Luật sư ONLINE

Luật sư ONLINE Luật sư sẵn sàng hỗ trợ pháp lý online 24/24

Các loại đất Không Giấy Tờ vẫn sẽ được cấp Sổ Đỏ - Luật đất đai mớiTheo Luật Đất đai mới (năm 2025), đất không có giấy t...
28/07/2024

Các loại đất Không Giấy Tờ vẫn sẽ được cấp Sổ Đỏ - Luật đất đai mới

Theo Luật Đất đai mới (năm 2025), đất không có giấy tờ vẫn sẽ được xem xét cấp sổ đỏ, cụ thể những trường hợp sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định của Luật này, thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại điểm này, thì diện tích đất ở được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức.
b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định, thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất đó và không phải nộp tiền sử dụng đất;
c) Đối với thửa đất có sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã sử dụng; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định, thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại điểm này thì diện tích đất ở được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức .
b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định, thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất đó và không phải nộp tiền sử dụng đất;
c) Đối với thửa đất có sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 139 luật Đất đai;

3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 1 tháng 7 năm 2014, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở theo quy định, thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó;
b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định, thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở;
c) Đối với thửa đất có sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 139 Luật đất đai;
Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại trường hợp thứ 3 này, thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

4. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được giao đất nông nghiệp đã sử dụng làm đất ở, đất phi nông nghiệp trước ngày 1 tháng 7 năm 2014 mà không có các giấy tờ, có đăng ký thường trú tại địa phương thuộc vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định; thời hạn sử dụng đất tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do lấn chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ, hoặc lấn chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng, hoặc lấn đất, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác (Trước ngày 1 tháng 7 năm 2014), nhưng sau đó đã có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mà nay diện tích đất lấn chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng; không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông; không có mục đích sử dụng cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp và công trình công cộng khác thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ,và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 139 Luật đất đai, và trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất (Trước ngày 1 tháng 7 năm 2014), nếu sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, hoặc quy hoạch chung, hoặc quy hoạch phân khu, hoặc quy hoạch xây dựng, hoặc quy hoạch nông thôn thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

8. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang, không có tranh chấp thì được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hạn mức giao đất nông nghiệp, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; nếu vượt hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước.
Nhà nước có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các trường hợp đã nêu trên. Những hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ mà chưa đủ điều kiện cấp sổ đỏ theo các trường hợp trên, được tạm thời sử dụng theo hiện trạng, và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;

Luật sư Ls Nguyễn Văn Thắng - Điện thoại/Zalo: 0886.377.399

Từ 01/01/2025 Nhà nước chỉ được THU HỒI ĐẤT trong những trường hợp sau.Chỉ thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết đ...
22/07/2024

Từ 01/01/2025 Nhà nước chỉ được THU HỒI ĐẤT trong những trường hợp sau.

Chỉ thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện dự án phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, cụ thể:

1. Xây dựng công trình giao thông, gồm: cao tốc, đường ôtô, đường trong đô thị, đường nông thôn kể cả đường tránh, đường cứu nạn và đường trên đồng ruộng phục vụ nhu cầu đi lại chung của mọi người...

2. Xây dựng công trình thủy lợi, gồm: đê điều, kè, cống, đập, tràn xả lũ, hồ chứa nước, đường hầm thủy công, hệ thống cấp nước, thoát nước, tưới nước...

3. Xây dựng công trình cấp nước, thoát nước, gồm: nhà máy nước; trạm bơm nước; bể, tháp chứa nước...

4. Xây dựng công trình xử lý chất thải, gồm: trạm trung chuyển; bãi chôn lấp rác; khu liên hợp xử lý, khu xử lý, cơ sở xử lý chất thải, chất thải nguy hại...

5. Xây dựng công trình năng lượng, chiếu sáng công cộng, gồm: nhà máy điện và công trình phụ trợ...

6. Xây dựng công trình dầu khí, gồm: giàn khai thác, công trình phục vụ khai thác, xử lý dầu khí...

7. Xây dựng công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, gồm: nhà, trạm, cột ăng ten, cột treo cáp, cống, bể, ống cáp, hào, tuy nen kỹ thuật và công trình hạ tầng kỹ thuật liên quan ...

8. Xây dựng chợ dân sinh, chợ đầu mối.

9. Xây dựng công trình tín ngưỡng, gồm: đình, đền, am, miếu và công trình tín ngưỡng hợp pháp khác.

10. Xây dựng công trình tôn giáo, gồm: trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất...

11. Xây dựng khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng, gồm: công viên, vườn hoa, bãi tắm và khu vực dành cho vui chơi giải trí công cộng ...

