LUẬT SƯ CỦA BẠN

LUẬT SƯ CỦA BẠN Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from LUẬT SƯ CỦA BẠN, Legal, hoàng mai, Hanoi.

Xã hội pháp quyền là xã hội thượng tôn pháp luật, LUẬT SƯ CỦA BẠN sẵn sàng hỗ trợ và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bạn trên cơ sở đề cao tôn chỉ đó.

03/02/2020

THỪA KẾ ĐẤT ĐAI KHÔNG CÓ GCNQSDĐ

Theo khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 thì người sử dụng đất được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất (bao gồm để thừa kế) khi có các điều kiện:

1. Có GCNQSDĐ, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai 2013;

2. Đất không có tranh chấp;

3. Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

4. Trong thời hạn sử dụng đất (nếu loại đất có thời hạn sử dụng đất thì phải còn thời hạn sử dụng).

Như vậy, GCN là một trong những điều kiện bắt buộc phải có khi muốn chuyển quyền sử dụng đất nói chung và để thừa kế nói riêng. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai 2013 quy định:

Khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi có GCNQSDĐ hoặc đủ điều kiện để cấp GCN. Có nghĩa là người nhận thừa kế được phép chuyển nhượng thửa đất được thừa kế ngay cả khi không có GCN, mà chỉ cần đủ điều kiện cấp GCN.

Đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013. Các điều 20, 22, 23, 24 Nghị định 43/2014.

Điều đó có nghĩa là đất không có GCNQSDĐ vẫn được phép để thừa kế.

30/10/2019

CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO THỬA ĐẤT NHỎ HƠN DIỆN TÍCH TỐI THIỂU

Về nguyên tắc một thửa đất được cấp GCNQSDĐ khi đáp ứng được các điêu kiện theo quy định trong đó có điều kiện là thửa đất có diện tích không nhỏ hơn diện tích tối thiểu do UBND cấp tỉnh nơi có thửa đất quy định (VD: ở Hà nội hiện nay là không dưới 30m2 theo Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội). Tuy nhiên, có một số trường hợp theo quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai thì vẫn được cấp GCNQSDĐ cho diện tích đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu, cụ thể như sau:
1. Thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu được hình thành từ trước ngày văn bản quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành và thửa đất đó có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
2. Tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp GCNQSDĐ cho thửa đất mới.
Như vậy, trường hợp thứ nhất nhằm bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu nhưng hình thành từ trước khi quy định về diện tích đất tối thiểu được cấp GCNQSDĐ do UBND cấp tỉnh ban hành có hiệu lực.

Trường hợp thứ hai là cho tách thửa nhưng thửa đất đó được hợp thửa với thửa đất bên cạnh mà vẫn đảm bảo diện tích không nhỏ hơn diện tích đất tối thiểu thì vẫn phù hợp với các quy định hiện hành liên quan.

08/10/2019

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN ĐỨNG TÊN TRÊN GCNQSD ĐẤT

Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về năng lực hành vi của người chưa thành niên khi thực hiện các giao dịch dân sự như sau:
- Người chưa đủ 6 tuổi sẽ không được tự mình thực hiện các giao dịch dân sự mà sẽ do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện;
- Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi được phép xác lập, thực hiện giao dịch dân sự khi có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ những trường hợp dùng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi;
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được phép tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và những giao dịch phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Trong khi đó quy định tại Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì không đề cập đến độ tuổi để được đứng tên trên GCN. Mặt khác, Điều 5 Thông tư số 23/2014/T-BTNMT được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định về thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và Luật Đất đai năm 2013 cũng không đề cập đến độ tuổi của người đứng tên trên GCN.
Do vậy, khi người chưa thành niên được tặng cho, được thừa kế quyền sử dụng đất thì họ có quyền đứng tên trên GCNQSD đất đó mà không đòi hỏi phải ghi tên người đại diện theo pháp luật của họ trên GCN. Chỉ khi nào người chưa thành niên thực hiện các quyền đối với thửa đất đó (chuyển nhượng, tặng cho…) thì cần tuân thủ quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự như đã dẫn ở trên.

12/08/2019

KHI NÀO HÀNG HÓA ĐƯỢC GHI CỤM TỪ SẢN XUẤT TẠI/MADE IN VIETNAM?

