Luật Trung Nguyên

Luật Trung Nguyên Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Luật Trung Nguyên, Corporate lawyer, Đống Đa, Hanoi.

Tư vấn pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Quản trị rủi ro pháp lý doanh nghiệp
Tư vấn giải quyết vụ việc, vụ án dân sự
Tư vấn giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

Quyết định số 1009/QD-TTG ngày 31/08/2023 của Thủ Tường Chính phủ Quy định về việc Phê duyệt Đề án triển khai Tuyên bố c...
18/03/2024

Quyết định số 1009/QD-TTG ngày 31/08/2023 của Thủ Tường Chính phủ Quy định về việc Phê duyệt Đề án triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Đây là quyết định nhằm mục đích thực hiện thành công Tuyên bố JETP bằng cách thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, bảo tồn và sử dụng năng lượng hiệu quả, góp phần đạt được mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Tuyên bố này liên quan đến việc phát triển cơ sở hạ tầng ngành năng lượng thông minh, đồng bộ để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và công bằng trong chuyển đổi năng lượng, với sự hỗ trợ hiệu quả của quan hệ đối tác quốc tế.

Theo đó, Quyết định là kim chỉ nam liên quan đến việc hoàn thiện các chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng, thúc đẩy chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch, phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo, khuyến khích tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối để quản lý năng lượng thông minh hơn, chuyển đổi hoạt động vận tải lĩnh vực năng lượng xanh, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, đảm bảo sự công bằng trong quá trình chuyển đổi năng lượng, thúc đẩy đào tạo lại và hỗ trợ cho người lao động và hộ gia đình bị ảnh hưởng, đồng thời tăng cường truyền thông và hợp tác quốc tế để huy động nguồn lực hướng tới chuyển đổi năng lượng công bằng.

Như vậy, quyết định nêu chi tiết cách tiếp cận toàn diện nhằm đạt được quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng và hợp lý ở Việt Nam, tập trung vào các khía cạnh pháp lý, cơ sở hạ tầng, công nghiệp và xã hội, nhấn mạnh vào tính bền vững môi trường và hợp tác quốc tế.

P/S: Đây là những bước đi về chính sách mở ra sự phát triển thị trường năng lượng của nước ta.

Quyết định số 1009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng

"LAO ĐAO" vì Covid-19, doanh nghiệp chọn phá sản hay giải thể?Khi dịch Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới, nền kinh t...
10/09/2021

"LAO ĐAO" vì Covid-19, doanh nghiệp chọn phá sản hay giải thể?