12. Xây dựng trụ sở cơ quan Đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ...

13. Xây dựng trụ sở hoặc văn phòng đại diện của các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

14. Xây dựng cơ sở văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, gồm: trung tâm hội nghị, nhà hát, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa, cung văn hóa, câu lạc bộ, rạp chiếu phim, rạp xiếc...

15. Xây dựng cơ sở y tế, dịch vụ xã hội được nhà nước thành lập hoặc cho phép hoạt động, gồm: khám bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức năng; y tế dự phòng; dân số; kiểm nghiệm...

16. Xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo được nhà nước thành lập hoặc cho phép hoạt động, gồm: nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

17. Xây dựng cơ sở thể dục, thể thao do nhà nước thành lập hoặc cho phép hoạt động, bao gồm: khu liên hợp thể thao, trung tâm đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao; sân vận động, cơ sở thi đấu, tập luyện các môn thể thao.

18. Xây dựng cơ sở khoa học và công nghệ do nhà nước thành lập hoặc cho phép hoạt động, gồm: tổ chức nghiên cứu, phát triển, dịch vụ khoa học và công nghệ...

19. Xây dựng cơ sở ngoại giao, gồm: trụ sở các đại sứ quán, lãnh sự quán, văn phòng đại diện của các tổ chức ngoại giao nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ có chức năng ngoại giao; cơ sở ngoại giao đoàn do nhà nước quản lý.

20. Xây dựng công trình sự nghiệp về xử lý môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, khí tượng, thủy văn, đăng kiểm, kiểm dịch động vật, thực vật.

21. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang, trừ trường hợp thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất; xây dựng nhà công vụ...

22. Dự án khu công nghiệp, cụm công nghiệp; khu công nghệ cao; khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; khu công nghệ thông tin tập trung; khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao; khu phi thuế quan trong khu kinh tế.

23. Dự án khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung có quy mô lớn, tập trung đồng bộ về kết cấu hạ tầng...

24. Thực hiện hoạt động lấn biển.

25. Hoạt động khai thác khoáng sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép...

26. Dự án vùng phụ cận các điểm kết nối giao thông và các tuyến giao thông có tiềm năng phát triển.

27. Thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu đô thị có công năng phục vụ hỗn hợp, đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với nhà ở ...

28. Nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng, cơ sở lưu giữ tro cốt.

29. Dự án bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số để thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

30. Xây dựng công trình trên mặt đất phục vụ vận hành, khai thác, sử dụng công trình ngầm.

31. Dự án đã được Quốc hội, Thủ tướng chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư.

32. Dự án khác cần thu hồi đất thực hiện dự án, công trình vì lợi ích quốc gia, công cộng mà không thuộc các trường hợp nêu trên, Quốc hội sẽ bổ sung theo trình tự rút gọn.

Luật sự Ls Nguyễn Văn Thắng - 0886.377.399 (Điện thoại/Zalo)

Bắt đầu từ 01/8/2024, những trường hợp sau đây KHÔNG ĐƯỢC SANG TÊN SỔ ĐỎLuật Đất đai 2024 có hiệu lực từ ngày 1/8, quy đ...
10/07/2024

Bắt đầu từ 01/8/2024, những trường hợp sau đây KHÔNG ĐƯỢC SANG TÊN SỔ ĐỎ

Luật Đất đai 2024 có hiệu lực từ ngày 1/8, quy định một số trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định thì không thể thực hiện việc “sang tên” sổ đỏ.

Khi sang tên sổ đỏ, cả bên bán và bên mua đều phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Có một số trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định thì không thể thực hiện việc sang tên sổ đỏ.

Theo khoản 1, khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai 2024, điều kiện sang tên sổ đỏ được quy định cụ thể.

A. Điều kiện đối với bên bán, tặng cho

- Thứ nhất, có sổ đỏ, sổ hồng
- Thứ hai, đất không có tranh chấp .
- Thứ ba, quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án dân sự.
- Thứ tư, trong thời hạn sử dụng đất.
- Thứ năm, quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

B. Điều kiện đối với bên mua, nhận tặng cho

Những trường hợp sau không được nhận chuyển quyền sử dụng đất (mua đất) được quy định cụ thể.

- Thứ nhất, tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của cá nhân.
- Thứ hai, cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở và đất khác trong khu vực rừng phòng hộ.
- Thứ ba, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà pháp luật không cho phép nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.

