25/06/2019
HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA
Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa (Nghị định 31) quy định:
Xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó.
Theo quy định tại Điều 6, 7, 8 của Nghị định 31 nói trên thì hàng hóa được coi là có xuất xứ nếu thuộc một trong hai trường hợp sau đây:
- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ, và
- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ, nhưng phải đáp ứng tiêu chí xuất xứ thuộc Danh Mục Quy tắc cụ thể mặt hàng do Bộ Công Thương quy định.
Như vậy, việc xác định xuất xứ của hàng hóa có xuất xứ thuần túy sẽ dễ hơn vì hàng hóa đó được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ. Ví dụ các sản phẩm như bưởi năm roi, vải thiều lục ngạn, xoài cát chu... là các sản phẩm nông sản thuần túy được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, 100% xuất xứ Việt Nam nghĩa là có C/O (certficate of origin-chứng nhận xuất xứ) từ Việt Nam.
Vơí hàng hóa có xuất xứ không thuần túy thì xác định xuất xứ như thế nào, khi đó, theo pháp luật VN, sẽ căn cứ vào các tiêu chí xuất xứ thuộc Quy tắc cụ thể mặt hàng do Bộ Công Thương ban hành kèm theo Thông tư số 05/2018/TT-BCT quy định về xuất xứ hàng hóa. Theo quy định này, đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy thì một trong các tiêu chí để xác định xuất xứ hàng hóa là căn cứ Tỷ lệ phần trăm giá trị (gọi tắt là LVC) của yếu tố tạo nên sản phẩm, tỷ lệ này thể hiện hàm lượng giá trị có được đủ để coi sản phẩm đó là có xuất xứ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi diễn ra công đoạn sản xuất, gia công, chế biến cuối cùng để tạo ra sản phẩm đó sau khi trừ đi giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu không thuộc nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ đó hoặc giá trị nguyên liệu đầu vào không xác định được xuất xứ dùng để sản xuất ra hàng hóa. Theo đó giá trị nguyên vật liệu có nguồn gốc từ một nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đạt tỷ lệ phần trăm giá trị ≥30% tổng giá trị của sản phẩm thì sản phẩm đó được coi là có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đó.
Cũng theo Nghị định 31 trong quá trình sản xuất có những công đoạn gia công, chế biến đơn giản, cho dù được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau, sẽ không được sử dụng làm căn cứ xác định xuất xứ hàng hóa, ví dụ hành vi thay đổi bao bì đóng gói hàng hóa hoặc dán lên sản phẩm, bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự hoặc lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh...Những hành vi này không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ.
Điều này có nghĩa rằng sản phẩm gắn mác Made in Việt Nam hoặc bất kỳ một quốc gia nào khác được hiểu rằng sản phẩm này có C/O từ Việt Nam hoặc quốc gia sản xuất ra sản phẩm đó. Tuy nhiên, những hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, như giải thích ở trên, nếu sản phẩm được tạo ra ở VN nhưng Tỷ lệ phần trăm giá trị nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam không đạt tỷ lệ ≥ 30% tổng giá trị của hàng hóa đó thì sản phẩm này không được coi là có xuất xứ Việt Nam, đồng nghĩa với việc không được gắn mác MADE IN VIETNAM trên các sản phẩm đó.
Thực tế trên thị trường hiện nay có những hàng hóa đơn thuần chỉ là lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh, nghĩa là hàm lượng giá trị gia tăng tạo ra không cao cho nên hành vi đó không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa, hoặc có hiện tượng dán lên sản phẩm nhãn mác gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ sản phẩm, ví dụ như vụ Khải silk, họ đã dán mác made in việt nam lên lụa có xuất xứ trung quốc để người tiêu dùng nhầm tưởng đó là lụa của Việt Nam và một số vụ đội lốt hàng Việt Nam mà báo chí đưa tin gần đây.