Trung tâm Di chúc Việt Nam

Trung tâm Di chúc Việt Nam Dịch vụ soạn thảo, lưu trữ, thẩm định, công bố di chúc và khai nhận di sản thừa kế,..

TRUNG TÂM DI CHÚC VIỆT NAM
Là đơn vị nghiên cứu, tư vấn pháp luật chuyên sâu trong lĩnh vực thừa kế, di chúc tại Việt Nam. Cung cấp dịch vụ soạn thảo, lưu trữ, thẩm định, công bố di chúc và khai nhận di sản thừa kế; giải quyết tranh chấp thừa kế đất đai, nhà ở.

CÓ NÊN LẬP DI CHÚC HAY KHÔNG?Hiện nay, khoảng 50% số vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai phức tạp, kéo dài mà chúng...
01/03/2024

CÓ NÊN LẬP DI CHÚC HAY KHÔNG?
Hiện nay, khoảng 50% số vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai phức tạp, kéo dài mà chúng tôi đang thụ lý, giải quyết là các tranh chấp liên quan đến thừa kế. Pháp luật quy định di sản thừa kế nếu không được định đoạt bằng di chúc thì sẽ được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế.
Tuy nhiên, theo thời gian giá trị tài sản đất đai, nhà ở ngày càng gia tăng. Không phải gia đình nào giữa bố mẹ, ông bà với các con, cháu; giữa các anh chị em với nhau cũng giữ được sự hòa thuận như trước.
Việc Lập di chúc sẽ giúp người để lại di sản thừa kế:
✅Hạn chế được các tranh chấp phát sinh giữa các anh em, con cháu trong gia đình;
✅Thực hiện được di nguyện, nguyện vọng của mình. Khi muốn để một phần hoặc toàn bộ di sản để thờ cúng;
✅Định đoạt được tài sản theo đúng ý nguyện cho người không thuộc hàng thừa kế. Không phải cứ lập di chúc là phải để lại tài sản cho con cháu. Người có tài sản có thể định đoạt di sản thừa kế của mình cho bất cứ ai theo đúng nguyện vọng.
✅Có thể thay đổi quyết định khi cần. Khác với chuyển nhượng, tặng cho người lập di chúc có quyền hủy bỏ, thay thế di chúc mà không bị hạn chế như các giao dịch khác.
Do vậy, lập di chúc sẽ là giải pháp tối ưu để vừa hạn chế tranh chấp giữa con cháu về sau. Vừa giúp bảo vệ được quyền lợi, nguyện vọng của người để lại tài sản.

06/04/2023

Trung tâm Di chúc Việt Nam Đơn vị nghiên cứu pháp luật, tư vấn chuyên sâu trong lĩnh vực thừa kế, di chúc tại Việt Nam.

CÔNG BỐ DI CHÚC1. Công bố di chúc là gì?Theo quy định pháp luật hiện hành thì di chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí cá ...
21/03/2021

