/ Giám đốc. Có nghĩa là, một người có thể làm Tổng Giám đốc/ Giám đốc cho nhiều Doanh nghiệp, nếu họ có khả năng và Doanh nghiệp đồng ý.
– Đại diện pháp luật trong từng loại hình công ty:
Trong mỗi loại hình công ty, Đại diện Pháp Luật có những chức danh khác nhau và luật quy định khác nhau về việc thành lập thêm doanh nghiệp. Vì thế cần lưu ý:
Công ty TNHH một thành viên:
– Chức danh Đại diện Pháp Luật: Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Chủ tịch công ty/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc.
– Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Chủ tịch công ty/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc Công Ty TNHH một thành viên đều có thể làm Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Chủ tịch công ty/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc tại bất kỳ công ty nào.
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên:
– Chức danh Đại diện Pháp Luật: Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc.
– Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc Công Ty TNHH hai thành viên trở lên đều có thể làm Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Chủ tịch công ty/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc tại bất kỳ công ty nào.
Công ty Cổ phần:
– Chức danh Đại diện Pháp Luật: Chủ tịch Hội Đồng Quản trị/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc.
– Tổng Giám đốc/ Giám đốc Công Ty Cổ Phần không còn bị cấm làm Tổng Giám đốc/ Giám đốc tại bất kỳ công ty nào khác, và vẫn có thể làm Đại diện Pháp Luật của công ty khác với chức danh Chủ tịch Hội đồng Quản trị/ Chủ tịch Hội đồng thành viên/ Chủ tịch công ty.
Doanh nghiệp tư nhân:
– Chức danh Đại diện Pháp Luật: Tổng Giám đốc/ Giám đốc.
– Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
– Tổng Giám đốc/ Giám đốc Doanh nghiệp Tư Nhân đều có thể làm Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Chủ tịch công ty/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc tại bất kỳ công ty nào.
Hộ kinh doanh cá thể:
– Chủ hộ là người đại diện theo pháp luật
– Theo khoản 2 điều 50 Nghị định 43/2010/NĐ-CP: “Cá nhân, hộ gia đình chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc.”
– Chủ hộ kinh doanh cá thể đều có thể làm Chủ tịch Hội Đồng Thành viên/ Chủ tịch công ty/ Tổng Giám đốc/ Giám đốc tại bất kỳ công ty nào.

Luật doanh nghiệp 2014 có khá nhiều thay đổi về mặt quản trị công ty, trong đó có thay đổi về người đại diện theo pháp luật. Luật lần này cho phép các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật. Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nhiệm vụ, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ được quy định trong điều lệ công ty.
Thay đổi này ảnh hưởng rất lớn đến mô hình tổ chức và quản trị công ty nhưng theo hướng quản trị công ty hiện đại. Mỗi giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty – khi đó sẽ có quyền đại diện cho công ty trong phạm vi quyền hạn họ được trao. Và một khi họ thực hiện đúng thẩm quyền của mình, mọi hành động của họ sẽ ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp.
Để có thể thích ứng được với quy định mới, doanh nghiệp sẽ buộc phải phân định rõ quyền, nhiệm vụ, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật, đồng thời, đối tác sẽ phải tìm hiểu tư cách và thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật trước khi quyết định làm ăn với doanh nghiệp.
===============================
Công ty Luật Gia Phú có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý với đội ngũ nhân viên là các luật sư uy tín, giàu kinh nghiệm cùng các nhân viên khác là các cử nhân luật, cử nhân kinh tế, chúng tôi cung cấp các dịch vụ pháp lý chất lượng sau:
• Tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực doanh nghiệp, dân sự, hình sự, lao động, kinh doanh thương mại…
• Đăng ký thành lập mới doanh nghiệp, thay đổi trụ sở/ ngành nghề kinh doanh…
• Xin cấp phép đầu tư dự án, cấp phép xây dựng nhà ở, công trình
• Đăng ký bảo hộ quyền tác giả, sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp…
• Tư vấn thu hồi công nợ
• Dịch vụ luật sư riêng cho cá nhân, tổ chức
Với phương châm hoạt động là: “ Lấy tâm làm gốc” Công ty Luật Gia Phú cam kết đem lại cho Quý khách hàng những dịch vụ chất lượng cao, xứng đáng là nơi Quý khách gửi trọn niềm tin.
Rất mong nhận được sự hợp tác từ phía Quý khách hàng.
========================
Quý khách có nhu cầu sử dụng vụ của Công ty Luật Gia Phú vui lòng liên hệ theo:
CÔNG TY LUẬT TNHH GIA PHÚ
Đại diện theo pháp luật: Luật sư Trần Quang Khải.
Chứng chỉ hành nghề Luật sư số: 2178/LS-CCHN do Bộ Tư Pháp cấp ngày 31/05/2005
Địa chỉ: Số 104 ngõ Thái Hà, phố Thái Hà, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Tel: (84.4)62754366
Hotline: 0936891996
Email: [email protected]

