HÃNG LUẬT HEVA

HÃNG LUẬT HEVA Tham gia tố tụng - Tư vấn - Đại diện - Dịch vụ pháp lý khác!

LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG TÍNH RÀNG BUỘC CỦA NÓĐiều cơ bản của cơ bản là, điều mà Lincoln đã nói cách đây tính theo hàn...
08/01/2026

LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG TÍNH RÀNG BUỘC CỦA NÓ

Điều cơ bản của cơ bản là, điều mà Lincoln đã nói cách đây tính theo hàng trăm năm, rằng luật pháp là đạo đức tối thiểu, đạo đức là luật pháp tối đa. Luật pháp, dù theo hệ thống nào, cũng đều đặt đạo đức như mái vòm để giới hạn và định hướng một hành vi nhất định, càng phát triển và văn minh người ta càng thấy sức nặng và tính đi trước trong điều chỉnh đạo đức lớn hơn luật pháp, đặc biệt với giới chính trị gia và người của công chúng. Bất cứ lĩnh vực nào cũng đều có “nền đạo đức” của nó để tạo lập hành lang nghiêm ngặt cho mọi hoạt động mà người đứng trong đó chịu sự điều chỉnh. Như trong hoạt động nghiên cứu khoa học, yêu cầu liêm chính (tức là đạo đức) còn cao hơn tính chi phối của luật pháp thực chất đối với chuyên môn của họ.

Rousseau từng viết trong Khế ước xã hội về vấn đề đạo đức theo một cách tương đồng với Lincoln, với nhấn mạnh rằng khi luật pháp của một xã hội mất đi hiệu lực của nó thì đạo đức chính là cứu cánh (cuối cùng) để vãn hồi các trụ cột của công lý, lúc này vốn đang rơi vào khủng hoảng và suy thoái. Mặc dù trong cuốn Dân trị và Chính quyền, tôi đã không đứng về lập luận này mà đứng trên lập trường đối diện để phản bác cơ sở từ bản chất của tình trạng mà ông đặt ra trong diễn ngôn của mình.

Cụm từ “đạo đức xã hội” là một thuật ngữ pháp lý chung được xây dựng như nền móng bao quát trong đạo luật dân sự, bản văn vốn đóng vai như đạo luật gốc (được dân luật định danh là bản hiến pháp của đời sống dân sự) và nhờ đó thiết lập nền tảng cho những đạo luật chuyên ngành khác xây dựng dựa trên và xoay quanh triết lý cốt lõi của bản văn được xem như trung tâm luận này.

Bất cứ ngành nghề nào trong mọi cấu trúc cũng đều có một bộ quy chế (quy tắc ứng xử) đạo đức chuyên biệt và đặc thù, từ bác sĩ, luật sư, giáo viên, thẩm phán hoặc công chức… và người hoạt động trong địa hạt nghệ thuật thuộc vào phạm trù dành cho công chúng, vì vậy vấn đề đạo đức và tiêu chuẩn đánh giá còn mang xu hướng nghiêm ngặt và trực tiếp hơn trong phạm vi quán chiếu, vốn được mở rộng hơn các lĩnh vực khác trong xã hội.

Tuy vậy, trong vụ việc đổ bể chương trình biểu diễn, trình diễn nghệ thuật (âm nhạc) vừa rồi, không tồn tại dạng giao dịch vì lợi ích của người thứ ba trong tính chất pháp lý như một vài quan điểm đã đưa ra. Trong trường hợp này, các giao dịch là độc lập về chủ thể giao kết, nhưng quyền và nghĩa vụ liên đới cũng như lệ thuộc theo kiểu bắc cầu (đan chéo) các quyền lợi và nghĩa vụ với nhau trong tương quan chung (mục đích và dịch vụ tại thời điểm cuối cùng - buổi trình diễn). Tại đây, như đã phân tích, có hai loại hợp đồng song vụ song hành mà chúng là điều kiện làm phát sinh hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau (tức điều kiện làm giao dịch có hiệu lực hoặc có thể thực hiện được hay không trên thực tế).

Khán giả trả tiền gián tiếp cho nghệ sĩ để họ biểu diễn cho khán giả thưởng thức hình thức nghệ thuật (âm nhạc và trình diễn thị giác) - nhà tổ chức nhận tiền và chịu trách nhiệm tổ chức buổi trình diễn sao cho thành công theo kịch bản đã soạn trước - nghệ sĩ nhận tiền từ nhà tổ chức (nhưng là từ nguồn tiền của chính khán giả đã trả trước đó) và sẽ trình diễn cho khán giả thụ hưởng lợi ích thay vì cho nhà sản xuất (vì họ không trả tiền để xem nghệ sĩ trình diễn). Do vậy, hợp đồng trình diễn chỉ có thể thực hiện (vào thời điểm sau cùng vốn đã được công bố từ trước) khi hợp đồng với các nghệ sĩ được thực hiện, ngược lại sẽ phá vỡ mục đích và khả năng thực hiện hợp đồng của nhà sản xuất với khán giả.

Trong hợp đồng giữa đơn vị tổ chức với nghệ sĩ sẽ có quy định về các trường hợp trì hoãn, thay thế hoặc huỷ bỏ việc trình diễn vì lý do nghệ sĩ không tham gia (do thể chất, tinh thần) hoặc không đảm bảo được yêu cầu chuyên môn (hay vấn đề đạo đức nảy sinh khi nghệ sĩ này vướng vào rắc rối cá nhân khác), nghĩa là nhân tố “nghệ sĩ” chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng giữa nhà sản xuất và những người mua vé. Và trong hợp đồng này với nghệ sĩ, cũng sẽ luôn có điều khoản về các lý do tương tự trước việc có đảm bảo hay không việc nghệ sĩ tham gia, mà nếu vi phạm thoả thuận sẽ phát sinh trách nhiệm với họ một cách hiển nhiên.