CÔNG BỐ DI CHÚC
1. Công bố di chúc là gì?
Theo quy định pháp luật hiện hành thì di chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm định đoạt tài sản của mình sau chết. Do vậy khi người lập di chúc chết thì hầu hết những người thuộc diện thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đều rất quan tâm đến nội dung của di chúc. Để biết được ai là người được hưởng di sản theo di chúc? Nếu được hưởng thì hưởng bao nhiêu phần? Gồm những gì? Những người không được hưởng theo di chúc là những ai? Di sản của người lập di chúc đã được định đoạt hết hay chưa? Có còn di sản nào thuộc trường hợp phải chia theo pháp luật hay không?.v.v.. Như vậy có thể thấy vấn đề nội dung của di chúc sau khi người để lại di sản chết rất được quan tâm và chú ý. Vì vậy nên pháp luật đã có quy định về việc công bố di chúc tại Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2015.
Công bố được hiểu là việc công khai cho mọi người cùng biết về một vấn đề nào đó bằng cách đưa ra những thông tin đầy đủ, liên quan trực tiếp đến vấn đề đó. Do vậy, mặc dù hiện nay pháp luật hiện hành không quy định cụ thể công bố di chúc là gì. Tuy nhiên, có thể hiểu công bố di chúc là việc công khai cho mọi người cùng biết một cách đầy đủ, chính xác về nội dung của di chúc do người để lại di sản đã lập.
2. Người có nghĩa vụ công bố di chúc
Thứ nhất, theo quy định pháp luật hiện hành đối với trường hợp người lập di chúc bằng văn bản có công chứng. Họ có quyền yêu cầu tổ chúc hành nghề công chứng nhận lưu giữ di chúc của mình. Khi nhận lưu giữ di chúc, công chứng viên phải niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc, ghi giấy nhận lưu giữ và giao cho người lập di chúc (Khoản 1 Điều 60 Luật công chứng năm 2014). Sau khi người lập di chúc chết, công chứng viên của tổ chúc hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc có trách nhiệm công bố nội dung di chúc (Khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2015). Do pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể công chứng viên công bố nội dung của di chúc cụ thể là công chứng viên nào? Tức là không quy định rõ người thực hiện công bố nội dung di chúc là công chứng viên đã thực hiện việc niêm phong di chúc? Hay công chứng viên là người đại diện theo pháp luật của tổ chức hành nghề công chứng (Trưởng Phòng hoặc Trưởng Văn phòng công chứng)? Hay công chứng viên hợp danh khác cũng có thể đảm nhận việc này. Do vậy nên, người công bố di chúc có thể là bất kỳ công chứng viên nào đang hành nghề tại tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc lưu giữ di chúc thực hiện.
Ngoài ra, đối với trường hợp di chúc đã được tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ nhưng sau đó tổ chức này chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì trước khi chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể, tổ chức hành nghề công chứng phải thỏa thuận với người lập di chúc về việc chuyển cho tổ chức hành nghề công chứng khác lưu giữ di chúc. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì di chúc và phí lưu giữ di chúc phải được trả lại cho người lập di chúc (Khoản 2 Điều 60 Luật công chứng năm 2014).
Thứ hai, trường hợp người lập di chúc không có nhu cầu gửi giữ di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng thì họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác lưu giữ di chúc. Với trường hợp này xuất hiện hai khả năng. Khả năng đầu tiên, đó là người để lại di sản chỉ định rõ ràng ai sẽ là người thực hiện việc công bố trong nội dung di chúc. Người được chỉ định có nghĩa vụ công bố di chúc. Tuy nhiên người này cũng có quyền từ chối việc công bố nội dung di chúc. Trường hợp họ từ chối việc công bố nội dung di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người khác công bố nội dung của di chúc (Khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2015). Khả năng thứ hai đối với trường hợp người lập di chúc không có yêu cầu gửi giữ di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng đó là: trong nội dung của di chúc không chỉ định người có trách nhiệm công bố nội dung của di chúc. Với trường hợp này, pháp luật hiện hành quy định những người thừa kế tự thỏa thuận cử người công bố nội dung của di chúc (Khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2015).
3. Điều kiện của người công bố và thời điểm công bố di chúc
Bộ luật dân sự hiện hành không có quy định cụ thể yêu cầu đối với người thực hiện việc công bố di chúc. Pháp luật chỉ quy định người thực hiện việc công bố đối với trường hợp di chúc được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc di chúc do người lập tự lưu giữ hoặc nhờ người khác giữ. Do vậy nên người công bố di chúc có thể là bất cứ ai, miễn là thỏa mãn hai trường hợp cụ thể sau: Trường hợp thứ nhất là di chúc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì người công bố là công chứng viên; Trường hợp thứ hai là do người được chỉ định trong di chúc, nếu người được chỉ định từ chối hoặc trong di chúc không chỉ định thì những người thừa kế tự thỏa thuận cử người công bố.
Về thời điểm thực hiện việc công bố di chúc theo quy định tại Khoản 3 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2015 đó là sau thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết (Khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015). Khi đó nếu di chúc hợp pháp sẽ phát sinh hiệu lực. Do vậy cần tiến hành việc công bố nội dung di chúc để những người thừa kế biết, tiến hành các thủ tục khai nhận di sản và thực hiện theo ý chí của người chết để lại. Tất nhiên người thừa kế có thể từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác (Khoản 1 Điều 620 Bộ luật dân sự năm 2015).
4. Trình tự công bố di chúc
Sau thời điểm mở thừa kế, di chúc hợp pháp phát sinh hiệu lực trong thực tế, người đang thực hiện việc lưu giữ di chúc phải tiến hành giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của ít nhất hai người làm chứng (Điểm c Khoản 3 Điều 641 Bộ luật dân sự năm 2015).
Người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc, để những người này biết về nội dung của di chúc. Những người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc. Đặc biệt, đối với trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực (Khoản 3, 4, 5 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2015).
Tóm lại, sau khi người lập di chúc chết, di chúc phát sinh hiệu lực trong thực tế. Việc biết rõ ràng, đầy đủ nội dung của di chúc là một nhu cầu cơ bản của những những người có liên quan. Người giúp họ biết được nội dung này chính là người công bố di chúc. Nếu di chúc đang được gửi giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì người công bố sẽ là công chứng viên. Nếu di chúc do người khác giữ thì người công bố là người được người lập di chúc chỉ định, trường hợp họ từ chối hoặc di chúc không chỉ định thì những người thừa kế thỏa thuận và cử người công bố.
Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của trungtamdichuc.com. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, chuyên gia pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0335.210.888 để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./.