20/12/2016

Phân biệt : “ tự thú ” và “ đầu thú ”
Để giúp phân biệt “tự thú” và “đầu thú” tại Mục 7, Phần I Công văn số 81/2002 của Tòa án nhân dân Tối cao, khái niệm “tự thú” và “đầu thú” giải thích như sau:
Tự thú là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.
Đầu thú là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, khẳng định rằng "tự thú" và "đầu thú" là hai hành vi hoàn toàn khác nhau. Cụ thể:
- Tự thú là mình tự nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội.
- Đầu thú là có người đã biết mình phạm tội, bản thân người phạm tội biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp tự thú và trong trường hợp đầu thú:
Theo quy định tại điểm o, Khoản 1, Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 người phạm tội tự thú sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có quy định đầu thú là tình tiết giảm nhẹ, nhưng khoản 2 điều 46 có quy định: “Khi quyết định hình phạt, tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Như vậy việc người phạm tội đầu thú có thể được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Khoản 2, Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 199, sửa đổi bổ sung năm 2009. Đến nay chưa có văn bản pháp quy nào hướng dẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội đầu thú. Do đó để hướng dẫn các vấn đề về nghiệp vụ đảm bảo cho việc áp dụng các quy định một cách thống nhất, Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn cụ thể trong Công văn số 81/2002 như sau:
- Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụng tình tiết giảm nhẹ "tự thú" quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự năm 1999 đối với người phạm tội.
- Nếu có người đã biết hành vi phạm tội của người phạm tội nhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Tuy nhiên, cần chú ý là, trong trường hợp này, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc có những việc làm khác thuộc trường hợp được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
➖Công ty Luật TNHH Gia Phú
➖104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
➖Hotline: 04 62754366

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP1 . Thủ tục chung thành lập công ty1. Người thành lập doanh nghiệp nộp ...
18/12/2016

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1 . Thủ tục chung thành lập công ty
1. Người thành lập doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh.
2. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không quy định tại Luật này.
4. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gắn với dự án đầu tư cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.
II. Những điều cơ bản cần biết khi thành lập công ty
1. Hồ sơ cần chuẩn bị trước khi thành lập:
- Yêu cầu hồ sơ: chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu (sao y không quá 3 tháng).
- Lựa chọn tên công ty
- Chọn địa chỉ trụ sở, địa điểm hoạt động (nếu có), các đơn vị trực thuộc (nếu có) (Không cần chứng minh các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng).
- Vốn điều lệ/Vốn đăng ký kinh doanh.
- Lựa chọn ngành nghề đăng ký kinh doanh
2. Thủ tục đăng ký kinh doanh và khắc dấu:
- Đăng ký cấp giấy phép kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh doanh: về nguyên tắc doanh nghiệp được phép hoạt động sau khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Làm con dấu. Trước khi sử dụng doanh nghiệp phải gửi thông báo mẫu dấu đến cơ quan đăng kí kinh doanh.
3. Thủ tục sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
- Kê khai thuế: lập hồ sơ khai thuế ban đầu tại chi cục thuế quận (nơi doanh nghiệp có trụ sở chính).
- Mua/tự in hoá đơn.
- Hàng tháng, hàng quý, hàng năm kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
➖Công ty Luật TNHH Gia Phú
➖104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
➖Hotline: 04 62754366