Tiếp theo bài viết “Hiểu như thế nào về xuất xứ hang hóa” (đường link: https://www.facebook.com/glawyer/posts/2156458984645349?__tn__=K-R), Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 04 năm 2017 về Nhãn hiệu hang hóa đã quy đinh rõ cách ghi xuất xứ hang hóa:

“Cách ghi xuất xứ hàng hóa được quy định như sau: Ghi cụm từ “sản xuất tại” hoặc “chế tạo tại”, “nước sản xuất”, “xuất xứ” hoặc “sản xuất bởi” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa đó”.

Như vậy cụm từ “sản xuất tại” (trong tiếng Anh có nghĩa là Made in) được sử dụng để ghi xuất xứ hang hóa từ nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa đó và điều này đã được nêu trong bài viết “Hiểu như thế nào về xuất xứ hang hóa”. Ở một số quốc gia việc xác định xuất xứ hang hóa được quy định chặt chẽ, ví dụ ở Mỹ quy định còn khắt khe hơn, một sản phẩm được coi là có xuất xứ từ Mỹ khi toàn bộ hoặc gần như toàn bộ sản phẩm đó được sản xuất tại Mỹ ("all or virtually all" made in the United States).

Như vậy, với quy định về Cách ghi xuất xứ hàng hóa tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 43 trên đây thì nhà sản xuất tại Việt Nam chỉ được ghi cụm từ “sản xuất tại Việt Nam” hoặc “made in Vietnam” trên sản phẩm của họ khi đáp ứng các tiêu chí xác định xuất xứ hang hóa theo Thông tư 05/2018/TT-BCT về xuất xứ hàng hóa, và một trong các tiêu chí để xác định xuất xứ hang hóa theo Thông tư này là căn cứ Tỷ lệ phần trăm giá trị (gọi tắt là LVC) của yếu tố tạo nên sản phẩm, khi giá trị nguyên vật liệu có nguồn gốc từ một nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đạt tỷ lệ phần trăm giá trị ≥30% tổng giá trị của sản phẩm thì sản phẩm đó được coi là có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đó. Theo tiêu chí này thì sản phẩm được gắn made in Vietnam khi giá trị nguyên vật liệu có nguồn gốc từ VN để tạo ra sản phẩm đó phải đạt tỷ lệ phần trăm giá trị ít nhất bằng 30% tổng giá trị của sản phẩm đó.

31/07/2019

CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Trong trường hợp người để lại di sản chết mà không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp hoặc tổ chức, cá nhân là người thừa kế nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản chết) hoặc những người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản, khi đó di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế theo pháp luật.
Người thừa kế theo pháp luật được chia thành 03 hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản, cụ thể:

Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Người thừa kế theo pháp luật như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Tất cả những người đồng thừa kế trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác họp để phân chia di sản thừa kế theo nguyên tắc chia đều cho những người được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật. Việc phân chia này phải được lập thành văn bản trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người khác. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó. Trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ (đã nêu ở Điều 651 nói trên) giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản, bao gồm giấy khai sinh, hộ khẩu, chứng minh nhân dân/căn cước công dân, giấy chứng nhận kết hôn của những người thừa kế.

Sau khi lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tổ chức công chứng sẽ niêm yết công khai văn bản thỏa thuận phân chia di sản trong thời hạn 15 ngày tại ủy ban nhân dân nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản; trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của người đó. Trường hợp di sản gồm cả bất động sản và động sản hoặc di sản chỉ gồm có bất động sản thì việc niêm yết được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản.
Hết thời hạn 15 ngày nói trên mà không có ai phản đối văn bản phân chia di sản, không có tranh chấp, khiếu nại thì tổ chức công chứng sẽ thực hiện công chứng. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng được cấp cho mỗi người thừa kế 01 bản và đây là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.