http://trungtamdichuc.com/cong-bo-di-chuc-2.html

Theo quy định tại bộ luật dân sự năm 2015 thì cá nhân khi lập di chúc có thể chỉ định người công bố di chúc hoặc được thực hiện theo quy định

16/03/2021

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
1. Di sản dùng vào việc thờ cúng là gì?
Một trong những phong tục, nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta đó là thờ cúng tổ tiên. Đây là một tập tục tốt đẹp được truyền từ đời này sang đời khác, thể hiện lòng tôn kính, biết ơn đối với ông, bà, tổ tiên – những người đã mất. Qua đó giáo dục con cháu lòng kính trọng và nhớ công ơn của những người đi trước. Vì di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết, và xuất phát từ chính nhu cầu bản thân của cá nhân muốn thể hiện lòng biết ơn tổ tiên cũng như mong muốn việc thờ cùng tổ tiên được đảm bảo chu toàn. Nên không ít người đã định đoạt tài sản của mình cho người thân dùng vào việc thờ cúng sau khi chết. Hiện nay theo quy định pháp luật loại tài sản này được gọi là di sản dùng vào việc thờ cúng và chỉ xuất hiện trong trường hợp thừa kế theo di chúc.
2. Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng
Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định pháp luật hiện hành gồm:
Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Như vậy có thể thấy, chỉ khi nào người để lại di sản có định đoạt mục đích sử dụng tài sản này trong di chúc để thờ cúng thì mới xuất hiện loại di sản này. Hay nói cách khác, căn cứ đầu tiên để hình thành nên di sản dùng vào việc thờ cúng đó là theo ý chí người để lại di sản trong di chúc.
Thứ hai, mặc dù cá nhân được quyền định đoạt tài sản của mình dùng vào việc thờ cúng sau khi chết, tuy nhiên việc định đoạt này không hoàn toàn tự do. Cụ thể quy định pháp luật hiện hành chỉ cho phép cá nhân được định đoạt một phần tài sản của mình dùng vào việc thờ cúng (Khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015). Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi của các chủ nợ và những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Tuy nhiên pháp luật hiện hành cũng không có quy định cụ thể giới hạn một phần di sản ở đây là bao nhiêu trong tổng số di sản của người lập di chúc.
Thứ ba, việc định đoạt tài sản dùng vào việc thờ cúng bị giới hạn để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 2 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Như vậy theo quy định nêu trên thì trường hợp người lập di chúc mặc dù đã thể hiện ý chí dành một phần tài sản của mình vào việc thờ cúng, nhưng pháp luật cũng sẽ không công nhận nếu phần tài sản còn lại của họ không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản mà họ để lại sau khi chết. Do đó, trong trường hợp người có di sản có lập di chúc thể hiện ý chí để một phần tài sản dùng vào việc thờ cúng, thì chủ nợ có quyền yêu cầu hủy bỏ việc này và xử lý tài sản để thanh toán khoản nợ.
Thứ tư, để bảo vệ tình cảm cho mối quan hệ gia đình giữa những người có quan hệ gắn bó gần gũi nhất đối với người lập di sản (ví dụ như quan hệ hôn nhân: vợ/chồng; quan hệ huyết thống: con chưa thành niên,….). Pháp luật đã có quy định bảo vệ quyền lợi của những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015). Chính quy định này đã giới hạn quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc dùng vào mục đích thờ cúng. Theo đó, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động. Vì vậy nên trong trường hợp người lập di chúc không cho hoặc cho những người thuộc đối tượng nêu trên hưởng di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, thì phần di sản được định đoạt vào việc thờ cúng, sẽ là phần còn lại sau khi đã trừ đi các nghĩa vụ phải thanh toán và phần di sản phải chia cho những đối tượng nêu trên.
Thứ năm, di sản dùng vào việc thờ cúng không thuộc sở hữu của riêng ai. Mặc dù nó là tài sản tuy nhiên nó có đặc thù riêng đó là di sản chỉ dùng vào mục đích duy nhất là thờ cúng và nó không thuộc sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào. Việc quản lý di sản này sẽ do người được chỉ định trong di chúc thực hiện. Nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng (Khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015).
Thứ sáu, di sản được thể hiện trong nội dung di chúc dùng vào mục đích thờ cúng không được chia và không được chuyển dịch. Đây là một đặc điểm thể hiện sự khác biệt giữa di sản được dùng vào việc thờ cúng với những di sản khác. Đó là với những loại di sản thông thường thì người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia, còn đối với di sản dùng vào mục đích thờ cúng thì không (Khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015). Đây cũng chính là một giới hạn đối với việc định đoạt di sản dùng vào mục đích thờ cúng. Thêm vào đó, ngay từ chính mục đích của việc để lại di sản này của người lập di chúc đó là dùng vào việc thờ cúng cho nên dẫn đến một hạn chế khác của loại di sản này đó là những người thừa kế không được phép chuyển dịch. Bởi nếu chuyển dịch thì có nghĩa là họ đã không thực hiện đúng nội dung di chúc.
Thứ bảy, vấn đề xác định người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng. Thông thường trong di chúc của người để lại di sản sẽ chỉ định ai sẽ là người thực hiện việc quản lý di sản sau khi người lập di chúc chết. Với trường hợp di chúc chỉ định rõ ràng như vậy, pháp luật sẽ tôn trọng ý chí của người để lại di sản. Tuy nhiên thực tế không phải lúc nào người được chỉ định này cũng thực hiện tốt việc quản lý di sản vì nhiều lý do khác nhau. Do đó pháp luật cho phép nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Bên cạnh đó, nếu trường hợp nội dung di chúc không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Ngoài ra, trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật (Khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015).
Trên đây là một vài những phân tích về di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định pháp luật hiện hành, trong giới hạn bài viết tác giả chỉ có thể nêu lên một số điểm cơ bản về vấn đề này. Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần sự hỗ trợ hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua website: trungtamdichuc.com; Hotline: 0335.210.888 để được các Luật sư, chuyên gia pháp lý giỏi giải đáp, hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./.