Khi dịch Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới, nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhiều doanh nghiệp “lao đao”. Vậy, doanh nghiệp nên chọn phá sản hay giải thể.
Căn cứ Khoản 1 Điều 207 Luật doanh nghiệp 2020 khi doanh nghiệp sẽ có 04 trường hợp doanh nghiệp bị giải thể, bao gồm:
- Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;
- Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
- Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Tuy nhiên, Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài.
Nếu như có 04 trường hợp doanh nghiệp bị giải thể thì doanh nghiệp phá sản chỉ bởi 01 lý do duy nhất: do mất khả năng thanh toán không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Và chỉ chính thức phá sản khi có quyết định của Tòa án.
Điểm khác biệt giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp
Ngoài sự khác biệt rất rõ ràng về lý do, giải thể và phá sản doanh nghiệp có rất nhiều điểm khác biệt.
Thứ nhất, về pháp luật áp dụng.
Giải thể doanh nghiệp là một thủ tục hành chính và được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020. Phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tư pháp và được thực hiện thep quy định Luật Phá sản 2014.
Thứ hai là sự khác biệt về chủ thể ra quyết định việc giải thể hay phá sản doanh nghiệp.
Giải thể doanh nghiệp là quyết định chủ động của chủ sở hữu doanh nghiệp (đối với trường hợp giải thể tự nguyện) hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh (trường hợp giải thể bắt buộc), căn cứ theo quy định tại điều 208 Luật doanh nghiệp 2020.
Còn thủ tục phá sản doanh nghiệp do Tòa án quyết định dựa trên đơn yêu cầu của người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Điều 5 - Luật phá sản 2014.
Thứ ba, điều kiện giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp.
Điều kiện để doanh nghiệp được phép giải thể đó là khi doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp bị giải thể, các chủ nợ sẽ được thanh toán đầy đủ các khoản nợ theo thứ tự pháp luật quy định, hoặc các bên có thể thỏa thuận miễn giảm nợ.
Đối với phá sản doanh nghiệp thì bản chất là chủ nợ nhận thấy doanh nghiệp không thanh toán được nợ, doanh nghiệp phá sản không bắt buộc bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Các chủ nợ sẽ được thanh toán các khoản nợ theo thứ tự luật định trên cơ sở số tài sản còn lại của doanh nghiệp, trừ trường hợp đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ.
Thứ tư là thái độ của Nhà nước đối với người quản lý, điều hành doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp giải thể người quản lý, điều hành không bị Nhà nước hạn chế quyền tự do kinh doanh.
Nhưng Nhà nước có thể hạn chế quyền tự do kinh doanh đối với chủ sở hữu hay người quản lý điều hành doanh nghiệp bị phá sản. Chẳng hạn, người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản.
Doanh nghiệp chọn phá sản hay giải thể?
Như phân tích ở trên, thủ tục phá sản phức tạp hơn, hậu quả pháp lý của phá sản lại nặng nề hơn rất nhiều so với giải thể nên nếu được lựa chọn thì có lẽ không doanh nghiệp nào “dại dột” mà lựa chọn phá sản.
Chỉ có các doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán lương, thanh toán nợ, không được quyền tiến hành thủ tục giải thể thì mới "bị" phá sản.
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ rơi vào thế bị động, bị người lao động hoặc chủ nợ hoặc các đối tượng khác yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản để từ đó, tiến hành thủ tục phá sản, bán tài sản để trả nợ, hoặc phục hồi lại hoạt động kinh doanh để có cơ sở trả nợ.
Nếu doanh nghiệp vẫn có thể thanh toán hết lương và các khoản nợ, nhận thấy việc tiếp tục kinh doanh sẽ khó khăn và có khả năng cao bị thua lỗ thì lúc này doanh nghiệp mới có quyền (nên) chọn giải thể. Khi chọn giải thể thì doanh nghiệp ở thế chủ động hơn, thủ tục đơn giản hơn.
Kết luận: Tùy tình hình doanh nghiệp gặp khó do Covid-19 mà được chọn giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản.
Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa đến mức mất khả năng thanh toán thì ngoài giải thể cũng có thể chọn tạm ngừng kinh doanh, chờ hết dịch, kinh tế đi vào ổn định để tiếp tục hoạt động.

TTO - Có tới 90% doanh nghiệp du lịch không hoạt động, 10% cầm chừng, xuất khẩu dệt may lần đầu tăng trưởng âm; đặc biệt vận tải hàng không sụt giảm nghiêm trọng, Vietnam Airlines đứng trước nguy cơ phá sản, Bamboo, Vietjet thiếu hụt t...

HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI LUẬTNgười sử dụng lao động và Người lao động đơn phương c...
09/09/2021

HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI LUẬT
Người sử dụng lao động và Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ chịu những hậu quả pháp lý nhất định theo quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021) thì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) trái pháp luật là trường hợp chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định tại các Điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này.
Trường hợp NSDLĐ và NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ chịu những hậu quả pháp lý sau:
1. Đối với NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Căn cứ quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động 2019 thì NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ:
- Không được trợ cấp thôi việc.
- Phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước.
- Phải hoàn trả cho NSDLĐ chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 Bộ luật lao động 2019.
2. Đối với NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Căn cứ quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019 thì NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ:
(1) Phải nhận NLĐ trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày NLĐ không được làm việc và phải trả thêm cho NLĐ một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.
Sau khi được nhận lại làm việc, NLĐ hoàn trả cho NSDLĐ các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của NSDLĐ.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong HĐLĐ mà NLĐ vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước.
(2) Trường hợp NLĐ không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả tại Điểm (1) NSDLĐ phải trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ để chấm dứt HĐLĐ.
(3) Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý thì ngoài khoản tiền NSDLĐ phải trả tại Điểm (1) và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ.
Trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ khi chấm dứt HĐLĐ (Điều 48 Bộ luật lao động 2019)
1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:
- NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
- NSDLĐ thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
- Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của NLĐ theo thỏa ước lao động tập thể, HĐLĐ được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
3. NSDLĐ có trách nhiệm sau đây:
- Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu NSDLĐ đã giữ của NLĐ;
- Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của NLĐ nếu NLĐ có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do NSDLĐ trả.

08/09/2021

SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ GIÃN CÁCH COVID-19.
Theo đánh giá của Cục Việc làm, tính từ đầu năm đến hết tháng 7, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường đã tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước (có 79,7 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường; 75,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới). Trung bình mỗi tháng có hơn 11,3 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường, trong khi đó số doanh nghiệp mới được thành lập có quy mô lao động giảm so với cùng kỳ năm trước là 7,2% lao động. Số doanh nghiệp rút khỏi thị trường lao động diễn ra ở tất cả các ngành, tuy nhiên tập trung nhiều vào ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ôtô, xe máy; công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; dịch vụ lưu trú và ăn uống; kinh doanh bất động sản; giáo dục, đào tạo…
Cùng với đó, số lao động thất nghiệp gia tăng do nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh không còn khả năng chống đỡ với dịch bệnh nên buộc phải cắt giảm lao động. Số người thất nghiệp trong quý II-2021 là 1,2 triệu người, chiếm 2,62%. Tháng 7 với mức độ phức tạp của dịch bệnh, số lao động thất nghiệp tăng cao, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị lên hơn 4%. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng tiếp tục tăng cao. Quý II-2021, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 5,2%. Tỷ lệ này trong tháng 7 tăng rất cao vì lao động phải ở nhà, nghỉ việc để thực hiện giãn cách xã hội. Trong quý II-2021, cả nước có 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập…
Do đó, trong thời gian gần đây có rất nhiều doanh nghiệp đã sử dụng rất nhiều hình thức để sa thải người lao động. Những doanh nghiệp cần sử dụng linh hoạt pháp luật, hòa giải thuyết phục cho người lao động tốt để người lao động hài lòng với quyết định chấm dứt hợp đồng của doanh nghiệp. Bởi vì, hậu quả của người sử dụng lao động phải chịu khi chấm dứt hợp đồng lao động là rất lớn.
Căn cứ Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
Như vậy, muốn chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào một trong các trường hợp trên. Tuy nhiên, trong đợt dịch bệnh thứ 4 này đã ảnh hưởng tới công việc cả cá nhân người lao động và người sử dụng lao động rất lớn. Tâm lý của người lao động thường là không muốn chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, nhiều công ty đã không áp dụng được những căn cứ nêu trên để chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật. Nhiều công ty đã ngang nhiên sa thải người lao động bằng hình thức xử lý kỷ luật lao động.
Theo quy định Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động muốn áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động sa thải để chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì người sử dụng lao động phải có cơ sở để cho rằng người lao động có hành vi vi phạm thuộc quy định tại Điều 125 bộ luật lao động 2019.
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Tuy nhiên, người sử dụng lao động phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật chung như sau:
Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (công đoàn cơ sở hoặc tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp).
Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật.
Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.
Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
Nghiêm cấm hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phẩm của người lao động khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải.
Không được xử ký kỷ luật người lao động nếu họ đang thuộc các trường hợp sau:
Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
Đang bị tạm giữ, tạm giam;
Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm về trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;
Người lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
Người lao động đang bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Trên đây là những điều Người sử dụng lao động cần chú ý khi có ý định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với Người lao động.