Để dễ hình dung hơn, có một tình huống pháp lý khá cơ bản và tương đồng để làm ví dụ minh hoạ, đó là một cầu thủ A ký hợp đồng với một câu lạc bộ bóng đá B, sau đó được bán sang đội bóng C: khi này CLB B và CLB C ký hợp đồng (số 1) chuyển nhượng cầu thủ A với điều kiện D; và đồng thời cầu thủ A sẽ ký hợp đồng (số 2) với CLB C để đá cho đội này trong thời hạn 5 năm, trong đó có điều khoản ràng buộc làm phát sinh quyền hưởng lợi ích cho CLB C với điều kiện E. Có thể E và D là các điều kiện trùng nhau hoặc khác nhau nhưng sẽ có phần giao nhau nhất định (như A chấn thương ngay năm đầu tiên thì CLB C không được nhận 70% phí còn lại cùng khoản 10% hợp đồng dựa trên phong độ cầu thủ, ngược lại nếu A thăng hoa và mang về cúp vô địch mùa giải quốc nội hoặc khu vực, CLB C sẽ được thanh toán toàn bộ số phí hợp đồng chuyển nhượng cộng thêm việc hưởng 20% tiền thưởng hoặc một con số cụ thể nào đó). Đây chính là một tình huống tương đồng với hoạt động trình diễn nghệ thuật trong điều kiện phát sinh hiệu lực giao dịch giữa các bên.

Một số lập luận cho rằng đánh giá đạo đức trong vụ việc đổ vỡ buổi trình diên là vượt ngoài phạm vi, là một tư duy không chỉ hạn hẹp về pháp lý mà còn bước hụt chân trước chính sự đòi hỏi nền tảng của một cộng đồng văn minh thực sự. Nếu luật pháp không bao chứa trong nó công lý đặt trên nền móng đạo đức và các cơ sở thiết yếu của nó, làm sao luật pháp là một hệ thống đại diện cho khoa học và lẽ công bằng, vốn được minh định và đảm bảo trong chính luật pháp? Không chỉ vi phạm về nghĩa vụ với khía cạnh luật pháp, nó cũng đồng thời phá hỏng các trụ cột đạo đức cơ bản, nếu các loại hành vi như vậy không bị lên án và phê phán đúng mức, cộng đồng dung dưỡng nó hẳn không thể đi thêm bất cứ bước nào trong nhận thức về văn minh và nhân bản trước chính con người.

KẾT QUẢ CỦA THƯƠNG LƯỢNG VÀ HOÀ GIẢI TRONG TRANH CHẤP LÀ THƯỚC ĐO CỦA CÁC HÀNH ĐỘNG PHÁP LÝHEVA LAW FIRM đã đại diện và ...
05/12/2025

KẾT QUẢ CỦA THƯƠNG LƯỢNG VÀ HOÀ GIẢI TRONG TRANH CHẤP LÀ THƯỚC ĐO CỦA CÁC HÀNH ĐỘNG PHÁP LÝ

HEVA LAW FIRM đã đại diện và thực hiện thành công việc thương lượng cho thân chủ trong các vụ việc dân sự mà hai bên đều tưởng chừng không thể hoà giải được.

Một vụ việc mà khách hàng (cá nhân) có xung đột lợi ích trong vấn đề chất lượng dịch vụ với bên cung ứng dịch vụ (thể thao, sức khoẻ), đã gặp bất lợi và bị đặt vào tình huống bị động trước phản ứng của cơ sở cung cấp dịch vụ. Tuy vậy, sau khi được HEVA LAW FIRM đại diện, với đánh giá và các hành động pháp lý và chiến lược có hệ thống, bên cơ sở kinh doanh đã phải tiến hành hoà giải và xin lỗi, bồi thường đối với khách hàng (là thân chủ của hãng luật chúng tôi). Chỉ trong vòng chưa đầy 20 ngày, các lộ trình hoà giải và thực hiện bồi thường đã được thực hiện đầy đủ từ phía có nghĩa vụ và trách nhiệm trong thiếu sót liên quan tới chất lượng dịch vụ của mình. Cơ sở kinh doanh vừa phải đưa ra lời xin lỗi và vừa phải thực hiện bồi thường, bồi hoàn các khoản chi phí liên quan mà hãng luật đã đưa ra. Vụ việc đã được khép lại với sự đồng thuận về phương án giải quyết đảm bảo mọi vấn đề và quyền lợi của cả hai bên trong sự việc. Đây là kết quả đến từ nỗ lực có hệ thống của các hành động pháp lý chuẩn mực và liên tục của hãng luật chúng tôi trong việc đại diện cho khách hàng của mình.

Vụ việc thứ hai, hãng luật chúng tôi đại diện cho bị đơn (một doanh nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực đặc thù về y tế), vụ án đã được xét xử sơ thẩm và có kháng cáo của bị đơn, kháng nghị của VKSND cấp trên (cấp tỉnh) với bản án sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, với tranh chấp phát sinh từ giao dịch, hợp đồng hợp tác liên doanh (góp vốn) với một pháp nhân (doanh nghiệp) khác. Hãng luật HEVA được mời và tham gia khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tuy vậy, với các hành động pháp lý gấp rút trước khi phiên xử được mở, tại phiên toà phúc thẩm, chúng tôi đã thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ và buộc nguyên đơn phải tiến hành thương lượng để đạt được kết quả hoà giải ngay tại phiên toà này. Mức thoả thuận giảm được lên tới gần 1.4 tỷ, tương đương một nửa số tiền mà bị đơn phải thanh toán theo bản án sơ thẩm, đồng thời giảm được một khoản án phí đáng kể cho cả hai bên khi hoà giải thành. Mặc dù thời gian dành cho việc tiếp cận hồ sơ và xử lý tình huống thực sự hạn chế, chúng tôi vẫn đã tiến hành các biện pháp đủ mạnh về pháp lý để buộc nguyên đơn phải chấp thuận sự hoà giải thay vì phải đối mặt với các hệ quả tiêu cực, rắc rối và phức tạp hơn nếu họ từ chối.

KINH NGHIỆM CẦN ĐƯỢC THAM CHIẾU

Nên tham vấn hoặc nhờ luật sư đại diện ngay khi tiến hành bất cứ một giao dịch hoặc hành động nào, dù giá trị giao dịch là bao nhiêu, vì vấn đề không hẳn giới hạn trong giá trị con số, mà sẽ bao gồm không giới hạn các tổn thất hay thiệt hại mà họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý sau đó.

