LUẬT SƯ THÀNH ĐẠT

LUẬT SƯ THÀNH ĐẠT Luật sư tranh tụng tại Toà;
Tư vấn doanh nghiệp - Đầu tư nước ngoài. Liên hệ: 0325182518

www.vichanly.com

Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/24h) : 0325182518 hoặc 19002120

Gửi yêu cầu dịch vụ trực tiếp qua Email : [email protected]

23/04/2026

Là LS trong tình huống trên, anh chị sẽ làm gì?

KH đến gặp LS, nhờ tư vấn, khi nói chuyện,
KH có hỏi: “sắp tới em đang định cho đứa bạn vay 2 tỷ, lãi suất 3K/triệu/ngày, vay nửa năm. Như thế có được không anh”.
Luật sư cho KH biết với lãi suất đó thuộc trường hợp cho vay lãi nặng, không nên làm vì vi phạm PL.
5 tháng sau, KH bị bắt vì tội đánh bạc, khi thu giữ điện thoại, CQĐT phát hiện đoạn ghi âm trao đổi giữa KH với LS (KH đã ghi âm lén khi đến tư vấn LS). Đồng thời xác định KH đã cho vay lãi nặng được 3 tháng và đủ căn cứ khởi tố Tội cho vay lãi nặng.
P/s: Do Binh chia sẻ.

Chia sẻ từ Luật sư Thành Đạt:
Giai đoạn đầu, Khi khách hàng dự định phạm tội có đến tư vấn của Luật sư thì vấn đề đặt ra:
• Về lãi suất cho vay:
o Theo thỏa thuận, lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu đồng/ngày.
o Quy đổi sang tỷ lệ phần trăm: 0,3%/ngày, tương đương 109,5%/năm (lấy 0,3%×365 ngày).
o Căn cứ Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm
o So sánh: Mức lãi suất 109,5%/năm cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS.
• Về số tiền thu lợi bất chính:
o Tổng lãi KH thu về trong 03 tháng (khoảng 90 ngày) trên số gốc 2 tỷ đồng là: 2.000.000.000×0,3%×90=540.000.000 đồng.
o Lãi suất hợp pháp tối đa theo BLDS trong 03 tháng là: 2.000.000.000×20%×(3/12)=100.000.000 đồng
o Số tiền thu lợi bất chính xác định được là: 540.000.000−100.000.000=440.000.000 đồng.
Như vậy, đã đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra, Liệu Luật sư không tố giác khách hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Đây là tình huống liên quan đến Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam cụ thể: Dưới góc độ nghiệp vụ, thông tin khách hàng trao đổi với luật sư phải được bảo mật tuyệt đối do đó, Luật sư không được tiết lộ bí mật trừ khi khách hàng đồng ý. Ngoài ra, tại thời điểm tư vấn khách hàng Luật sư đã (1) tư vấn đúng Luật, (2) khuyên khách hàng không thực hiện, và (3) tại thời điểm trên khách hàng chưa ký hợp đồng dịch vụ pháp lý. Như vậy, Luật sư không phải chịu trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ tố giác hành vi phạm tội đang chuẩn bị thực hiện.

Nhưng, việc hình sự hoá nghĩa vụ không tố giác trong trường hợp này sẽ làm sụp đổ nguyên tắc bảo mật – nền tảng sống còn của nghề luật sư.

23/04/2026
Trách nhiệm hình sự của luật sư khi biết thân chủ sắp phạm tội?Theo khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự hiện hành, “người bà...
21/04/2026

Trách nhiệm hình sự của luật sư khi biết thân chủ sắp phạm tội?

Theo khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự hiện hành, “người bào chữa” không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa. Nói cách khác, ngay trong luật hiện hành, miễn trừ này không tuyệt đối; nó đã bị giới hạn ở hai nhóm ngoại lệ. Đồng thời, khoản 1 Điều 19 vẫn đặt ra nguyên tắc chung là người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì có thể bị truy cứu về tội không tố giác tội phạm.

Ở chiều ngược lại, Điều 3 Bộ luật Hình sự xác lập nguyên tắc xử lý rằng mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. Trên cơ sở đó, chính sách do Bộ Công an xây dựng và lấy ý kiến cho rằng miễn trừ hiện nay là “không phù hợp”, vì thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng thì hành vi phạm tội của vụ án gốc đã diễn ra trước đó; còn những hành vi mà thân chủ đang chuẩn bị hoặc đang thực hiện một tội mới, hoặc tiếp diễn hành vi phạm tội, theo lập luận của cơ quan soạn thảo, không còn thuộc phạm vi nhiệm vụ bào chữa. Các tường thuật báo chí cùng ngày phản ánh cùng một lập luận: nếu không tố giác các hành vi như vậy thì sẽ trái với nguyên tắc phát hiện kịp thời tội phạm của pháp luật hình sự.

Vậy, đề xuất trên liệu có phù hợp?