http://trungtamdichuc.com/di-san-dung-de-tho-cung.html

05/03/2021

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DI CHÚC CÓ ĐIỀU KIỆN
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong thực tế hiện nay di chúc có điều kiện xuất hiện khá nhiều và phổ biến. Mặc dù pháp luật hiện nay chưa có quy định nào về loại di chúc này, tuy nhiên pháp luật cũng không cấm, do vậy nên di chúc này vẫn được công nhận và có giá trị hiệu lực trong thực tế. Qua bài viết này tác giả muốn chia sẻ một vài khía cạnh pháp lý về di chúc có điều kiện với bạn đọc.
1. Di chúc có điều kiện là gì?
Hiện nay pháp luật chưa có quy định nào về di chúc có điều kiện, tuy nhiên có thể hiểu di chúc có điều kiện là loại di chúc mà theo đó người lập di chúc yêu cầu người được hưởng di sản phải làm một việc nào đó. Hay nói cách khác người thừa kế muốn được hưởng di sản theo di chúc thì họ phải thực hiện điều kiện mà người lập di chúc đưa ra. Điều kiện kèm theo di chúc này có thể là thực hiện một hoặc nhiều công việc, có thể là công việc phải thực hiện trước hoặc sau khi người lập di chúc chết.
Ví dụ 1: Ông A lập di chúc với nội dung để lại toàn bộ quyền sở hữu di sản X thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông A cho con trai là B, với điều kiện B phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng A cho đến khi A qua đời. Như vậy di chúc trong trường hợp này thuộc di chúc có điều kiện, mà điều kiện cụ thể ở đây là thực hiện công việc trước khi người lập di chúc chết (B muốn được hưởng di sản X phải chăm sóc, phụng dương A cho đến khi A chết).
Ví dụ 2: Bà C lập di chúc với nội dung để lại căn nhà thuộc sở hữu của mình cho D với điều kiện sau khi C chết D phải đưa C về quê nhà để hỏa táng và nuôi dưỡng, chăm sóc con của C là C1, đến khi C1 chết. Đây là ví dụ minh họa về trường hợp di chúc có điều kiện kèm theo là thực hiện một công việc sau khi người để lại di sản chết.
2. Điều kiện trong di chúc
Di chúc có điều kiện đặt ra những nghĩa vụ cho người thụ hưởng, chỉ khi nào những nghĩa vụ này được thực hiện thì người thụ hưởng mới thật sự được hưởng di sản theo nội dung di chúc. Những nghĩa vụ người thụ hưởng phải thực hiện trong di chúc khá đa dạng, nó có thể là những nghĩa vụ mà đáng ra người để lại di sản phải thực hiện với người khác khi còn sống (ví dụ như A lập di chúc với nội dung cho B được hưởng căn nhà của A với điều kiện B phải trả cho C số tiền là 2 triệu đồng); Hoặc cũng có thể là những nghĩa vụ mà người được hưởng di sản phải thực hiện đối với người lập di chúc như chăm sóc người này trước khi chết hoặc thờ cúng họ sau khi chết.
Các điều kiện trong các hợp đồng, giao dịch dân sự khi được đưa ra phải có sự thỏa thuận thống nhất của các bên liên quan, tuy nhiên di chúc thì không giống như vậy. Điều kiện trong di chúc thì không cần phải có sự đồng ý hay thỏa thuận đối với người được hưởng di sản. Bởi di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của người để lại di sản do đó sẽ không có việc “các bên thỏa thuận”. Nó chỉ đơn giản là một bên đưa ra điều kiện bên kia thực hiện đúng thì sẽ được hưởng di sản theo di chúc, ngược lại nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì dĩ nhiên là không được hưởng di sản. Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng người lập di chúc và người thụ hưởng di sản đã thống nhất với nhau về điều kiện của di chúc. Trường hợp này thường xuất hiện đúng với những di chúc có điều kiện phải thực hiện công việc trước khi người lập di chúc chết. Tại thời điểm người lập di chúc còn sống người thụ hưởng phải biết điều kiện phải thực hiện. Thông qua việc thực hiện những điều kiện này để được hưởng di sản đã thể hiện người thụ hưởng đồng ý với người lập di chúc.