Trong mọi tranh chấp, thương lượng và hoà giải luôn là mục tiêu và thành quả ưu tiên cho mọi nỗ lực pháp lý của luật sư. Và điều này cần được thực hiện bằng mọi biện pháp hợp pháp và mọi tình huống, thời điểm có thể. Luôn cân nhắc đến lợi ích đạt được so với việc nếu tiến hành xử lý các xung đột đến cùng, để tư vấn cho khách hàng về sự lựa chọn cần được ưu tiên. Cũng cần nhớ một nguyên tắc rằng, hoà giải nên có cầu nối từ một bên thứ ba đủ tin tưởng và uy tín để đảm nhận, trong đó luật sư và các thiết chế có ảnh hưởng tới một trong các bên nên là các chủ thể được uỷ thác.

Trong thương lượng và hoà giải vào thời điểm quyết định, luôn cần định mức cụ thể và các kế hoạch thực hiện tương đối chính xác và rõ ràng để có thể đạt được thoả thuận ngay lập tức, nó không nên bị kéo dài hoặc mô tả mở hồ, bởi điều đó phá huỷ thiện chí và các khả năng hoà giải thực sự giữa hai bên. Vấn đề trọng tâm trong mọi cuộc thương lượng và hoà giải luôn là các bên đạt được lợi ích gì tối đa cùng lúc, và cũng đồng thời tránh được các tổn hại đến mức tối thiểu có thể chấp nhận được. Nguyên lý cây gậy và củ cà rốt luôn cần được đặt là kim chỉ nam của mọi hành động nếu muốn có đủ sức mạnh cho việc buộc các bên “phải ngồi vào bàn đàm phán”.

Hy vọng rằng chúng tôi luôn có thể xử lý tối ưu được quyền lợi của quý khách hàng khi tin tưởng và uỷ thác, hợp tác cùng hãng luật chúng tôi.

(HEVA LAW FIRM)

HAI TỒN TẠI ĐẾN TỪ KỸ THUẬT LẬP PHÁP VÀ THỰC TẾ ÁP DỤNG CHO ĐIỀU LUẬT CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHOẺ CỦA...
14/10/2025

HAI TỒN TẠI ĐẾN TỪ KỸ THUẬT LẬP PHÁP VÀ THỰC TẾ ÁP DỤNG CHO ĐIỀU LUẬT CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC

Đối với tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ cho người khác hiện nay có hai vấn đề về pháp lý đang tồn tại như một thách thức lớn, xuất phát từ thiếu khuyết trong kỹ thuật lập pháp và, sau đó, cách áp dụng điều luật trong giải quyết trước thực tế đang dẫn đến các sai lầm trong tinh thần chuẩn mực mà đáng ra nó phải đảm bảo, điều đe doạ tới tính nghiêm minh và sự ngăn chặn kịp thời đúng nghĩa của nó.

Hai vấn đề đó cụ thể như sau.

+ đầu tiên là việc bỏ qua yếu tố tổn hại sức khoẻ với ý nghĩa về tinh thần, một khía cạnh quan trọng đối với sức khoẻ không thể tách rời khỏi yếu tố thể chất vật lý (sinh học). Nếu một hành vi đe doạ tấn công hoặc đã có các hành vi tấn công, dù không để lại thương tích trên cơ thể nạn nhân, chúng diễn ra trong một thời gian dài, gây sang chấn hoặc rối loạn tâm lý hay hành vi nghiêm trọng cho người bị tấn công, tức các tổn hại sức khoẻ về mặt tinh thần đã thực sự hiện hữu - hậu quả của hành vi nguy hiểm đã hoàn thành, nhưng điều này không được thiết kế minh định trong điều luật về tội cố ý gây thương tích hay tổn hại sức khoẻ cho người khác. Trong Bộ luật Dân sự, chúng ta có các điều luật về bồi thường tổn thất tinh thần, và trong Bộ luật Hình sự có một số tội danh đã quy định cấu thành cơ bản dựa trên yếu tố rối loạn hành vi hay tâm thần của nạn nhân, tuy nhiên, đối với tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ của người khác, chúng lại bị gạt qua trong tác động của tội phạm. Chúng ta cần nhớ rằng, sức khoẻ thể chất không thể tách rời sức khoẻ tâm lý (tinh thần) của một con người. Trong khi đó điều luật hiện tại được thiết lập chủ yếu đặt nặng vào tổn hại cơ thể có tính vật chất để làm căn cứ truy cứu. Điều này tạo nên một lỗ hổng rất lớn về lập pháp trong việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm của cá nhân. Nếu một điều luật không thể tính đến việc ngăn chặn các tổn hại về tâm lý hay trạng thái tinh thần, nó có thực sự bảo vệ sức khoẻ của một người cụ thể nào đó chỉ trong vấn đề thể chất sinh học?

+ tiếp theo, yếu tố về hiểu và áp dụng trên thực tế đối với tổn hại thể chất đang bị viện dẫn và giải thích thực sự sai lầm. Khi trong các truy cứu loại tội này, các cơ quan tiến hành tố tụng luôn yêu cầu thương tích giám định về cơ thể phải lớn hơn 0%, trong khi điều luật không có giới hạn tối thiểu về thương tích (dưới 11%), và một cách đồng thời, tổn hại sức khoẻ như đã vừa nêu, bao gồm trong đó sức khoẻ tinh thần như thành tố đời sống không thể bị xem nhẹ hay tách khỏi việc bảo vệ chỉ dành cho yếu tố thể chất đối với riêng cơ thể sinh học (vật lý). Hiện nay, điều luật được áp dụng theo thông lệ với tỷ lệ giám định thương tích là điều kiện bắt buộc, nhưng ngay chính điều luật được thiết kế cũng đã cùng lúc nêu ra: (i) không có giới hạn tối thiểu về tổn hại, nên không thể yêu cầu giám định thương tổn phải > 0%; và (ii) điều luật đã nêu một cấu trúc bảo vệ đồng thời, ngoài thương tổn thể chất còn bao hàm quy phạm “gây tổn hại sức khoẻ” - quyền bất khả xâm phạm về thân thể đối với cả cơ thể lẫn đời sống tinh thần. Cả hai nội dung này đều bác bỏ việc giải thích và áp dụng điều luật theo xu hướng đòi hỏi cấu thành vật chất với tổn thương cơ thể phải là một số nguyên dương (> 0%).