Như vậy, căn cứ vào các điều kiện sang tên sổ đỏ nêu trên, nếu thuộc một trong các trường hợp sau sẽ không được sang tên sổ đỏ từ 1/8/2024

Trường hợp 1, đất chưa có sổ đỏ, sổ hồng.

Trường hợp 2, đất đang có tranh chấp.

Trường hợp 3, quyền sử dụng đất đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án dân sự.

Trường hợp 4, đất đã hết thời hạn sử dụng.

Trường hợp 5, quyền sử dụng đất bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trường hợp 6, tổ chức kinh tế mua đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của cá nhân (trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt).

Trường hợp 7, cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mua đất ở và đất khác trong khu vực rừng phòng hộ, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng.

Trường hợp 8, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà pháp luật không cho phép mua đất.
......................................................................................................................................
Luật sư Ls Nguyễn Văn Thắng - 0886.377.399 - 25 phố Hoa Bằng/Cầu Giấy/Hà Nội

RẤT NÓNG! Bắt đầu từ ngày 1/8/2024, 105 thành phố, thị xã không được phân lô, bán nền!Luật Kinh doanh bất động sản 2023 ...
04/07/2024

RẤT NÓNG! Bắt đầu từ ngày 1/8/2024, 105 thành phố, thị xã không được phân lô, bán nền!
Luật Kinh doanh bất động sản 2023 có hiệu lực từ ngày 1/8/2024, không cho phân lô, bán nền tại 105 thành phố, thị xã, tăng 81 địa phương so với quy định hiện hành.
Cụ thể, Luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cá nhân tự xây dựng nhà ở, tự phân lô bán nền trong khu vực các phường, quận, thành phố của đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2, loại 3 và thuộc trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để đầu tư dự án xây dựng nhà ở theo quy định của Luật Đất đai.

Với những khu vực còn lại, UBND cấp tỉnh sẽ quyết định khu vực chủ đầu tư có thể phân lô tách thửa và chuyển nhượng cho cá nhân tự xây nhà ở.

Trong khi đó, luật hiện hành chỉ ngăn chặn phân lô, bán nền tại các phường của các đô thị loại đặc biệt và đô thị loại I trực thuộc Trung ương; khu vực có yêu cầu cao về kiến trúc cảnh quan, khu vực trung tâm và xung quanh các công trình là điểm nhấn kiến trúc trong đô thị; mặt tiền các tuyến đường cấp khu vực trở lên và các tuyến đường cảnh quan chính trong đô thị.

Theo thống kê của Bộ Xây dựng, đến tháng 12/2023, toàn quốc có 902 đô thị; trong đó, có 2 đô thị loại đặc biệt, 22 đô thị loại I, 36 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 95 đô thị loại IV và 702 đô thị loại V.

Như vậy, quy định mới sẽ cấm phân lô bán nền tại 105 thành phố, thị xã, tăng thêm 81 địa phương so với quy định hiện hành.
Danh sách cụ thể 105 thành phố, thị xã không được phân lô, bán nền gồm:
2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và 22 đô thị loại I gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 19 thành phố thuộc tỉnh gồm Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Bắc Ninh, Hải Dương, Pleiku, Long Xuyên.
36 đô thị loại II bao gồm các thành phố thuộc tỉnh: Phan Thiết, Cà Mau, Tuy Hòa, Uông Bí, Thái Bình, Rạch Giá, Bạc Liêu, Ninh Bình, Đồng Hới, Phú Quốc, Vĩnh Yên, Lào Cai, Bà Rịa, Bắc Giang, Phan Rang - Tháp Chàm, Châu Đốc, Cẩm Phả, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Trà Vinh, Sa Đéc, Móng Cái, Phủ Lý, Bến Tre, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Sơn La, Tân An, Vị Thanh, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Tuyên Quang, Sóc Trăng, Kon Tum, Dĩ An, Yên Bái.
45 đô thị loại III với 29 thành phố và 16 thị xã.: Điện Biên Phủ, Hòa Bình, Hội An, Hưng Yên, Đông Hà, Bảo Lộc, Hà Giang, Cam Ranh, Cao Bằng, Lai Châu, Tây Ninh, Bắc Kạn, Tam Điệp, Sông Công, Sầm Sơn, Phúc Yên, Hà Tiên, Đồng Xoài, Chí Linh, Long Khánh, Gia Nghĩa, Ngã Bảy, Thuận An, Hồng Ngự, Từ Sơn, Phổ Yên, Tân Uyên, Bến Cát, Gò Công, Sơn Tây, Cửa Lò, Phú Thọ, Bỉm Sơn, La Gi, Sông Cầu, Long Mỹ, Tân Châu, Cai Lậy, Quảng Yên, Kỳ Anh, Bình Minh, Đông Triều, Phú Mỹ, An Nhơn, Kiến Tường.

