02/12/2018
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc?
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
Về quan điểm trong lý luận cũng như trong thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội đã được áp dụng đối với tất cả mọi người lao động không phân biệt khu vực làm việc, hình thức pháp lý tham gia quan hệ…
• Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
+ Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ 01/01/2018);
+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu (trường hợp BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH các tỉnh);
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất (thực hiện từ 01/01/2016);
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH.
• Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ 01/01/2018).
• Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ.
Luật BHXH năm 2006 quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mới chỉ áp dụng với người lao động là công dân Việt Nam. Trong đó, việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động chỉ áp dụng với loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên. Để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người lao động tham gia và hưởng thị các chế độ BHXH, cần thiết phải mở rộng diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH.
Quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Điều 2 của Luật BHXH năm 2014 có những điểm mới mở rộng về đối tượng tham gia.
Trong đó một số đối tượng đã được luật hóa thực hiện BHXH bắt buộc theo các văn bản hướng dẫn Luật BHXH trước đây như người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương, học viên quân đội, công an, cơ yếu hưởng sinh hoạt phí…(Điểm d, e, h khoản 1 Điều 2), Luật BHXH năm 2014 mở rộng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc bằng việc quy định thêm ba nhóm đối tượng, qua đó đã bao phủ gần như toàn bộ người lao động có quan hệ lao động, đó là:
+ Người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng ( Điểm b, khoản 1 Điều 2);
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; ( điểm I khoản 1 Điều 2)
+ Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp ( khoản 2 Điều 2).
Việc mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển thị trường lao động, bảo đảm quyền lợi cho người lao động hướng tới mục tiêu bao phủ toàn bộ người lao động tham gia.
Thứ nhất, đối với nhóm đối tượng người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được mở rộng phạm vi nhiều đối tượng hơn so với quy định trước đây, cụ thể:
+ Người làm công tác trong tổ chức cơ yếu; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương. Đây là các đối tượng tham gia BHXH đã được thực hiện ổn định theo các văn bản hướng dẫn Luật BHXH nhưng trong Luật BHXH năm 2006 chưa đề cập đến. Do đó, việc bổ sung các đối tượng này tại Luật BHXH năm 2014 được xem là cần thiết.
+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, thời điểm áo dụng đối với đối với nhóm đối tượng này bắt đầu thực hiện từ ngày 01/01/2018 để tổ chức BHXH có thời gian kiện toàn, hiện đại hóa công nghệ thông tin trong công tác quản lý thực hiện BHXH.
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Hiện nay, số lượng cán bộ không chuyên trách ở cấp xã có khoảng 229.592 nghìn người; có 23 địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Qua số liệu đó có thể nhận thấy rằng, trước khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thì cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cấp xã không được hưởng các chế độ BHXH. Đây rõ ràng là một sự thiệt thòi cho nhóm đối tượng này, vì là cán bộ bán chuyên trách nhưng cường độ làm việc khá cao, mức phụ cấp lại quỳ thuộc vào điều kiện kinh tế từng địa phương. Do vậy việc bổ sung nhóm đối tượng này được hưởng chế độ BHXH là một bước tiến mới ghi nhận sự cống hiến cũng như đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của họ.
Đối với nhóm thứ hai, khoản 2 Điều 2 quy định: “Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.”
Hiện nay số lượng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam khoản trên 70.000 người và có chiều hướng tăng lên theo từng năm. Việc luật BHXH năm 2014 ghi nhận người lao động là công dân nước ngoài là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động nước ngoài khi họ bị mất việc làm hoặc mất thu nhập. nhóm đối tượng này tham gia đóng bảo hiểm từ 01/01/2018.
Thứ ba, đối với nhóm đối tượng là người sử dụng lao động quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật BHXH năm 2014 bao gồm: “ Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ.”
Trước đây Luật BHXH năm 2006 không sử dụng cụm từ “ Thuê mướn, sử dụng hợp đồng lao động theo hợp đồng lao động ” mà sử dụng cụm từ “ Sử dụng và trả công cho người lao động”. Đây là một thuật ngữ không hoàn toàn chính xác bở lẽ không phải tất cả các quan hệ trả công giữa người lao động và người sử dụng lao động đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội. Do vậy, về kĩ thuật lập pháp, việc sử dụng cụm từ này theo Luật BHXH năm 2014 đã đảm bảo tính chính xác, khoa học.
Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!