Hơn thế, cách đây nhiều năm trước mà tôi đã từng nêu ra thiếu khuyết của nó, có một yếu tố cũng liên quan tới kỹ thuật lập pháp, khi điều luật luôn quy định tỷ lệ thương tích là một số nguyên, và do vậy, khi tính ra thương tích với con số thập phân sẽ áp dụng quy tắc làm tròn. Tuy vậy, vấn đề pháp lý ngay trong Bộ luật Hình sự đã quy định, không ai bị truy cứu một hành vi không được BLHS quy định và BLTTHS luôn đề cao nguyên tắc không làm bất lợi cho bị can, bị cáo, mà rõ ràng khi tiến hành quá trình tính toán và làm tròn, tham chiếu theo một ấn định từ Thông tư của Bộ Y tế về cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể để tạo ra một số nguyên - nó tạo nên xung đột pháp lý và có chiều hướng bẻ gãy cùng lúc cả hai nguyên tắc cốt lõi vừa nêu trong tham chiếu và áp dụng. Như thế, việc lập pháp để dẫn đến cách làm tròn số cho tỷ lệ tổn thương cần được sửa lại, theo hướng không bỏ trống khoảng cách trong điều luật như hiện tại khi giữa các khoản (khung định tội) luôn chênh nhau 1 đơn vị (từ 11-30%; từ 31-60%; từ 61% trở lên) - nếu một người gây thương tích 30.5%, sẽ áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo để chuyển xuống khung 1, hay nguyên tắc làm tròn số để đẩy sang khung 2 của tội này, và vốn tỷ lệ này nằm ngoài nội hàm của điều luật? Vấn đề đã thực sự phức tạp và đầy thách thức về phẩm chất công lý.

Tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, nên được thiết kế lại và cần được hướng dẫn thống nhất ngay trong chính điều luật thay vì phải cần tới các văn bản dưới luật để giải thích tinh thần của nó một lần nữa. Như đã từng được tôi đưa ra bàn luận trước đây, điều luật về loại tội danh này cần được phân nhóm chi tiết hơn các dạng hành vi, từ đó ngăn chặn được các hành vi đeo bám, gây hấn và khiêu khích, đe doạ tấn công hoặc các hành vi trấn áp (bạo lực tinh thần kéo dài) mà không gây tổn hại thể chất. Những loại hành vi này, xét trong bản chất, chúng thực sự nguy hiểm cho sự an toàn thân thể và đời sống cũng như tính mạng của người khác. Sự đeo đám hay thường xuyên gây hấn, đe doạ… không gây nên các thương tích cho thể chất, nhưng có ảnh hưởng tiêu cực cho người bị đe doạ, chúng tạo nên sự sợ hãi và cảm giác về sự bất an thường trực một khi không bị ngăn chặn bằng một sự truy cứu nghiêm minh từ luật pháp, ít nhất thông qua xử phạt hành chính cùng lệnh cấm tiếp xúc và giữ khoảng cách (đủ an toàn) với người từng bị đe doạ, hoặc phải bị truy tố hình sự nếu cho thấy hành vi của kẻ đó rõ ràng là táo tợn và mang khả năng thực tế về một sự tấn công.

ĐỘNG CƠ TÂM LÝ CHÍNH ĐÁNG CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO VỆVụ việc này có một trong các dấu hiệu khá điển hình đối với thực tế hoàn cản...
02/10/2025

ĐỘNG CƠ TÂM LÝ CHÍNH ĐÁNG CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO VỆ

Vụ việc này có một trong các dấu hiệu khá điển hình đối với thực tế hoàn cảnh để xem xét về mặt tội danh. Tại đây, đầu tiên, rõ ràng có dấu hiệu bạo lực kéo dài đối với cả người phụ nữ và những đứa con của họ, yếu tố thứ hai là sự đe doạ giết cả ba người bọn họ (1 người lớn và 2 trẻ em), vốn gánh chịu trực diện các hành vi bạo lực mà chưa có cách nào tìm được hỗ trợ từ trước đó.

Tội phạm này được thực hiện dựa trên hội chứng phụ nữ bị bạo hành (battered woman syndrome). Đã có nhiều trường hợp tương tự trên thế giới về các quyết định của toà án (bồi thẩm đoàn) có lợi hoàn toàn cho bị cáo.

Rõ ràng điều này cho thấy động lực tâm lý ngăn chặn việc giết người có thể xảy ra là hoàn toàn hiện hữu mà không phải một loại mục đích giả định biện minh - người đối diện với tình thế luôn hiểu rõ hơn rằng những hậu quả này là có tính hiện thực khi đối chiếu với các sự bạo hành kéo dài mà không thuyên giảm hay chấm dứt.

Sự lo sợ về tâm lý có thể được giải thích bằng một động cơ hiện hữu trong vấn đề bảo vệ tính mạng không chỉ của bản thân họ, mà còn ở sinh mệnh hai đứa trẻ. Đây là yếu tố có thể xem xét động cơ chuyển tội danh về giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết, hoặc trong tinh thần bị kích động mạnh, hoặc ngộ sát do mất kiểm soát tạm thời.

Sự bạo hành kéo dài, cộng thêm sự đe doạ giết (nhiều người, trong đó bao gồm trẻ em), mà vốn việc đe doạ nếu có khả năng (được đánh giá dựa trên các điều kiện và tương quan liên quan) trở nên tiềm tàng hoặc thực tế, kẻ đe doạ sẽ bị truy tố hình sự về cả hai loại hành vi này. Yếu tố quan hệ gia đình hay huyết thống không đủ sức mạnh để đưa ra sự bác bỏ rằng khả năng thực tế của lời đe doạ không thể xảy ra, bởi chúng không cho thấy cơ sở vững chắc nếu ta lấy ra một vài ví dụ điển hình về sự việc tương tự.

Việc đánh giá toàn cảnh và nhìn nhận các khía cạnh xung đột lẫn động cơ của tội phạm theo chiều sâu là một vấn đề quan trọng cho cách giải quyết hữu hiệu các hệ quả nặng nề mà chúng gây ra, và cũng đồng thời tạo nên các cơ sở (hệ thống chuyên môn chuyên sâu và chuyên biệt) bảo đảm cho một tương lai tốt hơn trong lựa chọn hành xử từ những người sống trong nó, và trong cả các phán quyết từ hệ thống tư pháp trước các chuẩn mực (khoa học) của công lý.