Về mặt lập hiến, có bốn điều khoản của Hiến pháp 2013 cần đặt cạnh nhau. Thứ nhất, khoản 4 Điều 31 bảo đảm người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Thứ hai, khoản 5 Điều 103 hiến định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Thứ ba, Điều 21 bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và bí mật các hình thức trao đổi thông tin riêng tư. Thứ tư, khoản 2 Điều 14 chỉ cho phép hạn chế quyền con người, quyền công dân bằng luật và chỉ trong trường hợp cần thiết vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.
Từ bốn điều khoản đó, có thể rút ra một hệ quả quan trọng: nghĩa vụ tố giác áp lên luật sư trong chính không gian giao tiếp nghề nghiệp với thân chủ là một biện pháp hạn chế quyền, chứ không chỉ là một kỹ thuật tố tụng. Nó trực tiếp tác động đến hiệu quả thực chất của quyền bào chữa, làm suy giảm tính bí mật của trao đổi luật sư–thân chủ, và có thể ảnh hưởng đến thế cân bằng tối thiểu giữa quyền lực công và người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

Nếu sửa luật theo hướng mọi trường hợp luật sư biết thân chủ “đang chuẩn bị” hoặc “đang thực hiện” một tội phạm mà không tố giác đều có thể bị truy cứu hình sự, thì phương án đó có nguy cơ rất lớn xung đột với Hiến pháp. Lý do không chỉ vì nó hạn chế bí mật trao đổi nghề nghiệp, mà còn vì nó làm rỗng phần “thực chất” của quyền bào chữa: khi người bị buộc tội không còn tin rằng có thể kể hết sự thật pháp lý cho người bảo vệ mình, họ sẽ tự phòng thủ bằng cách im lặng, nửa thật nửa giả, hoặc tránh tiếp cận luật sư ở giai đoạn sớm nhất.

Về đạo đức nghề nghiệp, câu trả lời cũng cần được viết theo hướng phân biệt. Nếu hiểu “đạo đức nghề nghiệp” là lõi giá trị của nghề luật sư – tận tâm với khách hàng, bảo mật thông tin, độc lập với quyền lực nhà nước – thì một nghĩa vụ tố giác hình sự quá rộng rõ ràng làm đảo chiều logic nghề nghiệp: luật sư từ người bảo vệ thành chủ thể mang lòng trung thành kép, vừa với khách hàng vừa với yêu cầu tố giác của nhà nước. Điều này không chỉ mâu thuẫn với Quy Tắc của Luật sư mà còn đặt luật sư vào tình trạng xung đột chuẩn mực thường trực. Tuy nhiên, xét về kỹ thuật pháp lý thuần túy, Luật Luật sư lại đang mở một “cửa hẹp” khi nói bảo mật được duy trì trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, một ngoại lệ thật hẹp do luật định không nhất thiết tự động vi phạm đạo đức nghề nghiệp, nhưng một ngoại lệ quá rộng thì sẽ làm xói mòn chính nền đạo đức mà luật nghề nghiệp đang xây dựng.

Ngược lại, nếu nhà làm luật chỉ nhắm đến một dải hành vi rất hẹp – ví dụ nguy cơ tức thời gây chết người, thương tích nghiêm trọng, tài trợ khủng bố, một số tội xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc trường hợp dịch vụ của luật sư đang thực sự bị dùng để thực hiện tội phạm – thì trách nhiệm tiết lộ có thể được biện minh cả về hiến pháp lẫn đạo đức nghề nghiệp. Đó cũng là nơi pháp luật hiện hành của Việt Nam, và kinh nghiệm Quốc tế đồng nhất: ngoại lệ có thể tồn tại, nhưng phải được cột vào tính cấp bách, mức độ nguy hiểm và sự lạm dụng quan hệ nghề nghiệp, chứ không thể mở ra như một nghĩa vụ tố giác phổ thông.

20/04/2026

Nghị định 49/2026 là cuộc "tổng tấn công" vào các thủ tục rườm rà. Dựa trên nền tàng dữ liệu số và bảng giá đất thị trường

20/04/2026

Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân đang đề xuất siết chặt chuyển nhượng bất động sản. Mức thuế 2% giữ nguyên, điều kiện miễn thuế nhà duy nhất cũng khắt khe hơn.

18/04/2026

Các hộ cân tại phường Việt Hưng yêu cầu tái định cư bằng đất liệu có được chấp thuận?

Đây là cách gây áp lực lên Luật sư, rồi sắp tới đây khi Nghị định 109/2026 có hiệu lực trao cho  chính quyền cấp xã thẩm...
15/04/2026

Đây là cách gây áp lực lên Luật sư, rồi sắp tới đây khi Nghị định 109/2026 có hiệu lực trao cho chính quyền cấp xã thẩm quyền đình chỉ chứng chỉ hành nghề Luật sư thì tôi tự hỏi… chúng tôi sẽ phải làm nghề trong tâm thế nào?

Bảo vệ thân chủ hay tự bảo vệ mình?

Nói đúng hay nói điều “nên nói”?