Mặc dù, hiện nay pháp luật không có quy định về di chúc có điều kiện, tuy nhiên điều này không có nghĩa là cá nhân muốn để điều kiện trong di chúc là gì cũng được coi là hợp pháp. Bởi điều kiện của di chúc cũng là một nội dung trong di chúc. Do đó nó cũng phải thỏa mãn yêu cầu về nội dung của di chúc theo pháp luật. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy nên điều kiện trong di chúc được coi là hợp pháp khi nó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
3. Những điều kiện cơ bản để di chúc có điều kiện được coi là hợp pháp
Di chúc có điều kiện cũng là một loại di chúc, do vậy nên nó cũng phải tuân thủ theo các điều kiện của di chúc thì mới được coi là hợp pháp. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, người lập di chúc phải đạt điều kiện năng lực chủ thể. Điều kiện đầu tiên đó là về độ tuổi của người lập di chúc. Độ tuổi của cá nhân phần nào đó phản ảnh năng lực nhận thức cũng như làm chủ các hành vi của cá nhân để thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Cá nhân chỉ có thể lập di chúc thể hiện ý chí của mình khi cá nhân đó có thể tự định đoạt tài sản của mình. Pháp luật dân sự hiện hành quy định người lập di chúc phải là người đã thành niên hoặc người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2015). Ngoài yêu cầu về độ tuổi, pháp luật còn đòi hỏi người lập di chúc phải đảm bảo yêu cầu về ý chí tự nguyện, đích thực của bản thân mình. Do đó di chúc có điều kiện được coi là hợp pháp khi người lập di chúc trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điểm a Khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015).
Thứ hai về nội dung của di chúc. Ý chí của người để lại di sản thể hiện trong nội dung của di chúc phải không được vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Ngoài ra, di chúc thể hiện sự định đoạt của cá nhân về tài sản của mình trước khi chết cho nên nội dung của di chúc phải đảm bảo một số các nội dung chủ yếu để tránh phát sinh những tranh chấp không đáng có do nội dung của di chúc không rõ ràng, cụ thể theo Khoản 1 và 2 Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau: Nội dung chủ yếu của di chúc gồm: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản. Ngoài ra, di chúc còn có thể có thêm các nội dung khác tùy vào cá nhân mỗi người lập di chúc khác nhau.
Thứ ba về hình thức. Hình thức của di chúc có điều kiện tùy vào mỗi trường hợp cụ thể khác nhau sẽ áp dụng các quy định khác nhau về hình thức của di chúc. Ví dụ như di chúc được lập do người để lại di sản tự viết tay sẽ áp dụng quy định về hình thức của di chúc bằng văn bản tự viết tay; Hoặc trường hợp người để lại di sản lập di chúc trong trường hợp tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng, do đó trường hợp này sẽ áp dụng quy định về hình thức của di chúc miệng. Tóm lại, do pháp luật không có quy định cụ thể đối với di chúc có điều kiện, nên tùy trường hợp cụ thể về hình thức của di chúc sẽ áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành tương ứng với hình thức di chúc đó.
Như vậy có thể thấy, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể và cũng không cấm về di chúc có điều kiện. Do đó nên nếu bản di chúc lập đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật với di chúc thông thường về: chủ thể, nội dung, hình thức thì sẽ luôn được pháp luật công nhận và có giá trị hiệu lực trên thực tế.
Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của trungtamdichuc.com. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, chuyên gia pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0335.210.888 để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./.