CÁC TRƯỜNG HỢP HOÃN, MIỄN THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙNgười bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt nếu thuộc các di...
16/12/2016

CÁC TRƯỜNG HỢP HOÃN, MIỄN THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt nếu thuộc các diện sau:
- Người bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục.
- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.
- Người bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, được hoãn đến một năm.
- Người phạm tội là lao động duy nhất trong gia đình được hoãn thi hành án đến một năm do nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt. Tuy nhiên nếu người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được hưởng chính sách khoan hồng này.
Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại phạm tội mới, toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
Theo điều 268 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003, người đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú hoặc quản chế nếu chưa chấp hành hình phạt có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt trong các hoàn cảnh sau:
- Với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm sát, tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
Theo Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP, “lập công lớn” là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
“Mắc bệnh hiểm nghèo” là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên, người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị.
- Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
- Người bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được hoãn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật Hình sự. Nếu trong thời gian được hoãn đã lập công, toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.
- Người bị kết án tù về tội ít nghiêm trọng đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà lập công, theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm sát, tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
- Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt có thể đề nghị toà án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
➖Công ty Luật TNHH Gia Phú
➖104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
➖Hotline: 04 62754366

Dàn cảnh trộm 1,7 tỉ đồng giữa phố Sài GònThứ Sáu, ngày 09/12/2016 08:53 AM (GMT+7)Sự kiện: Tin pháp luật, Tin TP Hồ Chí...
09/12/2016

Dàn cảnh trộm 1,7 tỉ đồng giữa phố Sài Gòn
Thứ Sáu, ngày 09/12/2016 08:53 AM (GMT+7)
Sự kiện: Tin pháp luật, Tin TP Hồ Chí Minh
Khi 2 thanh niên bỏ đi, chị H. kiểm tra thì tá hỏa khi biết chiếc túi xách chứa 1,7 tỉ đồng cùng một số giấy tờ tùy thân quan trọng trong xe Camry bị lấy cắp.
Dàn cảnh đụng xe để trộm cắp tài sản
“Soái ca” cấp 3 dàn cảnh cướp hàng của shipper
Dàn cảnh va chạm, cướp xe táo tợn trên đường giữa TPHCM
Dàn cảnh trộm 1,7 tỉ đồng giữa phố Sài Gòn - 1

Hình minh họa

Ngày 8-12, Công an quận Bình Thạnh, TP HCM cho biết đang truy xét 2 nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) dàn cảnh trộm 1,7 tỉ đồng trên xe ô tô hiệu Camry của một phụ nữ.

Theo điều tra ban đầu, khoảng 15 giờ ngày 6-12, chị P.T.T.H. (26 tuổi, ngụ quận Gò Vấp, TPHCM) được tài xế chở đi công chuyện. Đến trước nhà số 23F đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường 22, quận Bình Thạnh do xe bị thủng lốp nên chị H. nói tài xế xuống kiểm tra.

Khi tài xế thay lốp thì bỗng xuất hiện 1 thanh niên người nước ngoài đi xe gắn máy đến phụ giúp. Xúc động vì có người giúp đỡ, chị H. bỏ túi xách xuống chiếc ghế sau rồi bước xuống xe cám ơn người này.

Cùng lúc, xuất hiện 1 nam thanh niên đến gần chiếc xe Camry của chị H. nhìn ngó một lúc thì rủ thanh niên người nước ngoài lên xe bỏ đi. Khi cả hai rời đi, chị H. vào xe kiểm tra thì tá hỏa khi phát hiện chiếc túi xách chứa 1,7 tỉ đồng cùng một số giấy tờ tùy thân không cánh mà bay.

Biết mắc mưu kẻ gian, chị H. liền đến Công an quận Bình Thạnh trình báo.

