Tư vấn pháp luật miễn phí

Tư vấn pháp luật miễn phí Là tổ chức phi lợi nhuận, mở ra nhằm mục đích tuyên truyền phổ biến pháp l

Chúng tôi tập hợp được đội ngũ Luật sư, Luật gia có kiến thức pháp lý tổng hợp và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng cao sẽ tư vấn các vấn đề pháp lý miễn phí cho những ai đang cần kiến thức về hệ thống pháp luật Việt Nam.

Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.          Tranh chấp giữa người lao độ...
15/12/2018

Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Tranh chấp giữa người lao động và doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng ký giữa các bên và quy định của pháp luật Việt Nam.
Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký giữa các bên và quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thoả thuận quốc tế mà Việt Nam đã ký với bên nước ngoài.
Tranh chấp giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người sử dụng lao động hoặc bên môi giới nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký giữa các bên và quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thoả thuận quốc tế mà Việt Nam đã ký với bên nước ngoài.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài?Đối với doanh nghiệp đưa người lao độ...
08/12/2018

Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài?

Đối với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nếu vi phạm các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động này thì bị xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Doanh nghiệp có thể bị xử phạt chính cảnh cáo hoặc phạt tiền với mức phạt tối đa cho một hành vi vi phạm là 40.000.000 đồng.

Ngoài ra, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung: Thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả: Đình chỉ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài từ 03 tháng đến 12 tháng; Tạm đình chỉ thực hiện Hợp đồng cung ứng lao động từ 1 tháng đến 6 tháng; Đình chỉ thực hiện Hợp đồng cung ứng lao động; Buộc đưa người lao động về nước theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; Buộc bồi thường thiệt hại và chịu mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm hành chính gây ra; Buộc đóng góp đủ tiền vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định hiện hành.

Người lao động và các chủ thể có liên quan khác nếu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định số 144/2007 nói trên với các hình thức: cảnh cáo, phạt tiền đến 5.000.000 đồng tùy theo tính chất của hành vi vi phạm, buộc về nước, buộc bồi thương thiệt hại và chịu các chi phí phát sinh do hành vi vi phạm, cấm đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong thời hạn từ 2 năm đến 5 năm tùy từng hành vi vi phạm.
Bên cạnh việc xử lý vi phạm hành chính, các cá nhân có hành vi tổ chức cho người lao động ở lại nước ngoài trái phép, cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép, người lao động trốn ở lại nước ngoài trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Thông tư liên tịch số 09/2006/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/8/2006 giữa Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân tối cao về hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua các doanh nghiệp dịch vụ1.1.Đối với doanh nghiệ...
04/12/2018

Hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua các doanh nghiệp dịch vụ