It's now at http://www.mof.gov.vn:80/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDocName=MOFUCM207077&_afrLoop=5744766404610353.

LUẬT SƯ LÀM CHỨNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐẤT DỰ ÁNTrong vụ án "vẽ dự án ma, lừa hàng chục khách hàng" xảy ra tại tỉnh Đồng Nai...
06/09/2021

LUẬT SƯ LÀM CHỨNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐẤT DỰ ÁN
Trong vụ án "vẽ dự án ma, lừa hàng chục khách hàng" xảy ra tại tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Đình Chính đã lập dự án "ma", phân lô, bán nền đất nông nghiệp để lừa hàng chục khách hàng lên tới hàng chục tỉ đồng.
Để tạo niềm tin cho khách hàng, đầu tháng 12-2019 Chính đến văn phòng luật sư Mai Thị Kim Sa (có trụ sở chính ở TP.HCM, địa chỉ chi nhánh ở phường Trảng Dài, TP Biên Hòa, do bà Mai Thị Kim Sa làm trưởng văn phòng) yêu cầu văn phòng luật sư này soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ).
Văn phòng luật sư này đã soạn thảo 54 hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Sau đó khách hàng và Chính ký, lăn tay trên hợp đồng, bà Mai Thị Kim Sa đại diện văn phòng luật sư ký tên đóng dấu với tư cách người làm chứng. Sau đó, Chính bị bắt về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai cho rằng căn cứ vào Luật luật sư năm 2019, quy định văn phòng luật sư được soạn thảo các hợp đồng hợp pháp theo quy định của pháp luật, không quy định cụ thể về việc văn phòng luật sư không được soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và làm chứng trong việc chuyển nhượng QSDĐ khi đất chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là luật sư có được làm chứng các giao dịch bất động sản hay không và khi có tranh chấp, thậm chí khi các giao dịch này có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, thì luật sư có trách nhiệm như thế nào?
Theo quan điểm cá nhân của tôi:
Việc làm chứng của Văn phòng luật sư là trái với quy định pháp luật, nó không tuân thủ đầy đủ thủ tục theo luật định là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chúng thực và vi phạm các hành vi nghiêm cấm của luật sư. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là vô hiệu. Tùy thuộc vào mức độ và hành vi thì người bán, luật sư sẽ chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Việc vô hiệu trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thì rủi ro lớn hơn luôn thuộc về phía người mua. Người mua có thể phải đợi rất lâu mới có thể sang tên cho mình, thậm chí không sang tên được, đang làm thủ tục thì xảy ra tranh chấp, lúc đó phần thiệt hơn sẽ thuộc về phía người mua. .
Khoản 1, điều 30 Luật luật sư năm 2015 quy định dịch vụ pháp lý khác của luật sư bao gồm: giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại, dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, việc luật sư soạn thảo, ký là chứng hợp đồng thì không sai, tuy nhiên ký xác nhận với tư cách người làm chứng trong giao dịch có điều kiện là sai. Không chỉ vậy, khi đóng dấu văn phòng luật sư trong hợp đồng chuyển nhượng đất thì việc làm chứng này không còn là tư cách cá nhân nữa, mà đã là tư cách luật sư đại diện cho văn phòng luật sư. Với tư cách là luật sư, phải biết việc chuyển nhượng đó là trái pháp luật nhưng đã không tư vấn cho khách hàng chấm dứt ngay hành vi trái pháp luật mà vẫn thực hiện là vi phạm và hỗ trợ người mua thực hiện hành vi điểm g khoản 1 Điều 9 Luật luật sư, dẫn tới ảnh hưởng lợi ích hợp pháp của người mua. Tùy theo tính chất và mức độ hành vi, cơ quan điều tra sẽ xem xét xử lý theo quy định như đồng phạm.
Không thể bao biện rằng việc làm chứng này chỉ là chứng kiến có sự việc mua bán trên thực tế, chứ không chịu trách nhiệm về nội dung giao dịch. Do đó, trong những vụ việc như thế này, trách nhiệm vật chất của luật sư không thể chối cãi được và luật sư không thể vô can.
Không thể bao biện rằng việc làm chứng này chỉ là chứng kiến có sự việc mua bán trên thực tế, chứ không chịu trách nhiệm về nội dung giao dịch. Hơn nữa, về mặt chủ quan, lời chứng của luật sư thể hiện luật sư biết giao dịch này là trái quy định pháp luật nhưng vẫn làm chứng. Do đó, trong những vụ việc như thế này, trách nhiệm của luật sư không thể chối cãi được và luật sư không thể vô can.
Do đó, Người mua (bị hại) cần làm đơn trình báo đến cơ quan có chức năng xem xét giải quyết về việc mình có hay không bị lừa và thiệt hại, cần xem xét trách nhiệm của từng cá nhân tham gia vào quá trình chuyển nhượng trên.Tính chất, mức độ vi phạm pháp luật đến đâu và xử lý ra sao phụ thuộc vào quá trình điều tra của cơ quan tố tụng. Song trong trường hợp này, luật sư đã vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư.
Nếu các đương sự làm đơn khiếu nại gửi đến hội đồng khen thưởng kỷ luật của đoàn luật sư nơi luật sư đó tham gia thì hội đồng khen thưởng kỷ luật sẽ xem xét xử lý kỷ luật luật sư này. Mức kỷ luật nặng nhất mà luật sư này có thể nhận là bị xóa tên khỏi đoàn luật sư, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư...