Theo Sỹ Hưng (Người lao động)

ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA DI SẢN THỪA KẾBLDS năm 2015  đã đưa ra quy định mới về ...
06/12/2016

ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
BLDS năm 2015 đã đưa ra quy định mới về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 623: “thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Như vậy, theo Bộ luật Dân sự năm 2015, việc chia thừa kế phải theo thời hiệu do pháp luật quy định. Tuy nhên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phân ra hai trường hợp cụ thể: đối với bất động sản là 30 năm, đối với động sản là 10 năm. Điều đó có nghĩa là: đối với tài sản là bất động sản, thời hiệu này được kéo dài hơn so với BLDS năm 2005, điều này phù hợp với thực tế hơn, các quyền dân sự của công dân được bảo vệ triệt để hơn, các mâu thuẫn trong tranh chấp dân sự về di sản có điều kiện được giải quyết phù hợp và thỏa đáng hơn.
Đặc biệt, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rất rõ ràng phương án giải quyết hậu quả đối với những di sản thừa kế đã hết thời hiệu khởi kiện 30 năm hoặc 10 năm. Đó là: “Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này”.
Căn cứ vào quy định trên có thể thấy, số phận của những di sản hết thời hiệu khởi kiện đã được định đoạt:
Thứ nhất, nếu người đang quản lý di sản là người thừa kế thì di sản thuộc quyền sở hữu của họ;
Thứ hai, nếu người đang quản lý di sản không phải là người thừa kế thì phân thành 2 trường hợp:
- Nếu người đang quản lý di sản là người đang chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai và phù hợp pháp luật thì di sản thuộc quyền sở hữu của người người này;
- Nếu không có người chiếm hữu, người được lợi về tài sản thì di sản thuộc về Nhà nước.
Quy định trên vừa tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế, vừa nhằm khai thác triệt để công dụng của tài sản.

Quyền khởi kiện, trong đó có khởi kiện về thừa kế là quyền của người dân, được nhà nước và pháp luật bảo hộ. Những quy định mới về quyền khởi kiện trong BLDS năm 2015 là công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền dân sự nói chung, quyền tài sản nói riêng của người dân một cách triệt để.Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
➖Công ty Luật TNHH Gia Phú
➖104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
➖Hotline: 04 62754366

ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA DI SẢN THỪA KẾBLDS năm 2015 đã đưa ra quy định mới về t...
02/12/2016

ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
BLDS năm 2015 đã đưa ra quy định mới về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 623: “thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Như vậy, theo Bộ luật Dân sự năm 2015, việc chia thừa kế phải theo thời hiệu do pháp luật quy định. Tuy nhên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phân ra hai trường hợp cụ thể: đối với bất động sản là 30 năm, đối với động sản là 10 năm. Điều đó có nghĩa là: đối với tài sản là bất động sản, thời hiệu này được kéo dài hơn so với BLDS năm 2005, điều này phù hợp với thực tế hơn, các quyền dân sự của công dân được bảo vệ triệt để hơn, các mâu thuẫn trong tranh chấp dân sự về di sản có điều kiện được giải quyết phù hợp và thỏa đáng hơn.
Đặc biệt, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rất rõ ràng phương án giải quyết hậu quả đối với những di sản thừa kế đã hết thời hiệu khởi kiện 30 năm hoặc 10 năm. Đó là: “Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này”.
Căn cứ vào quy định trên có thể thấy, số phận của những di sản hết thời hiệu khởi kiện đã được định đoạt:
Thứ nhất, nếu người đang quản lý di sản là người thừa kế thì di sản thuộc quyền sở hữu của họ;
Thứ hai, nếu người đang quản lý di sản không phải là người thừa kế thì phân thành 2 trường hợp:
- Nếu người đang quản lý di sản là người đang chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai và phù hợp pháp luật thì di sản thuộc quyền sở hữu của người người này;
- Nếu không có người chiếm hữu, người được lợi về tài sản thì di sản thuộc về Nhà nước.
Quy định trên vừa tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế, vừa nhằm khai thác triệt để công dụng của tài sản.
Quyền khởi kiện, trong đó có khởi kiện về thừa kế là quyền của người dân, được nhà nước và pháp luật bảo hộ. Những quy định mới về quyền khởi kiện trong BLDS năm 2015 là công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền dân sự nói chung, quyền tài sản nói riêng của người dân một cách triệt để.Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
➖Công ty Luật TNHH Gia Phú
➖104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
➖Hotline: 04 62754366