1.1.Đối với doanh nghiệp dịch vụ.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Luật 2006 và Điều 2 Nghị định số 126/2007/ NĐ-CP thì, doanh nghiệp được xem xét cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là Giấy phép dịch vụ) là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 9 Luật 2006 và Điều 3 NĐ 126/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có đủ các điều kiện sau:
- Có đủ vốn pháp định là 5 tỉ đồng Việt Nam;
- Có đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ( phải thể hiện năng lực tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ có đủ trình độ và kinh nghiệm,,,theo các quy định hướng dẫn của Bộ LĐTB&XH);
- Có bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài và hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ LĐTB&XH);
- Người lãnh đạo điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có trình độ từ đại hpjc trở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế;
- Có tiền ký quỹ tại một hoặc các ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính là một tỷ đồng Việt Nam
Trước hết, bên doanh nghiệp dịch vụ ký kết với bên tiếp nhận lao động hợp đồng cung ứng lao động. Hợp đồng cung ứng lao động phải có những nội dung phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và phải đăng ký với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, bên doanh nghiệp dịch vụ sẽ tiến hành tìm kiếm người lao động, sau đó ký kết với người lao động hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đây là hai văn bản có ý nghĩa pháp lý quan trọng vì nó là cơ sở đảm bảo quyền lợi và ràng buộc trách nhiệm của các bên, nhất là bảo vệ quyền lợi của người lao động khi xảy ra tranh chấp giữa các bên.
Do đó, pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết về các điều khoản bắt buộc trong hai hợp đồng này. Đây cũng được đánh giá là biện pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam trước, trong và sau khi họ ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng. Để có thể ký kết được hợp đồng cung ứng lao động với bên nước ngoài, bên doanh nghiệp dịch vụ phải đầu tư tìm kiếm nguồn lao động, đào tạo – giáo dục định hướng nghề nghiệp, trang bị cho người lao động những kiến thức cơ bản về văn hóa, xã hội, pháp luật, phong tục, tập quán của nước tiếp nhận lao động. Thực hiện tốt những công việc này trong giai đoạn chuẩn bị tại Việt Nam sẽ góp phần mang lại lợi ích cho các bên khi tham gia quan hệ đưa người lao động ra nước ngoài làm việc. Về phía người lao động, khi được trang bị đầy đủ các kiến thức và kỹ năng cấn thiết, họ sẽ giảm đi sự bỡ ngỡ, xa lạ khi phải sống và làm việc trong môi trường mới. Phía tiếp nhận lao động cũng có thể nắm được thông tin về người lao động, quản lý dễ dàng hơn, tránh được những tranh chấp có thể xảy ra. Phía doanh nghiệp đưa đi sẽ nâng cao được uy tín của mình, giảm thiểu được những tranh chấp với người lao động và thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động cung ứng lao động.
1.2.Đối với người lao động.
Người lao động khi giao kết hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ cần phải đảm bảo những điều kiện của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước tiếp nhận người lao động.
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có ý thức chấp hành pháp luật, đạo đức;
- Có trình độ chuyên môn ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc cụ thể.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật đất đa năm 2013Theo quy định của pháp luật đất đai, t...
03/12/2018

Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật đất đa năm 2013

Theo quy định của pháp luật đất đai, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh hay phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ch quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất này không do lỗi của người sử dụng đất mà vì mục đích chung của xã hội. Khi bị thu hồi đất, người sử dụng đất phải gánh chịu những thiệt hại, bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, vì vậy Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm bồi thường.
Tại Khoản 12 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 về giải thích từ ngữ đã quy định rõ: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Bên cạnh đó, Luật đất đai năm 2013 cũng quy định chi tiết về bồi thường đất, hỗ trợ, tái định cư và bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất tại mục 2, mục 3 Chương VI.
Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đều là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Có thể cho rằng bồi thường là chế định pháp lý độc lập và hệ quả tất yếu của việc thu hồi đất; còn hỗ trợ được xem như biện pháp bổ sung và là sự “kéo dài” của quá trình bồi thường, đóng vai trò khoả lấp khoảng trống mà các quy định về bồi thường chưa giải quyết được, nhằm bù đắp một cách thoả đáng những thiệt hại do bị Nhà nước thu hồi đất gây ra. Bởi vì khi Nhà nước thu hồi đất, mặc dù đối tượng bị thu hồi chỉ là một diện tích đất song thiệt hại đối với người dân không chỉ nằm ở đó. Ngoài các thiệt hại hữu hình về giá trị quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, cây trồng vật nuôi còn các thiệt hại vô hình khác như mất ổn định cuộc sống, mất chỗ ở, mất tư liệu sản xuất, phải học nghề mới, bị thiệt hại về tinh thần…
Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” (khoản 14 Điều 3).
Tái định cư là nội dung được đề cập trong các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất song pháp luật không đưa ra khái niệm cụ thể về tái định cư. Có thể hiểu vấn đề tái định cư chỉ đặt ra khi người sử dụng đất bị thu hồi đất ở, khi đó họ được Nhà nước thu xếp chỗ ở mới bằng việc tái định cư, có thể là bằng một diện tích đất ở mới hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư hoặc bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

02/12/2018

Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc?