TTO - Hiện nay, không hiếm luật sư đứng ra làm chứng cho các giao dịch chuyển nhượng bất động sản. Các giao dịch này đa phần không đủ điều kiện chuyển nhượng nên không thể công chứng, chứng thực hợp đồng theo đúng quy định pháp ...

28/10/2019

CÔNG TY CỔ PHẦN
So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay, loại hình công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn hẳn. Những lợi thế đó xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lý mà pháp luật quy định về loại hình công ty cổ phần.
I. Khái niệm:
Theo quy định tại Điều 110 Luật doanh nghiệp 2014: Công ty Cổ phần là Công ty có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp được pháp luật quy định; Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.
II. Ưu nhược điểm của Công ty Cổ phần
1. Công ty cổ phần không giới hạn số lượng cổ đông.
2. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp trong công ty.
3. Huy động vốn dễ dàng, đã dạng: Phát hành cổ phần cháo bán cho cổ dông hiện hữu,chào bán cho các cổ đông mới, tham gia sàn chứng khoán để huy động vốn.
Nhược điểm:
1. Bộ máy quản lý, tổ chức trong công ty cổ phần phức tạp, cồng kềnh.
2. Để thông qua các quyết định quan trọng của công ty cần sự thống nhất của các cổ đông gây tốn kém thời gian.

27/10/2019

Loại hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn dần phát triển??

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, có 2 loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, đó là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên.
- Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH 1 thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cơ quan thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty TNHH 1 thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu. (Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2014)
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là 2 và không vượt quá 50; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Pháp luật quy định: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty TNHH 2 thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phiếu. (Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2014)

I: Ưu điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn là gì?
– Thành viên trong công ty TNHH chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp chỉ trong phạm vi số vốn đã góp, các tài sản cá nhân sẽ không ảnh hưởng khi công ty phá sản hay gặp rủi ro pháp lý khác.
– Vấn đề chuyển nhượng vốn của công ty TNHH 2 thành viên trở lên được luật pháp quy định chặt chẽ nên số vốn của doanh nghiệp sẽ luôn được bảo toàn.
– Khả năng huy động vốn sẽ dễ dàng do công ty TNHH 2 thành viên được luật quy định cho phép phát hành trái phiếu.
– Chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên được quyền điều hành và quyết định mọi vấn đề của công ty như tổ chức nhân sự, định hướng kế hoạch kinh doanh, phân bổ lợi nhuận không trái luật định…

II: Nhược điểm của công ty TNHH
– Công ty TNHH 2 thành viên có số lượng thành viên bị hạn chế không vượt quá 50 người.
– Công ty TNHH 1 thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu nên dẫn đến khả năng huy động vốn bị hạn chế.
– Mức độ chịu trách nhiệm của loại hình doanh nghiệp này là hữu hạn nên sẽ bị ảnh hưởng về uy tín đối với khách hàng và các đối tác chiến lược.
– Do có đặc điểm riêng biệt nên công ty TNHH phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của Luật doanh nghiệp 2014 hơn so với các loại hình công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân.