23/07/2019

Chia di sản thừa kế không có di chúc

21/07/2019

CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở

Điều kiện cấp GCN sở hữu nhà ở

Để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất đối với nhà ở (GCN) thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước và nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện nêu tại Điều 8 Luật nhà ở năm 2014. Theo đó, những đối tượng này có nhà ở hợp pháp thông qua hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật, những nhà ở này đã phải có sẵn.
Trường hợp chủ đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án để cho thuê mua, để bán thì không được cấp GCN mà cấp cho người thuê mua, người mua nhà ở, trừ trường hợp chủ đầu tư có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở chưa cho thuê mua, chưa bán, khi cho thuê mua, bán thì phải làm thủ tục sang tên cho người thuê mua, người mua. Trường hợp chủ đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì được cấp GCN nhà ở đó.
Ngoài ra, để được cấp GCN thì nhà ở đó không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch, việc mua bán nhà là hợp pháp, đồng thời bên mua đã thanh toán tiền mua nhà theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng, đúng quy định pháp luật.
Thực tế hiện nay hợp đồng mua bán nhà dự án do chủ đầu tư soạn thảo nên người mua nhà hầu như không có cơ hội để đàm phán, sửa đổi hợp đồng, do vậy người mua nhà, nếu có thể, nên chọn các dự án có chủ đầu tư uy tín, trong hợp đồng mua bán phải có điều khoản bảo lãnh ngân hàng đối với dự án đó, cam kết bảo lãnh ngân hàng là một trong các giấy tờ cần thiết mà người mua nhà phải nắm được trong tay để khi chủ đầu tư vi phạm hợp đồng mua bán nhà ở và họ khắc phục được vi phạm thì có cơ sở để yêu cầu và/hoặc khởi kiện bank thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Thời hạn chủ đầu tư phải làm thủ tục xin cấp GCN

Đối với nhà ở thuộc dự án thì theo Điều 13 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định “Trong thời hạn 50 ngày kể từ ngày bàn giao nhà, công trình xây dựng cho người mua hoặc kể từ ngày hết hạn thuê mua thì chủ đầu tư phải làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua, trừ trường hợp bên mua, bên thuê mua có văn bản đề nghị tự làm thủ tục cấp giấy chứng nhận”. Trong trường hợp này chủ đầu tư dự án nhà ở vẫn có trách nhiệm hỗ trợ các thủ tục cần thiết để bên mua, bên thuê mua làm thủ tục xin cấp GCN.
Đối với nhà ở hình thành trong tương lai (là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng) thì chủ đầu tư không được thu quá 95% giá trị hợp đồng; giá trị còn lại của hợp đồng được thanh toán khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCN cho bên mua, bên thuê mua nhà ở.

Thời hạn cấp GCN

Theo điểm b khoản 2 Điều 61 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định thi hành Luật Đất đai thì cơ quan cấp GCN thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của tổ chức đầu tư xây dựng là không quá 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ xin cấp GCN hợp lệ.

Luật thì quy định như vậy nhưng thực tế hiện nay nhiều chủ đầu tư không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình xin cấp GCN cho khách hàng mua nhà dự án, chậm trễ bàn giao quỹ bảo trì cho ban quản lý nhà chung cư...làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu nhà ở. Tiền đã trao mà cháo múc được 1/2.

CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG CHO ĐẤT CHUYỂN NHƯỢNG BẰNG GIẤY TỜ VIẾT TAYVề nguyên tắc hợp đồng, văn bản thực hiện c...
12/07/2019

CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG CHO ĐẤT CHUYỂN NHƯỢNG BẰNG GIẤY TỜ VIẾT TAY
Về nguyên tắc hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật như quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, đây là một trong các điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCNQSDĐ) (trừ trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản thì việc công chứng hoặc chứng thực được thực hiện nếu các bên có yêu cầu).

Tuy nhiên, pháp luật đất đai hiện nay có quy định một số trường hợp chuyển quyền sử dụng đất bằng giấy tờ viết tay (không có công chứng hoăc chứng thực) nhưng vẫn được cấp GCNQSDĐ lần đầu, cụ thể là các trường hợp:

1) Nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;
2) Nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định 01/2017/NĐ-CP;
3) Sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.

Hồ sơ, trình tự thủ tục xin cấp GCNQSDĐ được thực hiện tại cơ quan đăng ký đất đai thuộc UBND cấp huyện (với hộ gia đình, cá nhân) hoặc cấp tỉnh (đối với tổ chức) nơi có thửa đất. Ngoài ra, thửa đất phải đáp ứng được các điều kiện như không có tranh chấp; phù hợp quy hoạch; diện tích không nhỏ hơn diện tích tối thiểu do từng tỉnh quy định (VD ở Hà Nội hiện nay diện tích tối thiểu là không dưới 30m2 đối với các phường và không dưới 60m2 đối với các xã giáp ranh các quận và thị trấn - quy định tại Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND).