http://trungtamdichuc.com/di-chuc-co-dieu-kien.html

01/03/2021

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DI CHÚC BỊ THẤT LẠC, HƯ HẠI
Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định ý chí này của cá nhân phải được thể hiện dưới dạng văn bản (kể cả trường hợp cá nhân lập di chúc miệng thì sau đó người làm chứng vẫn phải ghi chép lại ý chí này dưới dạng văn bản). Tuy nhiên, thực tế cuộc sống không phải bất cứ ai cũng có thể bảo quản, giữ gìn những bản di chúc này một cách cẩn thận, chu đáo. Mà đôi khi vì nhiều lý do khách quan, chủ quan những bản di chúc đã được lập có thể bị thất lạc hoặc hư hại. Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống có thể xảy ra những trường hợp như vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 đã có quy định tại Điều 642 về di chúc bị thất lạc, hư hại để giải quyết cho vấn đề này.
1. Di chúc thất lạc, hư hại là như thế nào?
Mặc dù Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về di chúc thất lạc, hư hại tuy nhiên lại không có định nghĩa rõ ràng như thế nào là di chúc thất lạc, như thế nào là hư hại. Theo Tiếng Việt thì thất lạc được hiểu là lạc mất, không tìm thấy, do vậy nên di chúc thất lạc được hiểu là di chúc bị đã được lập, có tồn tại trong thực tế nhưng tất cả các chủ thể có liên quan đều không biết di chúc đó đang được để ở đâu.
Còn hư hại cũng theo cách hiểu thông thường là bị hỏng, bị thiệt hại, không còn nguyên vẹn như lúc đầu. Do đó di chúc bị hư hại được hiểu là bản di chúc đã được lập, có tồn tại trên thực tế nhưng không còn nguyên vẹn, nguyên bản như lúc ban đầu, có thể bị hư hỏng một phần hoặc toàn bộ di chúc.
2. Nguyên nhân di chúc bị thất lạc, hư hại.
Hiện nay pháp luật hiện hành không có quy định nào liên quan đến việc xác định nguyên nhân của việc di chúc bị thất lạc hoặc hư hại. Do vậy nên bản di chúc đã được lập vì sao bị thất lạc, hư hại? Do ai gây ra? Nguyên nhân do đâu không quan trọng. Khi xảy ra những tranh chấp trong thực tế dẫn đến vụ việc được đưa ra Tòa án đề giải quyết thì Tòa án cũng không quan tâm tới những vấn đề nêu trên. Mà chỉ quan tâm đến tại thời điểm xảy ra tranh chấp di chúc bị thất lạc, hư hại và cách thức giải quyết trong trường hợp này.
3. Thời điểm di chúc bị thất lạc, hư hại.
Trong thực tế bản di chúc đã được lập có thể bị thất lạc, hư hại ở các thời điểm khác nhau: có thể là trước hoặc sau khi người để lại di sản chết. Nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại trước thời điểm người lập di chúc chết mà người này không làm lại di chúc thì có nhiều khả năng họ đã thay đổi ý chí của mình (có thể là đã thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc đã lập). Vì vậy nên pháp luật quy định chỉ áp dụng hậu quả pháp lý cho trường hợp di chúc bị thất lạc, hư hại “kể từ thời điểm mở thừa kế” (theo Khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2015). Điều này có nghĩa là bản gốc của di chúc phải còn tồn tại đến thời điểm mở thừa kế - tức thời điểm người lập di chúc chết. Ngược lại nếu bản di chúc đã bị thất lạc hoặc hư hại trước thời điểm mở thừa kế thì các quy định về di chúc bị thất lạc, hư hại không được áp dụng.
4. Di chúc bị thất lạc, hư hại.
