08/01/2026
LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG TÍNH RÀNG BUỘC CỦA NÓ
Điều cơ bản của cơ bản là, điều mà Lincoln đã nói cách đây tính theo hàng trăm năm, rằng luật pháp là đạo đức tối thiểu, đạo đức là luật pháp tối đa. Luật pháp, dù theo hệ thống nào, cũng đều đặt đạo đức như mái vòm để giới hạn và định hướng một hành vi nhất định, càng phát triển và văn minh người ta càng thấy sức nặng và tính đi trước trong điều chỉnh đạo đức lớn hơn luật pháp, đặc biệt với giới chính trị gia và người của công chúng. Bất cứ lĩnh vực nào cũng đều có “nền đạo đức” của nó để tạo lập hành lang nghiêm ngặt cho mọi hoạt động mà người đứng trong đó chịu sự điều chỉnh. Như trong hoạt động nghiên cứu khoa học, yêu cầu liêm chính (tức là đạo đức) còn cao hơn tính chi phối của luật pháp thực chất đối với chuyên môn của họ.
Rousseau từng viết trong Khế ước xã hội về vấn đề đạo đức theo một cách tương đồng với Lincoln, với nhấn mạnh rằng khi luật pháp của một xã hội mất đi hiệu lực của nó thì đạo đức chính là cứu cánh (cuối cùng) để vãn hồi các trụ cột của công lý, lúc này vốn đang rơi vào khủng hoảng và suy thoái. Mặc dù trong cuốn Dân trị và Chính quyền, tôi đã không đứng về lập luận này mà đứng trên lập trường đối diện để phản bác cơ sở từ bản chất của tình trạng mà ông đặt ra trong diễn ngôn của mình.
Cụm từ “đạo đức xã hội” là một thuật ngữ pháp lý chung được xây dựng như nền móng bao quát trong đạo luật dân sự, bản văn vốn đóng vai như đạo luật gốc (được dân luật định danh là bản hiến pháp của đời sống dân sự) và nhờ đó thiết lập nền tảng cho những đạo luật chuyên ngành khác xây dựng dựa trên và xoay quanh triết lý cốt lõi của bản văn được xem như trung tâm luận này.
Bất cứ ngành nghề nào trong mọi cấu trúc cũng đều có một bộ quy chế (quy tắc ứng xử) đạo đức chuyên biệt và đặc thù, từ bác sĩ, luật sư, giáo viên, thẩm phán hoặc công chức… và người hoạt động trong địa hạt nghệ thuật thuộc vào phạm trù dành cho công chúng, vì vậy vấn đề đạo đức và tiêu chuẩn đánh giá còn mang xu hướng nghiêm ngặt và trực tiếp hơn trong phạm vi quán chiếu, vốn được mở rộng hơn các lĩnh vực khác trong xã hội.
Tuy vậy, trong vụ việc đổ bể chương trình biểu diễn, trình diễn nghệ thuật (âm nhạc) vừa rồi, không tồn tại dạng giao dịch vì lợi ích của người thứ ba trong tính chất pháp lý như một vài quan điểm đã đưa ra. Trong trường hợp này, các giao dịch là độc lập về chủ thể giao kết, nhưng quyền và nghĩa vụ liên đới cũng như lệ thuộc theo kiểu bắc cầu (đan chéo) các quyền lợi và nghĩa vụ với nhau trong tương quan chung (mục đích và dịch vụ tại thời điểm cuối cùng - buổi trình diễn). Tại đây, như đã phân tích, có hai loại hợp đồng song vụ song hành mà chúng là điều kiện làm phát sinh hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau (tức điều kiện làm giao dịch có hiệu lực hoặc có thể thực hiện được hay không trên thực tế).
