26/05/2026
Pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại, một số phân tích so sánh với pháp luật một số Quốc gia điển hình!
Sự phân định cấu trúc pháp nhân thành pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đánh dấu một bước chuyển dịch quan trọng trong tư duy lập pháp tư tại Việt Nam. Thay vì bám sát các tiêu chí phân loại dựa trên chức năng quản lý hành chính nhà nước hoặc hình thức sở hữu tài sản như các đạo luật tiền nhiệm, cơ quan lập pháp đã áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên mục đích luận. Phương pháp này thiết lập ranh giới pháp lý giữa hai thiết chế dựa trên mục tiêu hoạt động cốt lõi và cơ chế phân bổ thặng dư tài chính. Việc phân tích chuyên sâu ranh giới này, đối chiếu với các nền pháp luật tiêu biểu như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sẽ làm rõ những giá trị phổ quát cũng như những giới hạn lý luận của mô hình định danh chủ thể trong luật tư Việt Nam đương đại.
Dưới góc độ thực chứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định ranh giới giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại dựa trên hai điều kiện tích lũy gồm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và cơ chế phân chia lợi nhuận. Đối với pháp nhân thương mại, mục tiêu chính yếu và mang tính bản thể là tối đa hóa lợi ích kinh tế, đồng thời lợi nhuận thu được từ quá trình vận hành tài sản phải được phân chia cho các thành viên góp vốn. Thuộc tính này tương thích hoàn toàn với bản chất của các loại hình công ty đối vốn và công ty đối nhân theo pháp luật chuyên ngành về doanh nghiệp. Pháp nhân thương mại cung cấp một thiết chế giới hạn trách nhiệm, thiết lập cơ chế tách bạch tài sản độc lập nhằm tối đa hóa hiệu quả tích tụ tư bản của các nhà đầu tư trên thị trường.
Ngược lại, pháp nhân phi thương mại được định nghĩa thông qua phương pháp loại trừ, cụ thể là không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và áp dụng nguyên tắc cấm phân chia lợi nhuận. Nhóm chủ thể này bao trùm các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện và các hội. Điểm tiến bộ mang tính học thuật trong kỹ thuật lập pháp của Việt Nam là sự thừa nhận năng lực hành vi kinh tế của pháp nhân phi thương mại. Các thực thể này hoàn toàn có quyền tiến hành các giao dịch sinh lợi nhằm duy trì sự tồn tại và gia tăng nguồn lực phục vụ xã hội. Tuy nhiên, giới hạn pháp lý tuyệt đối là toàn bộ giá trị thặng dư phát sinh phải được tái đầu tư hoặc phục vụ cho mục tiêu tôn chỉ của tổ chức, tuyệt đối không được chuyển hóa thành tài sản tư hữu của các thành viên dưới bất kỳ hình thức phân phối lợi tức nào. Nguyên lý cấm phân chia lợi nhuận chính là cơ chế bảo vệ nền tảng nhằm duy trì sự toàn vẹn mục đích của các tổ chức dân sự, ngăn chặn hiện tượng lạm dụng tư cách phi lợi nhuận để trục lợi hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế. Cơ chế tài sản của pháp nhân phi thương mại cũng chịu sự kiểm soát khắt khe hơn khi giải thể, theo đó tài sản dư thừa không được chia cho các thành viên mà phải được chuyển giao cho các tổ chức có cùng mục đích hoặc thu hồi về ngân sách nhà nước.
Tiến hành đối chiếu với hệ thống pháp luật Đức, một trong những nền tảng kinh điển của truyền thống luật dân sự châu Âu lục địa, có thể nhận thấy những điểm tương đồng và khác biệt mang tính triết lý. Bộ luật Dân sự Đức tiếp cận sự phân loại pháp nhân dựa trên nền tảng của quyền tự do hiệp hội, phân lập các hội có tư cách pháp nhân thành hai nhóm cơ bản là hội lý tưởng và hội kinh tế. Hội lý tưởng tương đương với cấu trúc pháp nhân phi thương mại của Việt Nam, được thành lập vì các mục tiêu phi kinh tế như văn hóa, khoa học, xã hội và được công nhận tư cách pháp nhân thông qua thủ tục đăng ký tại tòa án địa phương. Trong khi đó, hội kinh tế mang những đặc tính của pháp nhân thương mại, có mục đích hoạt động kinh doanh để trục lợi cho thành viên và chịu sự điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật công ty.