Cũng giống như gia chủ có quyền hạ gục một tên trộm có vũ khí hoặc có dấu hiệu tấn công chủ nhà mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất kể hành vi nào khi họ thực hiện quyền tự vệ chủ động này của họ trong không gian và thời gian được xem là bất khả xâm phạm từ bất kỳ kẻ nào, điều sẽ đảm bảo sự an toàn cho mỗi căn nhà ngay từ tường rào của họ thay vì phải đứng trong nhà giam nếu bảo vệ sinh mạng và tài sản của mình trước kẻ xâm phạm.

Cần bàn thêm ngay rằng những kẻ nhậu nhẹt thường xuyên và tỏ ra hung hăng trong hành xử, thường dùng bạo lực trong cuộc sống với người trong gia đình hoặc cả với người khác, cần được kiểm tra sức khoẻ tâm thần và đánh giá mức rối loạn hành vi để được điều trị về mặt tâm lý (nhằm học cách kiểm soát hành vi, đôi khi phải hỗ trợ bằng thuốc cai nghiện) mà chỉ khi hoàn thành việc điều trị trước nhà chuyên môn mới được trở lại các sinh hoạt đời thường và tiếp cận những người mà anh ta phải cam kết không được gây tổn hại hoặc khiến họ lo sợ hay bất an về sự tiếp xúc của họ.

———

CÁC TRƯỜNG HỢP ÁN LỆ TƯƠNG TỰ TRÊN THẾ GIỚI

1. Francine Hughes (Mỹ, 1977)
Sau 13 năm bị chồng (Mickey Hughes) bạo hành thể chất, tinh thần và tình dục, Francine đã châm lửa đốt giường ngủ của chồng khi ông ta đang ngủ say (ngày 9/3/1977, tại Michigan). Bà được bồi thẩm đoàn tha bổng (not guilty by reason of temporary insanity) nhờ lập luận về tình trạng bạo hành tâm lý kéo dài, khiến bà không còn khả năng kiểm soát hành vi. Đây là một trong những vụ đầu tiên sử dụng khái niệm “battered woman syndrome” làm cơ sở bào chữa, dù thuật ngữ này chưa được chính thức hóa lúc đó. Vụ án đã truyền cảm hứng cho phim The Burning Bed (1984) và thay đổi nhận thức xã hội về bạo lực gia đình ở Mỹ.

2. Sara Thornton (Anh, 1990s)
Sara bị chồng (Malcolm Thornton, một người nghiện rượu) bạo hành nghiêm trọng trong 18 tháng (bao gồm đánh đập con gái bà và đe dọa giết). Ngày 12/6/1989, bà đâm chồng đến chết trong lúc cãi vã. Ban đầu bị kết án tù chung thân vì tội giết người (murder), nhưng sau chiến dịch vận động lớn (do Justice for Women dẫn dắt), bà được kháng cáo thành công năm 1995. Tòa án xem xét “battered woman syndrome” như yếu tố làm giảm trách nhiệm (diminished responsibility), dẫn đến xét xử lại và án được giảm xuống (cuối cùng bà được thả sau 8 năm tù). Vụ án này đã thúc đẩy cải cách luật về khiêu khích (provocation) ở Anh.

3. Kiranjit Ahluwalia (Anh, 1989)
Là phụ nữ gốc Ấn, Kiranjit bị chồng (Deepak Ahluwalia) đánh đập, lạm dụng tình dục và tâm lý suốt 10 năm. Ngày 9/5/1989, bà châm lửa đốt chăn ga khi chồng ngủ. Ban đầu bị kết án tù chung thân vì giết người (murder) năm 1989, nhưng sau kháng cáo năm 1992 (dẫn đầu bởi Southall Black Sisters), tội danh được giảm xuống ngộ sát (manslaughter) do “mất kiểm soát tạm thời” (provocation) và ảnh hưởng của “battered woman syndrome”. Bà được thả sau 3,5 năm tù. Vụ án đã thay đổi định nghĩa pháp lý về khiêu khích ở Anh, giúp các nạn nhân bạo hành khác (như Sara Thornton và Emma Humphreys).

TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ PHẨM CHẤT KỲ LẠ CỦA NGƯỜI MỸVừa rồi có nữ dân biểu của Hạ viện Mỹ phát biểu về vấn đề của Kirk, trong...
21/09/2025

TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ PHẨM CHẤT KỲ LẠ CỦA NGƯỜI MỸ

Vừa rồi có nữ dân biểu của Hạ viện Mỹ phát biểu về vấn đề của Kirk, trong đó nêu ra việc không đồng thuận với quan điểm của anh ta về phát ngôn rằng việc thông qua đạo luật dân quyền 1964 (một trong hai nỗ lực phi phàm của Luther King biến thành thành tựu trước khi ông bị ám sát không lâu sau đó) là “một hành động sai lầm”.

Mặc cho các giải thích câu nói trong bối cảnh mà Kirk muốn nhấn mạnh khía cạnh sự xuất hiện của DEI hoặc sự can thiệp củ Bộ Tư pháp (liên bang) với một số bang nhất định khi có lịch sử phân biệt hay kỳ thị, và đồng thời lên án hệ quả của đạo luật dân quyền khi nó tước bỏ cơ hội lựa chọn của tư nhân trong các quyết định mà không nên được trao cho hay cần tới sự can thiệp của nhà nước (điều đe doạ tới tự do cá nhân, giá trị mà Kirk cho rằng là nền tảng cốt yếu của nền dân chủ Hoa kỳ).

Tuyên bố này của Kirk về vấn đề này có nhiều bất ổn cả về mặt lịch sử và trong chính các khía cạnh pháp lý mà nó thách thức. Tuy vậy, điều đáng hoan nghênh là Kirk cũng luôn cho rằng Tự do ngôn luận theo Tu chính án thứ nhất của Mỹ sẽ không loại trừ các “phát ngôn căm thù”, và điều này cứu vãn anh ta về cơ sở bảo đảm cho chính các ngôn luận của anh ta trong những vấn đề anh ta đề cập khi còn sống.