Khán giả trả tiền gián tiếp cho nghệ sĩ để họ biểu diễn cho khán giả thưởng thức hình thức nghệ thuật (âm nhạc và trình diễn thị giác) - nhà tổ chức nhận tiền và chịu trách nhiệm tổ chức buổi trình diễn sao cho thành công theo kịch bản đã soạn trước - nghệ sĩ nhận tiền từ nhà tổ chức (nhưng là từ nguồn tiền của chính khán giả đã trả trước đó) và sẽ trình diễn cho khán giả thụ hưởng lợi ích thay vì cho nhà sản xuất (vì họ không trả tiền để xem nghệ sĩ trình diễn). Do vậy, hợp đồng trình diễn chỉ có thể thực hiện (vào thời điểm sau cùng vốn đã được công bố từ trước) khi hợp đồng với các nghệ sĩ được thực hiện, ngược lại sẽ phá vỡ mục đích và khả năng thực hiện hợp đồng của nhà sản xuất với khán giả.
Trong hợp đồng giữa đơn vị tổ chức với nghệ sĩ sẽ có quy định về các trường hợp trì hoãn, thay thế hoặc huỷ bỏ việc trình diễn vì lý do nghệ sĩ không tham gia (do thể chất, tinh thần) hoặc không đảm bảo được yêu cầu chuyên môn (hay vấn đề đạo đức nảy sinh khi nghệ sĩ này vướng vào rắc rối cá nhân khác), nghĩa là nhân tố “nghệ sĩ” chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng giữa nhà sản xuất và những người mua vé. Và trong hợp đồng này với nghệ sĩ, cũng sẽ luôn có điều khoản về các lý do tương tự trước việc có đảm bảo hay không việc nghệ sĩ tham gia, mà nếu vi phạm thoả thuận sẽ phát sinh trách nhiệm với họ một cách hiển nhiên.
Để dễ hình dung hơn, có một tình huống pháp lý khá cơ bản và tương đồng để làm ví dụ minh hoạ, đó là một cầu thủ A ký hợp đồng với một câu lạc bộ bóng đá B, sau đó được bán sang đội bóng C: khi này CLB B và CLB C ký hợp đồng (số 1) chuyển nhượng cầu thủ A với điều kiện D; và đồng thời cầu thủ A sẽ ký hợp đồng (số 2) với CLB C để đá cho đội này trong thời hạn 5 năm, trong đó có điều khoản ràng buộc làm phát sinh quyền hưởng lợi ích cho CLB C với điều kiện E. Có thể E và D là các điều kiện trùng nhau hoặc khác nhau nhưng sẽ có phần giao nhau nhất định (như A chấn thương ngay năm đầu tiên thì CLB C không được nhận 70% phí còn lại cùng khoản 10% hợp đồng dựa trên phong độ cầu thủ, ngược lại nếu A thăng hoa và mang về cúp vô địch mùa giải quốc nội hoặc khu vực, CLB C sẽ được thanh toán toàn bộ số phí hợp đồng chuyển nhượng cộng thêm việc hưởng 20% tiền thưởng hoặc một con số cụ thể nào đó). Đây chính là một tình huống tương đồng với hoạt động trình diễn nghệ thuật trong điều kiện phát sinh hiệu lực giao dịch giữa các bên.
Một số lập luận cho rằng đánh giá đạo đức trong vụ việc đổ vỡ buổi trình diên là vượt ngoài phạm vi, là một tư duy không chỉ hạn hẹp về pháp lý mà còn bước hụt chân trước chính sự đòi hỏi nền tảng của một cộng đồng văn minh thực sự. Nếu luật pháp không bao chứa trong nó công lý đặt trên nền móng đạo đức và các cơ sở thiết yếu của nó, làm sao luật pháp là một hệ thống đại diện cho khoa học và lẽ công bằng, vốn được minh định và đảm bảo trong chính luật pháp? Không chỉ vi phạm về nghĩa vụ với khía cạnh luật pháp, nó cũng đồng thời phá hỏng các trụ cột đạo đức cơ bản, nếu các loại hành vi như vậy không bị lên án và phê phán đúng mức, cộng đồng dung dưỡng nó hẳn không thể đi thêm bất cứ bước nào trong nhận thức về văn minh và nhân bản trước chính con người.