Điểm khác biệt căn bản là pháp luật Đức nhấn mạnh vào bản chất của hoạt động trên thực tế thay vì chỉ định danh dựa trên quy chế phân chia lợi nhuận tĩnh. Học thuyết pháp lý Đức áp dụng nguyên tắc đặc quyền mục đích phụ, yêu cầu hoạt động kinh doanh của hội lý tưởng chỉ được mang tính chất phụ trợ tuyệt đối và phải gắn liền chặt chẽ với mục đích lý tưởng. Nếu một hội lý tưởng tại Đức vượt quá giới hạn này, lấy hoạt động kinh tế làm trọng tâm, tổ chức đó đối diện với rủi ro bị tước bỏ tư cách pháp lý ban đầu vì vi phạm nguyên tắc chuyên môn hóa mục đích, bất kể khối thặng dư tài chính có được phân chia hay không. Khác biệt này cho thấy pháp luật Đức sử dụng cơ chế kiểm soát động đối với quy mô hành vi kinh tế thực tế. Sự đối chiếu này chỉ ra rằng pháp luật Việt Nam có cách tiếp cận mềm dẻo hơn, tạo phạm vi hoạt động rộng hơn cho các pháp nhân phi thương mại trong bối cảnh tự chủ tài chính, nhưng đồng thời cũng để ngỏ rủi ro lạm quyền hoặc cạnh tranh không bình đẳng trên thị trường hàng hóa nếu thiếu các công cụ giám sát quy mô kinh doanh.
Xem xét hệ thống pháp luật Pháp, nguyên lý phân loại pháp nhân tư pháp chia sẻ chung hệ quy chiếu về tính chất sinh lợi với Việt Nam, thể hiện rõ nét qua sự phân định rạch ròi giữa chế định công ty và chế định hiệp hội. Bộ luật Dân sự Pháp quy định công ty là tổ chức được lập ra bởi hai hoặc nhiều người nhằm chia sẻ lợi nhuận hoặc hưởng lợi từ sự tiết kiệm tài sản chung. Đối lập với thiết chế này, hiệp hội được điều chỉnh bởi Đạo luật năm 1901 của Pháp, định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người nhằm gom góp kiến thức hoặc hoạt động vì một mục đích khác ngoài việc chia sẻ lợi nhuận.
Sự hội tụ về mặt lý luận giữa luật dân sự Pháp và luật dân sự Việt Nam nằm ở việc cả hai hệ thống đều sử dụng hành vi định đoạt lợi ích kinh tế cuối cùng làm lằn ranh đỏ để định danh bản chất của tổ chức. Truyền thống pháp lý Pháp bảo vệ sự nguyên bản của các hiệp hội phi lợi nhuận một cách tuyệt đối, cấm mọi hình thức chia sẻ lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp, điển hình như việc trả thù lao quản lý vượt mức hoặc xác lập giao dịch không ngang giá với người sáng lập. Sự vi phạm nguyên tắc này tại Pháp dẫn đến hệ quả pháp lý nặng nề là hiệp hội bị chuyển hóa cưỡng chế thành công ty trên phương diện áp dụng pháp luật và phải chịu các chế tài truy thu thuế nghiêm khắc. Cơ chế giám sát của Pháp cung cấp một bài học giá trị về việc xây dựng các công cụ kiểm toán và thanh tra tài chính nội bộ chặt chẽ đối với các giao dịch của người quản lý pháp nhân phi thương mại, một khía cạnh mà pháp luật Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện để ngăn chặn các hành vi tẩu tán thặng dư ẩn danh.