Tuy nhiên, với vấn đề coi Đạo luật dân quyền 1964 là một hành động sai lầm, và như đã nói, dù đặt trong bối cảnh lên án hệ quả của việc tồn tại các cơ chế can thiệp hay giám sát có xu hướng làm thay đổi mục đích tốt đẹp ban đầu của chính đạo luật trong việc bảo vệ quyền bình đẳng sắc tộc khi chúng được thiết lập và thông qua, thì các tuyên bố này của Kirk vẫn là các ngôn luận phạm vào những vấn đề cơ sở trong lịch sử và tinh thần pháp lý của nó.

Cần nhìn lại lịch sử Hoa Kỳ về vấn đề chủng tộc. Nếu ai đó viện dẫn Tu chính án thứ 13, 14 và 15 để cho rằng các vấn đề về quyền bình đẳng đối với người da màu đã được thiết lập là chưa đúng. Tại các Tu chính án này, giới hạn của nó đặt ra khi nó nghiêm cấm các hành động có biểu hiện phân biệt đối xử trong phạm vi của các tổ chức công quyền mà không thể tham chiếu trong các nội hàm của tư nhân. Chính vì thế, tại các bang miền Nam, nhiều bang đặt ra các luật để nhằm loại trừ người da đen khỏi đời sống chính trị thông qua hệ thống luật Jim Crow (dựa theo tên nhân vật hài nhại được sáng tạo đầu thế kỷ 19).

Vào năm 1896, mặc dù nội chiến để bãi bỏ chế độ nô lệ đã kết thúc ba mươi năm, một vụ kiện về phân biệt đối xử được thực hiện, nhưng án lệ này của Pháp viện tối cao đã thay vì ngăn chặn được sự phân biệt đối xử lại dường như bảo đảm thêm cho nó với nguyên tắc “tách biệt nhưng bình đẳng”, tức một cơ sở dịch vụ được xem là không thực hiện sự phân biệt nếu dù tách biệt về khu vực hay không gian nhưng chỉ cần chất lượng là như nhau trong phục vụ người da trắng lẫn da đen. Án lệ này được gọi là Plessy v. Ferguson, án ngữ và làm chắc chắn thêm cho sự tồn tại của Jim Crow Laws trong hàng chục năm tiếp tục sau đó cho đến khi có một bước ngoặt khác xảy ra về cùng vấn đề.

Các bang đặt ra luật thậm chí dựa trên các yếu tố về kiểm tra biết chữ, thuế bầu cử hoặc gốc gác và lịch sử gia đình trong bầu cử để loại bỏ quyền bầu cử của người da đen. Một số bang đặt ra luật mà tại đó phân định khu vực dành riêng cho người da đen như trên tàu hoả hay xe buýt, ngay tại trường học công lập cũng có khu dành riêng cho người da đen. Các luật này tỏ ra là trung dung trong các quy định, nhưng thực chất lại ngầm loại bỏ người da đen bằng các hình thức mà người da đen không thể vượt qua (như tình trạng kiểm tra biết chữ và ông bà đã bầu cử mới được bầu cử - trước nội chiến, không người da đen nào được đi học hay đi bầu cử). Những quy định này khiến SCOTUS không thể tuyên bố chúng vi phạm Hiến pháp vì về kỹ thuật và hình thức chúng tỏ ra hoàn toàn trung dung mà không có sự phân biệt nào.

Sau đó, với hệ thống luật Jim Crow (và cả trong văn hoá đối xử trong cộng đồng), các vụ kiện của người da đen và cùng các phản kháng vẫn tiếp tục diễn ra. Đỉnh điểm nhất trong số đó là vụ kiện vào năm 1954 của một người da đen bị từ chối theo học trong trường công lập vì không tuân thủ quy định khu vực dành riêng cho người da màu. Án lệ này có tên Brown v. Board of Education (1954), chúng là cú lật ngược án lệ năm 1896, khi tuyên bố rằng dù đáp ứng cùng một phẩm hạng về chất lượng trong phục vụ, việc tách biệt khu vực dựa trên màu da vẫn là một hành động phân biệt phải chấm dứt. Điều này được dựa trên các nghiên cứu tâm lý và xã hội học của các bác sĩ đánh giá tác động và ảnh hưởng của chúng trong đời sống trong một khoảng thời gian đủ dài.

Cũng chính phán quyết này, trong các nỗ lực phi thường và đấu tranh không mệt mỏi của mục sư Luther King, trong các tiến trình vừa biểu tình dân sự, vừa vận động với Nhà trắng (dưới thời của vị Tổng thống miền nam đầu tiên Lyndon Johnson), hai đạo luật quan trọng phủ lấp chỗ trống của Hiến pháp về vấn đề phân biệt chủng tộc chính thức được thông qua năm 1964 và 1965, hai đạo luật trở thành xương sống mà chính Kirk phàn nàn rằng chúng còn mạnh mẽ hơn cả Hiến pháp trong việc tham chiếu và viện dẫn. Nhưng cũng chính nhờ hai đạo luật quan trọng này mà mọi hành động, dưới bất kể hình thức nào như hệ thống luật Jim Crow đã tạo ra (như kiểm tra biết chữ, hay bầu cử dựa trên lịch sử gia đình…) đã bị vô hiệu hoá hoàn toàn và triệt để, giúp người da đen thực sự có chỗ đứng ngang bằng trên thực tế thay vì hầu như chỉ trên lý thuyết pháp lý của trước đây.

Tại sao thời đó Luther King lại thông qua luật thay vì Tu chính án để giải quyết vấn đề? Cần lưu ý rằng không chỉ quy trình lập Tu chính án là cực kỳ phức tạp và mất thời gian, song yếu tố quan trọng để phong trào đấu tranh chống kỳ thị hay phân biệt muốn thông qua đạo luật là bởi nếu một Tu chính án phải cần ít nhất 3/4 số tiểu bang chấp thuận để có hiệu lực mà trong số những bang miền Nam (vốn chống người da đen) sẽ không ngồi vào mà không kèm theo phiếu chống, trong khi việc thông qua một đạo luật chỉ cần tới Quốc hội lưỡng viện, mà Tổng thống cũng không phải thiết chế có thể ngăn chặn dù dùng quyền phủ quyết.