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
Về quan điểm trong lý luận cũng như trong thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội đã được áp dụng đối với tất cả mọi người lao động không phân biệt khu vực làm việc, hình thức pháp lý tham gia quan hệ…
• Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
+ Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ 01/01/2018);
+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu (trường hợp BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH các tỉnh);
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất (thực hiện từ 01/01/2016);
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH.
• Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ 01/01/2018).
• Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ.
Luật BHXH năm 2006 quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mới chỉ áp dụng với người lao động là công dân Việt Nam. Trong đó, việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động chỉ áp dụng với loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên. Để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người lao động tham gia và hưởng thị các chế độ BHXH, cần thiết phải mở rộng diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH.
Quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Điều 2 của Luật BHXH năm 2014 có những điểm mới mở rộng về đối tượng tham gia.
Trong đó một số đối tượng đã được luật hóa thực hiện BHXH bắt buộc theo các văn bản hướng dẫn Luật BHXH trước đây như người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương, học viên quân đội, công an, cơ yếu hưởng sinh hoạt phí…(Điểm d, e, h khoản 1 Điều 2), Luật BHXH năm 2014 mở rộng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc bằng việc quy định thêm ba nhóm đối tượng, qua đó đã bao phủ gần như toàn bộ người lao động có quan hệ lao động, đó là:
+ Người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng ( Điểm b, khoản 1 Điều 2);
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; ( điểm I khoản 1 Điều 2)
+ Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp ( khoản 2 Điều 2).
Việc mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển thị trường lao động, bảo đảm quyền lợi cho người lao động hướng tới mục tiêu bao phủ toàn bộ người lao động tham gia.
Thứ nhất, đối với nhóm đối tượng người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được mở rộng phạm vi nhiều đối tượng hơn so với quy định trước đây, cụ thể:
+ Người làm công tác trong tổ chức cơ yếu; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương. Đây là các đối tượng tham gia BHXH đã được thực hiện ổn định theo các văn bản hướng dẫn Luật BHXH nhưng trong Luật BHXH năm 2006 chưa đề cập đến. Do đó, việc bổ sung các đối tượng này tại Luật BHXH năm 2014 được xem là cần thiết.
+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, thời điểm áo dụng đối với đối với nhóm đối tượng này bắt đầu thực hiện từ ngày 01/01/2018 để tổ chức BHXH có thời gian kiện toàn, hiện đại hóa công nghệ thông tin trong công tác quản lý thực hiện BHXH.
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Hiện nay, số lượng cán bộ không chuyên trách ở cấp xã có khoảng 229.592 nghìn người; có 23 địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Qua số liệu đó có thể nhận thấy rằng, trước khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thì cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cấp xã không được hưởng các chế độ BHXH. Đây rõ ràng là một sự thiệt thòi cho nhóm đối tượng này, vì là cán bộ bán chuyên trách nhưng cường độ làm việc khá cao, mức phụ cấp lại quỳ thuộc vào điều kiện kinh tế từng địa phương. Do vậy việc bổ sung nhóm đối tượng này được hưởng chế độ BHXH là một bước tiến mới ghi nhận sự cống hiến cũng như đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của họ.
Đối với nhóm thứ hai, khoản 2 Điều 2 quy định: “Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.”
Hiện nay số lượng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam khoản trên 70.000 người và có chiều hướng tăng lên theo từng năm. Việc luật BHXH năm 2014 ghi nhận người lao động là công dân nước ngoài là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động nước ngoài khi họ bị mất việc làm hoặc mất thu nhập. nhóm đối tượng này tham gia đóng bảo hiểm từ 01/01/2018.
Thứ ba, đối với nhóm đối tượng là người sử dụng lao động quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật BHXH năm 2014 bao gồm: “ Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ.”
Trước đây Luật BHXH năm 2006 không sử dụng cụm từ “ Thuê mướn, sử dụng hợp đồng lao động theo hợp đồng lao động ” mà sử dụng cụm từ “ Sử dụng và trả công cho người lao động”. Đây là một thuật ngữ không hoàn toàn chính xác bở lẽ không phải tất cả các quan hệ trả công giữa người lao động và người sử dụng lao động đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội. Do vậy, về kĩ thuật lập pháp, việc sử dụng cụm từ này theo Luật BHXH năm 2014 đã đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Dấu hiệu nhận diện bán hàng đa cấp bất chính?1. Trong quan hệ bán hàng đa cấp, tồn tại hai chủ thể quan trọng đó là doan...
01/12/2018