25/06/2019

HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA

Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa (Nghị định 31) quy định:
Xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó.
Theo quy định tại Điều 6, 7, 8 của Nghị định 31 nói trên thì hàng hóa được coi là có xuất xứ nếu thuộc một trong hai trường hợp sau đây:
- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ, và
- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ, nhưng phải đáp ứng tiêu chí xuất xứ thuộc Danh Mục Quy tắc cụ thể mặt hàng do Bộ Công Thương quy định.

Như vậy, việc xác định xuất xứ của hàng hóa có xuất xứ thuần túy sẽ dễ hơn vì hàng hóa đó được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ. Ví dụ các sản phẩm như bưởi năm roi, vải thiều lục ngạn, xoài cát chu... là các sản phẩm nông sản thuần túy được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, 100% xuất xứ Việt Nam nghĩa là có C/O (certficate of origin-chứng nhận xuất xứ) từ Việt Nam.

Vơí hàng hóa có xuất xứ không thuần túy thì xác định xuất xứ như thế nào, khi đó, theo pháp luật VN, sẽ căn cứ vào các tiêu chí xuất xứ thuộc Quy tắc cụ thể mặt hàng do Bộ Công Thương ban hành kèm theo Thông tư số 05/2018/TT-BCT quy định về xuất xứ hàng hóa. Theo quy định này, đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy thì một trong các tiêu chí để xác định xuất xứ hàng hóa là căn cứ Tỷ lệ phần trăm giá trị (gọi tắt là LVC) của yếu tố tạo nên sản phẩm, tỷ lệ này thể hiện hàm lượng giá trị có được đủ để coi sản phẩm đó là có xuất xứ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi diễn ra công đoạn sản xuất, gia công, chế biến cuối cùng để tạo ra sản phẩm đó sau khi trừ đi giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu không thuộc nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ đó hoặc giá trị nguyên liệu đầu vào không xác định được xuất xứ dùng để sản xuất ra hàng hóa. Theo đó giá trị nguyên vật liệu có nguồn gốc từ một nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đạt tỷ lệ phần trăm giá trị ≥30% tổng giá trị của sản phẩm thì sản phẩm đó được coi là có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đó.
Cũng theo Nghị định 31 trong quá trình sản xuất có những công đoạn gia công, chế biến đơn giản, cho dù được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau, sẽ không được sử dụng làm căn cứ xác định xuất xứ hàng hóa, ví dụ hành vi thay đổi bao bì đóng gói hàng hóa hoặc dán lên sản phẩm, bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự hoặc lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh...Những hành vi này không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ.
Điều này có nghĩa rằng sản phẩm gắn mác Made in Việt Nam hoặc bất kỳ một quốc gia nào khác được hiểu rằng sản phẩm này có C/O từ Việt Nam hoặc quốc gia sản xuất ra sản phẩm đó. Tuy nhiên, những hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, như giải thích ở trên, nếu sản phẩm được tạo ra ở VN nhưng Tỷ lệ phần trăm giá trị nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam không đạt tỷ lệ ≥ 30% tổng giá trị của hàng hóa đó thì sản phẩm này không được coi là có xuất xứ Việt Nam, đồng nghĩa với việc không được gắn mác MADE IN VIETNAM trên các sản phẩm đó.
Thực tế trên thị trường hiện nay có những hàng hóa đơn thuần chỉ là lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh, nghĩa là hàm lượng giá trị gia tăng tạo ra không cao cho nên hành vi đó không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa, hoặc có hiện tượng dán lên sản phẩm nhãn mác gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ sản phẩm, ví dụ như vụ Khải silk, họ đã dán mác made in việt nam lên lụa có xuất xứ trung quốc để người tiêu dùng nhầm tưởng đó là lụa của Việt Nam và một số vụ đội lốt hàng Việt Nam mà báo chí đưa tin gần đây.

Address

Hoàng Mai
Hanoi

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT SƯ CỦA BẠN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to LUẬT SƯ CỦA BẠN:

Share

Category