Riêng với vấn đề trước tuyên bố của Kirk xem rằng việc thông qua đạo luật dân quyền là một sai lầm, vốn cũng chỉ là một dạng quan điểm về tự do biểu đạt và chính kiến, và nếu nó gây ra sự chia rẽ nó vẫn chỉ mang ý nghĩa của một tuyên bố có thể tạo nên thù ghét, điều mà Kirk vẫn tuyên bố rằng nó cần được bảo đảm bởi Tu chính án thứ nhất về tự do ngôn luận mà không bị trừng phạt hay phải bị giới hạn. Nếu phát ngôn này gây tổn thương cho lịch sử và tương lai của người da màu, rõ ràng nó cũng dễ dàng được hiểu khi anh ta cũng đã tuyên bố rằng các hệ quả tạo nên những thiết chế kiểu DEI hay các biện pháp giám sát của Bộ Tư pháp trở thành sự kỳ thị ngược với người da trắng, tức các tổn thương đến từ vấn đề chủng tộc trong phạm vi mà đáng ra tư nhân được quyền lựa chọn thay vì các can dự của nhà nước.

Điều này và các phát ngôn của Kirk, không nên bị kích động hoá vượt quá phạm vi các quan điểm hoàn toàn ôn hoà, thứ vốn được Kirk hết mực trung thành trong đối thoại và trên mọi diễn đàn. Nữ dân biểu cánh tả (OZ Cortes) đưa ra các trích dẫn kiểu tiêu đề chính trị và cho rằng Kirk đang tạo nên một nước Mỹ đầy chia rẽ và mang đến viễn cảnh tăm tối cho nước Mỹ khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có cơ hội quay trở lại với gương mặt mới của nó, e rằng đã là một diễn giải lại không chỉ thiếu trung thực mà còn đang ném vào trong đó các hạt nhân xung đột lớn hơn các quan điểm trong bối cảnh gốc của các phát ngôn này mà Kirk từng đưa ra trước đó.

Sau cùng, nước Mỹ vẫn luôn tiến lên, dù đôi lúc suy trầm hoặc đứng trước các bước ngoặt dường như hầu hết nhìn nhận dưới ánh nhìn bi quan, nhưng nó lại chứng minh rằng đó là phẩm chất Mỹ từ nguyên thuỷ theo cách mà Tocqueville từng tỏ ra kinh ngạc, khi vào những thời khắc đen tối sẽ luôn có những quyết định để bước ra ánh sáng với niềm tin đã được lựa chọn và định sẵn hiện ra trên dòng chữ “In God we trust”. Nước Mỹ vĩ đại vì luôn thấy các vấn đề và thách thức, tỏ ra bi kịch nhưng chính nó gạn lọc trí tuệ Mỹ trở nên sáng suốt hơn. Đây là giá trị dường như đặc thù và rất ngoại lệ của xứ sở kỳ lạ nhưng đầy nội lực này.

VẤN ĐỀ BỒI THƯỜNG TỔN THẤT TÍNH MẠNG CẦN ĐƯỢC LẬP PHÁP RA SAOTrong vấn đề bồi thường cho sức khoẻ hay tính mạng bị xâm p...
15/09/2025

VẤN ĐỀ BỒI THƯỜNG TỔN THẤT TÍNH MẠNG CẦN ĐƯỢC LẬP PHÁP RA SAO

Trong vấn đề bồi thường cho sức khoẻ hay tính mạng bị xâm phạm, hiện nay, các quy phạm được viết ra từ các nhà lập pháp cho thấy sự thiếu khuyết và đầy xung đột trong nó, một cách sâu sắc.

Trong khi nếu sức khoẻ bị xâm phạm, điều luật quy định rằng bị hại sẽ được bồi thường một khoản mất thu nhập tương ứng trong thời gian phải điều trị cho đến khi bình phục, nếu mất khả năng lao động hoàn toàn (cần nhấn mạnh vào tính hoàn toàn của việc mất khả năng lao động) sẽ được cấp dưỡng tới khi người này chết, cùng các khoản chi phí cho người chăm sóc người bị hại, nhưng không có việc bồi thường cho người lệ thuộc cần phải cấp dưỡng. Nhưng nếu một người bị thiệt hại tính mạng, điều đáng nói nằm ở đây, khi khoản bồi thường về mất thu nhập của nạn nhân (có thể rất rất lớn) lại không được tính mà chỉ tính cho việc cấp dưỡng đối với người phụ thuộc (như con cái cho tới đủ 18 tuổi hoặc cha mẹ, người thành niên không có khả năng lao động cho tới khi những người này chết), trong khi nếu không có người phụ thuộc và cũng không mất khả năng lao động hoàn toàn, vấn đề trở nên phức tạp và khó khăn với chính bên bị thiệt hại.

Thử hình dung, trong luật bồi thường tại Mỹ, sẽ có điều khoản quy định về giá trị thống kê sự sống, tuỳ theo từng tiểu bang, có một số bang ấn định một mức tối thiểu từ 250.000$ trở lên, các bang khác áp dụng mức trần (nhằm ngăn chặn lạm dụng, nhưng đủ lớn để bảo đảm về mặt kinh tế), và tính trung bình tổng các khoản bồi thường khoảng 1.000.000$ cho một vụ tổn hại về tính mạng. Tuy nhiên, kết cấu điều khoản bồi thường sẽ bao gồm tổn thất kinh tế mà nạn nhân gặp phải, cùng khoản phạt (cho lỗi cố ý hoặc quá sơ suất), mà khoản này sẽ được chia theo tỷ lệ từng tiểu bang cho người nhà nạn nhân và một bên là nhà nước. Có những vụ kiện có thể có mức bồi thường lên tới 10 triệu đô hoặc hàng chục triệu đô, tuỳ khả năng biện hộ của luật sư và khả năng bằng chứng ủng hộ họ hay không.

Tại vương quốc Anh, tính mạng một người bị thiệt hại được thiết lập với kết cấu bao gồm một khoản bù đắp cố định về tinh thần (đau khổ), hiện khoảng 15.000€ - 22.000€, cộng với khoản thiệt hại về kinh tế do mất thu nhập của chính nạn nhân (và đây chính là khoản mà nếu được giải quyết sẽ lên tới hàng triệu bảng, tức khắc phục có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế - văn hoá - xã hội). Trong khi ở Nhật Bản, khoản bồi thường cho tính mạng bị tổn hại, như tai nạn giao thông, thường trung bình ở mức 25 triệu Yên đến 30 triệu Yên (tương đương từ 3 - 6 tỷ đồng Việt Nam). Các vụ việc này thường là các vụ tai nạn hoặc tính mạng bị thiệt hại do ngộ sát, bất cẩn, nhưng thường sẽ không thấp hơn mức mà các thẩm phán sẽ tuyên trong khoảng tiền vừa được nêu, trong khi có những vụ đã từng được tuyên xử lên tới hàng trăm triệu Yên (tức hơn 30 tỷ Việt Nam đồng).