Dấu hiệu nhận diện bán hàng đa cấp bất chính?
1. Trong quan hệ bán hàng đa cấp, tồn tại hai chủ thể quan trọng đó là doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp. Pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam không định nghĩa hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, tuy nhiên, dựa vào bản chất chung của hợp đồng và bản chất của bán hàng đa cấp thì có thể hiểu hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ bán hàng đa cấp. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp chính là sự thoả thuận của hai chủ thể này về nội dung của quan hệ bán hàng đa cấp.
+ Doanh nghiệp bán hàng đa cấp là doanh nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy đăng kí tổ chức bán hàng đa cấp.
+ Người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp là người đã kí hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp.
2. Dấu hiệu nhận diện bán hàng đa cấp bất chính.
Để nhận diện và ngăn cấm phương thức bán hàng đa cấp bất chính, Điều 48 Luật cạnh tranh quy định cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện hành vi:
- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
- Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Bạn Hồ V.: Tôi chịu án 8 năm từ ngày 10/01/2009 vì tội trộm cắp tài sản (theo khoản 3, Điều 138 Bộ luật hình sự. Ngày 02...
30/11/2018

Bạn Hồ V.: Tôi chịu án 8 năm từ ngày 10/01/2009 vì tội trộm cắp tài sản (theo khoản 3, Điều 138 Bộ luật hình sự. Ngày 02/09/2015, tôi được đặc xá.
Trong thời gian tôi ở tù, gia đình tôi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ: nộp án phí, bồi thường thiệt hại cho người bị hại…
Luật sư cho tôi hỏi, đến ngày 26/11/2018 thì tôi đã được xóa án tích chưa?
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty Luật TNHH An Nam. Chúng tôi xin tư vấn như sau:
Hiện nay, Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực.a
Nhưng vấn đề của bạn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật hình sự năm 1999. Do đó, chúng tôi tư vấn cho bạn theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999.
Như thông tin bạn cung cấp thì vào bạn được đặc xá tha tù trước thời hạn vào ngày 2/09/2015. Bạn được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 67 Bộ luật hình sự năm 1999 về cách tính thời hạn để xoá án tích thì:
- Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 64 và Điều 65 Bộ luật hình sự căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên;
- Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.
Ngày 2/9/2015 bạn đã đã chấp hành xong án phạt tù, nộp xong án phí, thực hiện xong hình phạt bổ sung như phạt tiền (nếu có) ... thì ngày này là thời điểm bạn đã chấp hành xong bản án.
Theo quy định tại điểm c, Khoản 2, Điều 64 BLHS năm 1999 thì trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm thì đương nhiên được xóa án tích sau năm năm.
Thời điểm bạn được đương nhiên xóa án tích là ngày 2/9/2020.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Học sinh bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế tại trường học, không đóng theo hộ gia đình?Học sinh là một trong những đối tượ...
27/11/2018

Học sinh bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế tại trường học, không đóng theo hộ gia đình?

Học sinh là một trong những đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế 2014.
Khoản 2 Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 quy định: “Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế khác nhau quy định tại Điều 12 của Luật này thì đóng bảo hiểm y tế theo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự của các đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật này”.
Như vậy, học sinh thuộc trường hợp phải đóng BHYT tại trường theo diện học sinh mà không đóng cùng bảo hiểm y tế hộ gia đình.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Sử dụng cỏ Mỹ có bị cấm không?Căn cứ Nghị định 126/2015 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 1/2/2016) chất XLR-11 trong c...
27/11/2018

Sử dụng cỏ Mỹ có bị cấm không?
Căn cứ Nghị định 126/2015 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 1/2/2016) chất XLR-11 trong cỏ Mỹ nằm trong danh mục các chất ma túy.
Tại Điểm b Khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 có quy định cụ thể như sau:
“ 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: .. b, Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, M**A hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.”