Nếu một ngày luật sư phải cân nhắc trước khi lên tiếng, thì công lý… có còn được nói ra một cách thẳng thắn nữa không.

13/04/2026

Phổ biến phiên toà tại Toà Phúc Thẩm Toà án Nhân Dân Tối cao

10/04/2026

Hà Nội công bố 2 trường hợp được mua Nhà ở Xã Hội không qua bốc thăm

Trang phục mới của giới Luật sư Việt NamNhìn giống Thầy Linh mục thế nhỉ?
10/04/2026

Trang phục mới của giới Luật sư Việt Nam
Nhìn giống Thầy Linh mục thế nhỉ?

Chuyển mục đích một phần đất có bắt buộc giáp đường giao thông?Một tình huống rất phổ biến: Chuyển mục đích sử dụng đất ...
09/04/2026

Chuyển mục đích một phần đất có bắt buộc giáp đường giao thông?

Một tình huống rất phổ biến: Chuyển mục đích sử dụng đất (CMĐSDĐ) từ đất nông nghiệp sang đất ở cho một phần diện tích trong thửa đất lớn nhưng không muốn tách thửa. Câu hỏi đặt ra là phần diện tích dự kiến lên thổ cư này có bắt buộc phải tiếp giáp đường giao thông hay không? Liệu ông có được chọn vị trí nằm sâu bên trong thửa đất (vị trí hậu) nếu vị trí đó vẫn phù hợp với quy hoạch chung?

1. Không bắt buộc tách thửa khi chuyển mục đích một phần diện tích Đây là điểm tháo gỡ quan trọng của luật mới nhằm giảm chi phí và thủ tục cho người dân.

• Căn cứ: Theo Khoản 2 Điều 220 Luật Đất đai 2024, trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu CMĐSDĐ đối với một phần thửa đất thì thực hiện tách thửa, nhưng đối với thửa đất có đất ở và đất khác (vườn, ao) thì không bắt buộc phải tách thửa đất.
• Vì không tách thửa nên phần diện tích được chuyển mục đích vẫn nằm chung trong một "sổ đỏ" với diện tích còn lại. Do đó, các điều kiện về "tiếp giáp đường giao thông" vốn dành cho việc hình thành thửa đất mới độc lập sẽ không bị áp dụng một cách cứng nhắc trong trường hợp này.

2. Điều kiện "giáp đường" không áp dụng cho vị trí trong thửa đất
• Quy định về việc thửa đất phải có lối đi và kết nối với đường giao thông công cộng (tại Điểm d Khoản 1 Điều 220) chỉ áp dụng khi người dân thực hiện thủ tục Tách thửa đất.
• Đối với việc CMĐSDĐ một phần diện tích nằm bên trong (không giáp đường), Nhà nước quản lý dựa trên mục đích sử dụng của từng phần diện tích trên cùng một thửa đất gốc. Miễn là thửa đất gốc của người dân đã có lối đi hoặc giáp đường, ông hoàn toàn có quyền xin CMĐSDĐ cho một "khoanh đất" ở giữa hoặc cuối thửa đất.

3. Quyền lựa chọn vị trí và sự ràng buộc của Quy hoạch (Thẩm quyền X1) Người dân có quyền lựa chọn vị trí nhưng quyền này bị giới hạn bởi định hướng không gian của Nhà nước.
• Căn cứ quy hoạch: Căn cứ CMĐSDĐ sang đất ở cho cá nhân là Quy hoạch sử dụng đất cấp xã hoặc Quy hoạch phân khu.
• Kiểm tra thực địa:C ơ quan chức năng sẽ kiểm tra thực địa vị trí chọn. Nếu vị trí đó phù hợp với vùng quy hoạch đất ở (ONT/ODT), cơ quan nhà nước không có cơ sở để từ chối với lý do "không giáp đường".
• Cơ chế giải quyết: Hiện nay, thẩm quyền cho phép cá nhân CMĐSDĐ đã được phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp xã (Mã X1) theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP, giúp người dân có thể làm việc trực tiếp tại xã một cách thuận lợi.

Lưu ý: Dù pháp luật cho phép CMĐSDĐ ở vị trí không giáp đường khi không tách thửa, nhưng người dân nên tính toán kỹ. Nếu sau này muốn tách riêng phần đất ở đó để bán hoặc tặng cho, lúc đó mới bắt buộc phải mở đường/lối đi kết nối ra đường công cộng theo quy định về tách thửa tại Điều 220.

Luật sư Thành Đạt – LTD Lawfirm

Address

170 Trần Duy Hưng
Hanoi
100000

Opening Hours

Monday 08:00 - 18:00
Tuesday 08:00 - 18:00
Wednesday 08:00 - 18:00
Thursday 08:00 - 18:00
Friday 08:00 - 18:00
Saturday 08:00 - 18:00

Telephone

03.2518.2518

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LUẬT SƯ THÀNH ĐẠT posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to LUẬT SƯ THÀNH ĐẠT:

Share