Đầu tiên là đối với trường hợp bản di chúc bị thất lạc. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Như vậy có nghĩa rằng, nếu có căn cứ chứng minh được di chúc có tồn tại trên thực tế và nội dung của di chúc là ý chí đích thực của người lập di chúc thì di sản sẽ được áp dụng các quy định để chia theo thừa kế theo di chúc. Ngược lại, nếu di chúc bị thất lạc và không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì sẽ coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc tôn trọng ý chí của người để lại di sản, pháp luật có quy định trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc (Khoản 2 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2015). Ngược lại, nếu trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, di sản đã được chia theo pháp luật mà tìm thấy di chúc thì phải chia theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu (Khoản 3 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2015). Quy định này của pháp luật là nhằm bảo đảm tính ổn định dân sự, tránh tốn kém mất thời gian cho những người có liên quan. Bởi vì di sản đã chia theo pháp luật, mặc dù có thể không đúng với ý chí đích thực của người để lại di sản, nhưng những người thừa kế không có ý kiến, đòi hỏi gì thì không cần thiết phải tiến hành chia lại di sản một lần nữa.
Tiếp theo là đối với di chúc bị hư hại. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Điều này có nghĩa rằng: Nếu kể từ thời điểm mở thừa kế, bản di chúc có tồn tại nhưng không bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc. Trong trường hơp này chúng ta không thể coi như không có di chúc mà áp dụng quy định về thừa kế như pháp luật được. Mà trường hợp này chúng ta vẫn phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản và áp dụng quy định về thừa kế theo di chúc. Thêm vào đó, trường hợp di chúc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc, nhưng có bằng chứng chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì cũng không thể coi như không tồn tại di chúc và áp dụng quy định về thừa kế theo pháp luật được. Trường hợp này chúng ta phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản và áp dụng quy định về thừa kế theo di chúc để chia di sản theo ý chí của họ. Đối với di chúc bị hư hại chúng ta không phải chứng minh rằng di chúc có tồn tại vì bản thân khẳng định di chúc bị hư hại đã là khẳng định có tồn tại và thực tế nó vẫn luôn tồn tại hiện hữu, chỉ là nó bị hư hại đến mức độ như thế nào? Có đến mức không thể xác định được nội dung thể hiện đầy đủ ý chí cuối cùng của người lập di chúc hay không? Nếu hư hại đến mức không thể hiện đầy đủ ý chí cuối cùng của người lập di chúc thì phải có bằng chứng chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc, có như vậy mới có thể áp dụng quy định về thừa kế theo di chúc. Ngược lại nếu không thể chứng minh được những điều nêu trên thì áp dụng quy định về thừa kế theo pháp luật.
Tóm lại, trong thực tế có rất nhiều tình huống có thể xảy ra dẫn đến di chúc bị thất lạc, hư hại. Điều này dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn của những người thừa kế xảy ra. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có liên quan, pháp luật vẫn cho phép áp dụng các quy định về thừa kế theo di chúc nếu chứng minh được nó là ý chí đích thực của người để lại di sản. Quy định pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về việc chứng minh này được thực hiện như nào. Do vậy nên chúng ta có thể sử dụng mọi phương tiện để chứng minh ý chí đích thực của người để lại di sản.
Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của trungtamdichuc.com. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, chuyên gia pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0335.210.888 để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./.

http://trungtamdichuc.com/di-chuc-bi-that-lac-hu-hai.html

Address

Số 32 Đỗ Quang, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Di chúc Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Trung tâm Di chúc Việt Nam:

Share

Category