Công ty TNHH được đánh giá là loại hình kinh tế dần được phổ biến và phát triển mạnh nhất ở Việt Nam về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cũng như quy mô hoạt động. Là sự kết hợp hoàn hảo những ưu điểm của công ty hợp danh và công ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô nhỏ và vừa.
Để được tư vấn rõ ràng, cụ thể để thành lập doanh nghiệp phù hợp. Hãy lien hệ Trung Nguyên LLC, tư vấn 24/7 về các vấn đề pháp lý về doanh nghiệp từ thành lập doanh nghiệp, quản trị rủi ro, soạn thảo hợp đồng, M&A,…

Liên hệ: Trung Nguyên LLC
Điện thoại: 091.68.65.881
Email: [email protected]

20/10/2019

Chọn Doanh nghiệp tư nhân hay Công ty TNHH một thành viên?

Doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH 1 thành viên có một số điểm tương đồng. Bạn đang thắc mắc nên chọn doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH một thành viên để có lợi nhất?
I: Điểm giống nhau Doanh nghiệp tư nhân - Công ty TNHH 1 thành viên
- Đây đều là những loại hình doanh nghiệp do một chủ sở hữu thành lập;
- Không có quyền phát hành chứng khoán;
- Chuyển nhượng toàn bộ vốn phải thay đổi chủ sở hữu.
II: Nên chọn doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH một thành viên?

Công ty TNHH MTV Là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2014). Đặc điểm của Công ty TNHH MTV, như sau:
- Chủ sở hữu là Tổ chức, cá nhân.
- Vốn góp: Công ty TNHH 1 thành viên được quyền thay đổi vốn điều lệ; Tài sản của chủ sở hữu và tài sản của công ty TNHH 1 thành viên tách biệt.
- Chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của chủ sở hữu với công ty TNHH 1 thành viên
- Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Có thể lựa chọn 01 trong 02 mô hình sau:
- Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;
- Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên.

Mỗi loại hình doanh nghiệp nêu trên đều có những ưu nhược điểm riêng. Ưu điểm lớn nhất của công ty TNHH một thành viên là chủ sở hữu có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty, nên các quyết định được đưa ra nhanh chóng mà không cần phải mất nhiều thời gian để quyết định. Đồng thời, đây cũng là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nên chủ công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình, ít rủi ro hơn hẳn so với loại hình doanh nghiệp tư nhân. Với những ưu điểm vượt trội này, công ty TNHH một thành viên đang là loại hình được nhiều người lựa chọn hơn, so với doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên trên thực tế, theo thống kê của hội doanh nghiệp Việt Nam loại hình doanh nghiệp tư nhân đang rất phổ biến và chiếm tỉ trọng rất cao và được nhiều doanh nhân lựa chọn thành lập để phát triển kinh doanh. Nhưng việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng chủ doanh nghiệp, cũng như tính chất, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

Để được tư vấn rõ ràng, cụ thể để thành lập doanh nghiệp phù hợp. Hãy lien hệ Trung Nguyên LLC, tư vấn 24/7 về các vấn đề pháp lý về doanh nghiệp từ thành lập doanh nghiệp, quản trị rủi ro, soạn thảo hợp đồng, M&A,…
Liên hệ: Trung Nguyên LLC
Điện thoại: 091.68.65.881
Email: [email protected]

Address

Đống Đa
Hanoi
100000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Trung Nguyên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share