08/09/2021
SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ GIÃN CÁCH COVID-19.
Theo đánh giá của Cục Việc làm, tính từ đầu năm đến hết tháng 7, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường đã tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước (có 79,7 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường; 75,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới). Trung bình mỗi tháng có hơn 11,3 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường, trong khi đó số doanh nghiệp mới được thành lập có quy mô lao động giảm so với cùng kỳ năm trước là 7,2% lao động. Số doanh nghiệp rút khỏi thị trường lao động diễn ra ở tất cả các ngành, tuy nhiên tập trung nhiều vào ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ôtô, xe máy; công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; dịch vụ lưu trú và ăn uống; kinh doanh bất động sản; giáo dục, đào tạo…
Cùng với đó, số lao động thất nghiệp gia tăng do nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh không còn khả năng chống đỡ với dịch bệnh nên buộc phải cắt giảm lao động. Số người thất nghiệp trong quý II-2021 là 1,2 triệu người, chiếm 2,62%. Tháng 7 với mức độ phức tạp của dịch bệnh, số lao động thất nghiệp tăng cao, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị lên hơn 4%. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng tiếp tục tăng cao. Quý II-2021, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 5,2%. Tỷ lệ này trong tháng 7 tăng rất cao vì lao động phải ở nhà, nghỉ việc để thực hiện giãn cách xã hội. Trong quý II-2021, cả nước có 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập…
Do đó, trong thời gian gần đây có rất nhiều doanh nghiệp đã sử dụng rất nhiều hình thức để sa thải người lao động. Những doanh nghiệp cần sử dụng linh hoạt pháp luật, hòa giải thuyết phục cho người lao động tốt để người lao động hài lòng với quyết định chấm dứt hợp đồng của doanh nghiệp. Bởi vì, hậu quả của người sử dụng lao động phải chịu khi chấm dứt hợp đồng lao động là rất lớn.
Căn cứ Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
Như vậy, muốn chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào một trong các trường hợp trên. Tuy nhiên, trong đợt dịch bệnh thứ 4 này đã ảnh hưởng tới công việc cả cá nhân người lao động và người sử dụng lao động rất lớn. Tâm lý của người lao động thường là không muốn chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, nhiều công ty đã không áp dụng được những căn cứ nêu trên để chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật. Nhiều công ty đã ngang nhiên sa thải người lao động bằng hình thức xử lý kỷ luật lao động.
Theo quy định Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động muốn áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động sa thải để chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì người sử dụng lao động phải có cơ sở để cho rằng người lao động có hành vi vi phạm thuộc quy định tại Điều 125 bộ luật lao động 2019.
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Tuy nhiên, người sử dụng lao động phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật chung như sau:
Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (công đoàn cơ sở hoặc tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp).
Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật.
Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.
Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
Nghiêm cấm hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phẩm của người lao động khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải.
Không được xử ký kỷ luật người lao động nếu họ đang thuộc các trường hợp sau:
Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
Đang bị tạm giữ, tạm giam;
Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm về trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;
Người lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
Người lao động đang bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Trên đây là những điều Người sử dụng lao động cần chú ý khi có ý định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với Người lao động.
It's now at http://www.mof.gov.vn:80/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDocName=MOFUCM207077&_afrLoop=5744766404610353.