VỀ VIỆC CHUYỂN HÌNH PHẠT TỬ HÌNH THÀNH CHUNG THÂN TẠI BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015         Chuyển hình phạt tử hình thành tù chu...
30/11/2016

VỀ VIỆC CHUYỂN HÌNH PHẠT TỬ HÌNH THÀNH CHUNG THÂN TẠI BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015
Chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các Điều kiện quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự 2015.
1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015, người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình mà thuộc một trong các trường hợp sau đây thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân:
a) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm;
b) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và lập công lớn.
2. “Chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ hoặc người bị kết án đã tích cực tác động để cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em và những người khác khắc phục hậu quả và những người này đã thực hiện việc nộp lại ít nhất ba phần tư giá trị tài sản mà người bị kết án đã tham ô, nhận hối lộ.
3. “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án...). Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.
4. “Lập công lớn” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, truy bắt, Điều tra, xử lý tội phạm không liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “lập công lớn” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.
5. Đối với người bị kết án tử hình thuộc trường hợp hướng dẫn tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm chủ trì, phối hợp với Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp rà soát, báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
Công ty Luật TNHH Gia Phú
- 104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
- Hotline: 04 62754366

ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN VÀ NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU ÝKhoản 1 điều 142 BLDS quy định: "Đại diện theo ủy quyền là đại diện được x...
29/11/2016

ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN VÀ NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý
Khoản 1 điều 142 BLDS quy định: "Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện". Như vậy, người được ủy quyền là người đại diện cho người ủy quyền theo thỏa thuận giữa các bên. Do vậy, ngoài các điểm đặc thù của chế định đại diện thì người được ủy quyền còn chịu sự ràng buộc theo các quy định của pháp luật về hợp đồng ủy quyền.
a. Chủ thể được phép tham gia với tư cách là người nhận ủy quyền chỉ có thể là cá nhân, con người cụ thể.
- Đối với cá nhân, năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự. Nó có từ khi con người sinh ra cho đến khi con người chết đi và không thể đương nhiên bị bác bỏ, hạn chế ngoại trừ pháp luật quy định trong những trường hợp đặc biệt. Khác với cá nhân, năng lực pháp luật của pháp nhân, tổ chức không mặc nhiên mà có. Nó chỉ tồn tại khi pháp nhân, tổ chức đó tồn tại và chấm dứt khi pháp nhân, tổ chức đó không còn. Năng lực pháp luật của pháp nhân hay tổ chức phải phù hợp với mục đích hoạt động của nó.
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (điều 17 BLDS). Chỉ có thông qua những hành vi cụ thể của mỗi một cá nhân con người mới có thể tác động đến những chủ thể khác, tác động đến tài sản và xác lập các quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với người khác. Tuy nhiên hoạt động của pháp nhân, tổ chức hoặc một nhóm người đối với một người thứ ba sẽ phải thông qua người đại diện để đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động, và về nguyên tắc sẽ chỉ có duy nhất một người đại diện. Như vậy, một pháp nhân có thể là đại diện cho một cá nhân hay trong các mối quan hệ dân sự được hay không? Trong thực tế, có một số trường hợp đặc biệt chúng ta vẫn thấy có sự tồn tại của cơ chế đại diện này.
b) Người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người khác khi thực hiện việc đại diện:
Mặc dù người đại diện có thể có những quyền năng rất lớn (theo thỏa thuận hoặc pháp luật cho phép) nhưng tất cả mọi công việc, hoạt động, hành vi của người đại diện luôn phải được thực hiện vì lợi ích của người được đại diện. Người đại diện hoạt động không nhân danh chính bản thân mình và không được vì lợi ích của mình. Người đại diện cho pháp nhân cũng không ngoại lệ, họ phải luôn vì lợi ích của pháp nhân, tổ chức của mình và không thể vì lợi ích cá nhân. Chính vì vậy mà người đại diện không được phép xác lập, thực hiện các giao dịch với chính mình hoặc với người khác mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ một số trường hợp đặc thù (khoản 5, điều 144).
c) Đối tượng của giao dịch ủy quyền chỉ đơn thuần là công việc có thể thực hiện và được phép thực hiện.
Khác với các giao dịch khác, đối tượng của Hợp đồng ủy quyền chỉ đơn thuần là các công việc, hay nói cách khác là các hành vi cụ thể (Điều 581 BLDS). Có thể các công việc này có liên quan tới một tài sản nào đó, nhưng điều đó không có nghĩa tài sản này là đối tượng của giao dịch. Một chủ sở hữu tác động tới tài sản, thực hiện các quyền của mình thông qua những hành vi. Trường hợp họ không có khả năng trực tiếp thực hiện thì bằng ý chí, hành vi của mình, họ có quyền thỏa thuận với chủ thể khác có đủ điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi để đại diện cho chủ sở hữu thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thông qua những công việc cụ thể được thỏa thuận giữa chủ tài sản và người đại diện cho chủ tài sản. Thỏa thuận ủy quyền có người khác đại diện cho chủ sở hữu không làm mất đi tư cách của chủ sở hữu đối với tài sản
d) Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập.
Người đại diện thực hiện các công việc vì lợi ích của người được đại diện chứ không vì lợi ích của mình. Mặt khác, người được đại diện mới là người có quyền. Chính vì vậy, mọi vấn đề phát sinh từ quan hệ đại diện, dù là đại diện theo ủy quyền luôn tạo ra quyền và nghĩa vụ cho chính người được đại diện (Điều 139, 586, 587 BLDS). Người đại diện theo ủy quyền có quyền và nghĩa vụ với người được đại diện theo thỏa thuận tại hợp đồng ủy quyền và quy định của pháp luật. Đối với trường hợp đại diện theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ của người đại diện với người thứ ba trong giao dịch chỉ đơn thuần là các quyền, nghĩa vụ mà luật quy định. Nhưng trong mọi trường hợp, các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa người đại diện và người được đại diện theo ủy quyền không bao giờ có thể ràng buộc được người đại diện phải chịu trách nhiệm với tư cách là chủ sở hữu của tài sản hoặc đương nhiên phải chịu trách nhiệm đối với người thứ ba.
e) Phạm vi đại diện theo ủy quyền.
Trường hợp các bên lập hợp đồng ủy quyền để chỉ định người đại diện, thì người đại diện chỉ được phép thực hiện chính xác các công việc được ghi trong hợp đồng ủy quyền. Người đại diện không thể thực hiện các công việc không được ghi nhận. Đây là phạm vi mà người đại diện được phép thực hiện và không thể bước ra ngoài phạm vi này. Điểm đặc biệt là các công việc được ủy quyền được ghi như thế nào thì chỉ được phép làm chính xác như vậy. Không thể suy luận hay biện hộ rằng các công việc này có liên quan đến những công việc được ủy quyền thì được phép thực hiện. Điều này cũng tương tự như trường hợp ủy quyền của pháp nhân. Mỗi pháp nhân sẽ chỉ có duy nhất một người đại diện theo pháp luật, nhưng trong thực tế đời sống của các pháp nhân (đặc biệt là các pháp nhân có quy mô lớn, tổ chức phức tạp), thông thường tại cùng một thời điểm, pháp nhân đó vẫn có thể thực hiện cùng lúc nhiều giao dịch với nhiều chủ thể. Để thực hiện được điều này thì người đại diện theo pháp luật thường có những ủy quyền cho người khác trực thuộc pháp nhân của mình để thi hành, thực hiện những công việc diễn ra thường xuyên, liên tục. Người được ủy quyền này cũng không thể vượt ra khỏi phạm vi được ủy quyền hay nói cách khác là vượt khỏi thẩm quyền của mình. Mặc dù có nhiều công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng nếu không có những ủy quyền đó thì người được ủy quyền cũng không được phép thực hiện (xem điều 91, 92 BLDS).

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi.
Công ty Luật TNHH Gia Phú
- 104.L6 Ngõ Thái Hà, Láng Hạ, Đống Đa, HN
- Hotline: 04 62754366

Address

104 Ngõ Thái Hà, Phường Láng Hạ, Quận Đống Đa
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật TNHH Gia Phú posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công ty Luật TNHH Gia Phú:

Share