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Xử lý hành vi mua bán, sử dụng bóng cười như thế nào?Bóng cười là một sản phẩm chứa N2O, đây là hóa chất được quản lý ch...
26/11/2018

Xử lý hành vi mua bán, sử dụng bóng cười như thế nào?Bóng cười là một sản phẩm chứa N2O, đây là hóa chất được quản lý chuyên ngành bởi Bộ Công Thương.
Theo Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất thì N2O thuộc danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.
Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về việc cấm mua bán và sử dụng bóng cười. Nhưng những hành vi trên có thể bị xử lý theo quy định tại Nghị định 115/2016/NĐ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ, Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định hành vi vi phạm quy định về Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh, hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh thì:
“Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh mà không có Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất theo quy định;
b) Sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh khi Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất được cấp đã hết hiệu lực.
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh khi đã bị cơ quan quản lý có thẩm quyền đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tước quyền sử dụng hoặc thu hồi Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất”.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Câu hỏi: Trường hợp một người mang theo con dao Thái Lan. Trong lúc va chạm giao thông, người này dung dao trong túi đâm...
11/11/2018

Câu hỏi: Trường hợp một người mang theo con dao Thái Lan. Trong lúc va chạm giao thông, người này dung dao trong túi đâm người khác gây tổn hại sức khỏe 17% thì bị xử lý như thế nào?

Cảm ơn bạn đã gửi câu trả lời câu hỏi đến cho Công ty Luật TNHH An Nam. Với những thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017: Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% mà thuộc một trong các trường hợp dưới đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

i) Có tính chất côn đồ;

Theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP TANDTC thì hung khí nguy hiểm được hiểu “là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.”
Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn..., thanh sắt mài nhọn, côn gỗ..., gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...
Như vậy trong trường hợp trên, người phạm tội đã sử dụng một con dao Thái Lan có mũi sắc nhọn để đâm vào nạn nhân với mức độ thương tật 17%, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi trên có thể được coi là hành vi dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ. Như vậy, hành vi trên có thể bị truy cứu theo khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 với khung hình phạt tù từ 2 năm đến 06 năm. Tuy nhiên, khi truy tố, xét xử, Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử còn phải xem xét đến các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ của bị can, bị cáo để áp dụng mức hình phạt.

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Câu hỏi: Tôi phát hiện ra một người có hành vi giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được làm giáo viên (viên chức). Đến ngà...
10/11/2018

Câu hỏi: Tôi phát hiện ra một người có hành vi giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được làm giáo viên (viên chức). Đến ngày nay tại nơi người đó công tác chưa có ai phát hiện. Hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho Công ty Luật TNHH An Nam. Với thông tin bạn cung cấp, Công ty Luật TNHH An Nam xin được tư vấn như sau:
Hành vi giả mạo hồ sơ, giấy tờ mà cụ thể là làm giả bằng cấp/mua bằng cấp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
1. Về xử phạt vi phạm hành chính
Hình thức xử lý hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả được quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị định 138/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục. Hành vi này có thể bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng
Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (bằng cấp, chứng chỉ giả) theo quy định tại Khoản 5 điều này.
2. Về trách nhiệm hình sự
Hành vi giả mạo hồ sơ, giấy tờ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2017, cụ thể:
“Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1.Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
….
Trường hợp này bạn có thể trình báo sự việc đến cấp người đứng đầu/thủ trưởng cơ quan đơn vị nơi người giả mạo hồ sơ, giấy tờ đang công tác/ Phòng giáo dục đào tạo của Huyện/Quận mà cơ quan người giả mạo hồ sơ đặt trụ sở
Đồng thời, bạn gửi đơn tố giác tội phạm lên cơ quan công an cấp Huyện nơi người giả mạo hồ sơ, giấy tờ đang công tác/ cư trú.
Cán bộ tiếp nhận đơn thư và các chứng cứ của bạn phải có trách nhiệm xác nhận sự việc bằng văn bản. Việc xác định thẩm quyến giải quyết cũng như tính hợp pháp của đơn thư, vụ việc khiếu nại, tố cáo (trong thời hạn 10 ngày cơ quan tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo phải tiến hành thụ lý giải quyết hoặc thông báo bằng văn bản cho các tổ chức, công dân đến khiếu nại, tố cáo).

Hi vọng bài viết này hữu ích cho bạn.
Để lại tin nhắn cho chúng tôi nếu bạn muốn được hỗ trợ thêm về thủ tục.
Cảm ơn các bạn đã đọc tin!

Address

74 Hoàng Sâm, Nghĩa Đô, Cầu Giấy
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn pháp luật miễn phí posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share