Quay trở lại khung bồi thường do tính mạng bị xâm phạm (tử vong) tại Việt Nam, điều khoản bồi thường cho thấy thực tế chúng đưa đến lợi ích rất thấp xét trong tương quan của cả khía cạnh tinh thần lẫn góc độ kinh tế, trong khi lại không có khoản bồi thường về tổn thất thu nhập bị mất của nạn nhân (điều đúng ra phải là một kết cấu quan trọng trong định mức và cấu trúc cho khoản tiền bồi thường cho sự sống của bị hại), vì bản thân việc bồi thường do sức khoẻ bị tổn hại lại ghi nhận khoản bồi thường này một cách mặc nhiên. Thậm chí, trong một số trường hợp, khoản mục bù đắp tổn thất tinh thần trong trường hợp tử vong (không quá 100 tháng lương cơ sở) lại thấp hơn khoản phải bồi thường cho tổn thất tinh thần khi sức khoẻ bị xâm phạm (không quá 50 tháng lương cơ sở). Tư duy lập pháp này dường như tạo ra một xung đột và nghịch lý thực sự lớn cho cả hai tình huống bồi thường theo pháp định. Nếu sức khoẻ bị xâm phạm có thể đưa đến các khoản chi trả lớn hơn so với nếu tính mạng bị mất đi, người ta sẽ nhìn thấy sự phi lý này để thực hiện điều độc ác rốt ráo hơn là dừng lại để phải gánh chịu hậu quả lớn lao dai dẳng của nó nếu gây tổn thất ít hơn cho bị hại.

Vậy cần phải thiết kế điều luật bồi thường cho tổn thất về tính mạng nên được xây dựng ra sao? Về nguyên tắc, cần các cấu thành cơ bản như sau:

- đầu tiên là CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ VÀ AN TÁNG: bao gồm chi phí điều trị trước khi tử vong, việc mai táng và tất cả các khoản phí để giải quyết các vấn đề của an táng cho đến khi kết thúc hoàn toàn (nếu có, sẽ không loại trừ cả dịch vụ trang điểm hoặc phục hồi tình trạng nguyên vẹn của thi thể, hẳn nhiên cũng phải tính vào chi phí cần thiết); cũng bao gồm chi phí cho người chăm sóc hoặc dịch vụ phải sử dụng để lo liệu các vấn đề của điều trị lẫn an táng.

- thứ hai là CHI PHÍ TỔN THẤT KINH TẾ: bao gồm chi phí do mất thu nhập của nạn nhân, tính từ khi người này gặp nạn (có thể chưa tử vong ngay khi sự kiện xảy ra) cho tới hết thời hạn theo độ tuổi lao động và kèm theo khoản bồi thường tương đương lương hưu dựa trên độ tuổi trung bình cao nhất tuỳ theo giới tính. Cũng bao gồm chi phí cấp dưỡng cho con cái chưa thành niên cho tới đủ 18 tuổi và người không có khả năng lao động cho tới khi chết. Đây là các khoản bồi thường chính, và do đó có thể ấn định mức tối thiểu cho tổn thất thu nhập phát sinh do cái chết mang lại phải đủ lớn để đảm bảo cho cuộc sống của những người còn lại, giả dụ tương đương 150.000$ (khoảng 4 tỷ đồng theo thời giá hiện nay). Cần nhớ rằng, những người thừa kế còn sống có thể không thuộc đối tượng cấp dưỡng, nhưng không vì thế thiệt hại tính mạng trở nên bị xem nhẹ nếu quy dồn khoản tổn thất này được bù đắp cho việc cấp dưỡng những đối tượng đủ điều kiện được hưởng như hiện tại.

- thứ ba là CHI PHÍ TỔN THẤT TINH THẦN: ấn định một mức giới hạn tối thiểu cho thoả thuận hoặc được cố định, tương đương của một khoản tiền trong 10 năm thu nhập theo mức trung bình của vùng. Giả dụ, có thể không thấp hơn mức 500 triệu đồng. Khoản tổn thất này được hiểu rằng chúng là sự mất mát và đau khổ của thân nhân, và nếu không có thân nhân thì bất kể sinh mạng nào mất đi cũng đồng thời để lại một tổn thất cho cộng đồng chứa nó về tính tự nhiên của tồn tại người. Nhà nước sẽ thay thế việc thụ hưởng nếu người này không có di chúc hoặc bảo hiểm không có điều khoản chỉ định thụ hưởng.

- thứ tư là CHI PHÍ PHẠT: đây là hình thức chế tài để trừng phạt các hành vi có lỗi cố ý hoặc do quá sơ suất (hành vi trái luật nhưng do bất cẩn, hoặc quá tự tin) gây nên cái chết của nạn nhân. Một mức bồi thường có thể dao động tuỳ yếu tố lỗi, dao động trong khoảng 50.000$ - 100.000$, và phải chịu thuế thu nhập cá nhân với khoản bồi thường sau khi đã được chia tỷ lệ giữa nhà nước và thân nhân bị hại, giới hạn tỷ lệ 40% cho nhà nước và 60% cho thân nhân.

- thứ năm là CHI PHÍ QUỸ NHÀ NƯỚC: đây là một khoản phụ lục trong các trường hợp tổn thất nghiêm trọng hoặc do sự chậm trễ hoặc phức tạp, kéo dài của sự việc, khi này cần sự bảo đảm và hỗ trợ của nhà nước trong tính chính danh cùng vai trò đảm bảo cho hậu quả của tổn thất không lan rộng hay tạo thêm các hệ quả tiêu cực phát sinh trong thực tế một khi tình thế ngặt nghèo hay sự bi đát của gia đình nạn nhân không còn giá đỡ nào khả quan.

Address

Địa Chỉ: Nhà 24 Ngõ 205/37 Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when HÃNG LUẬT HEVA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share