Trong bối cảnh có nhiều nét tương đồng về cấu trúc chính trị và tiến trình chuyển đổi nền kinh tế, quá trình pháp điển hóa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua Bộ luật Dân sự năm 2020 cung cấp một mô hình tham chiếu đặc biệt giá trị. Pháp luật Trung Quốc đã tái thiết toàn diện kiến trúc chủ thể, áp dụng mô hình tam phân thay vì lưỡng phân như Việt Nam, chia pháp nhân thành pháp nhân doanh lợi, pháp nhân phi doanh lợi và pháp nhân đặc biệt. Khái niệm pháp nhân doanh lợi và pháp nhân phi doanh lợi của Trung Quốc có nội hàm định chuẩn hoàn toàn tương đồng với pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại tại Việt Nam, cùng lấy nguyên tắc cấm phân phối lợi nhuận làm yếu tố phân định ranh giới.
Tuy nhiên, sự vượt trội về tính hệ thống logic trong kỹ thuật lập pháp của Trung Quốc thể hiện ở việc thiết lập thêm chế định pháp nhân đặc biệt dành riêng cho các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức quần chúng tự trị ở cơ sở và tổ chức kinh tế tập thể nông thôn. Sự hiện diện của thiết chế này làm bộc lộ một điểm nghẽn mang tính giáo điều trong cấu trúc lưỡng phân của pháp luật Việt Nam. Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 xếp cơ quan nhà nước vào cùng một nhóm pháp nhân phi thương mại với các hội đoàn tư nhân và quỹ từ thiện. Dưới góc độ lý luận luật tư nghiêm ngặt, cơ quan nhà nước là thực thể mang quyền lực công, hình thành từ sự ủy quyền hiến định, duy trì bằng ngân sách quốc gia và không dựa trên nguyên tắc tự do hiệp đồng của dân luật. Việc gán thuộc tính phi thương mại cho một thiết chế công quyền tạo ra sự khiên cưỡng về mặt bản thể luận pháp lý, làm lu mờ tính chất đặc thù của tài sản công khi xem xét các vấn đề về cưỡng chế thi hành án hay năng lực phá sản. Tài sản của cơ quan nhà nước không thể bị thanh lý theo cách thức áp dụng cho một pháp nhân dân sự thông thường. Mô hình tam phân của Trung Quốc giải quyết triệt để sự xung đột giáo lý này, duy trì sự minh định giữa luật công và luật tư trong khi vẫn cấp tư cách pháp nhân để nhà nước tham gia vào các giao dịch tài sản một cách bình đẳng.
Tổng luận lại, sự kiến tạo và phân lập pháp nhân thành pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là một quyết định pháp điển hóa mang tính nền tảng, thiết lập một khung khổ định danh logic cho hệ thống luật tư. Cấu trúc này nội luật hóa thành công các học thuyết cốt lõi của dân luật đương đại, thể hiện qua sự đồng điệu với tiêu chí giới hạn phân phối tài sản của nền luật học Pháp và kỹ thuật định danh của pháp luật Trung Quốc. Mặc dù vậy, dưới lăng kính luật học so sánh, hệ thống lý luận dân sự Việt Nam cần tiếp tục vận động để khắc phục những khoảng trống thực thi. Việc nội luật hóa các cơ chế kiểm soát động về quy mô hoạt động kinh tế từ kinh nghiệm của Đức và xem xét tái định vị không gian pháp lý biệt lập cho các chủ thể công quyền tương tự mô hình pháp nhân đặc biệt của Trung Quốc là những định hướng nghiên cứu cấp thiết. Sự tinh chỉnh học lý này sẽ góp phần kiến tạo một kiến trúc chủ thể chặt chẽ, tối ưu hóa cơ chế quản trị rủi ro và đáp ứng sự phức hợp ngày càng cao của các quan hệ tài sản trong nền kinh tế thị trường hội nhập.