Châu Bùi -  BỊ QUAY LÉN - Mức chế tài cụ thể theo pháp luật đối với hành vi này!Sự việc Châu Bùi, người mẫu nổi tiếng bị...
02/07/2024

Châu Bùi - BỊ QUAY LÉN - Mức chế tài cụ thể theo pháp luật đối với hành vi này!

Sự việc Châu Bùi, người mẫu nổi tiếng bị quay lén trong nhà vệ sinh nữ, tại một studio tại quận 3, TPHCM đang thu hút sự chú ý và phẫn nộ của công chúng. Cụ thể, chiều 23/6/2024, Châu Bùi và ekip có buổi thử đồ tại studio. Dù đã kiểm tra cẩn thận nhưng sau khi vào phòng thay đồ 30 phút, người đẹp này phát hiện camera quay lén ngụy trang dưới hình dạng đồng hồ cơ, được đặt lẫn trong chiếc khăn ở phòng thay đồ. Châu Bùi cùng ekip sau đó đã trình báo và yêu cầu công an xác minh, làm rõ sự việc.

Vậy Với hành vi quay lén người khác, thì bị xử lý ra sao, hình phạt cho hành vi này như thế nào?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì hành vi quay lén người khác có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, phạt tù và bị khởi kiện ra tòa để chịu trách nhiệm bồi thường. Cơ quan công an sẽ làm rõ động cơ, mục đích cũng như hậu quả của hành vi quay lén, và dựa vào đó để có biện pháp xử lý tương xứng. Cụ thể:
- Trường hợp đối tượng đã thực hiện hành vi quay lén, nhưng chưa phát tán, sử dụng thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt tiền từ 2 triệu đến 3 triệu đồng. theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

- Trường hợp đối tượng đã thực hiện hành vi quay lén, và đưa hình ảnh, video lên mạng xã hội, có thể bị phạt tiền từ 5-10 triệu đồng. Theo khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP. Ngoài ra, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu phương tiện vi phạm hành chính, tang vật.

- Đối tượng sẽ bị xử lý hình sự nếu có hành vi sử dụng hình ảnh, thông tin đã quay lén của người khác với mục đích làm nhục, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, làm giảm uy tín của cá nhân theo quy định tại Điều 155 Bộ Luật Hình sự năm 2015

- Nếu người có hành vi quay lén người khác, sau đó tàng trữ, lưu hành, trao đổi, vận chuyển, mua bán nhằm phổ biến hình ảnh, video quay lén với nội dung nhạy cảm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm đổi trụy. theo quy định tại Điều 326 Bộ Luật Hình sự năm 2015.

- Nếu sử dụng các thông tin hình ảnh quay lén cá nhân nhạy cảm của người khác để đe dọa ,tống tiền, còn có thể bị xử lý hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản. được quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự 2015.

Ngoài ra Người bị quay lén có thể khởi kiện ra tòa yêu cầu người quay lén mình phải bồi thường. người quay lén người khác phải công khai xin lỗi, cải chính và bồi thường thiệt hại. bao gồm Bồi thường tổn thất về vật chất và tinh thần theo quy định tại điều 32, điều 38 Bộ luật dân sự 2017.

Luật sư THẮNG & CỘNG SỰ - 088 637 73 99 - 0886.377.399

Các hành vi bị coi là Tội Trốn Thuế và mức hình phạt có thể bị lĩnhNgày 23/6, Cơ quan CSĐT, Công an TP.HCM cho biết đã k...
23/06/2024

Các hành vi bị coi là Tội Trốn Thuế và mức hình phạt có thể bị lĩnh

Ngày 23/6, Cơ quan CSĐT, Công an TP.HCM cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can với Phạm Văn Tam, nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Asanzo và ông Phạm Xuân Tình (đại diện pháp luật, Tổng Giám đốc Công ty Asanzo) về tội Trốn thuế.
Ông Phạm Văn Tam và Phạm Xuân Tình bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú.

Vậy các hành vi nào được coi là phạm vào Tội Trốn Thuế và mức xử phạt mà người thực hiện hành vi có thể phải nhận là như thế nào?

Các hành vi bị coi là Tội Trốn Thuế

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

Mức hình phạt có thể bị lĩnh

Khi phạm vào tội này thì người phạm tội sẽ bị Phạt tiền từ 100 triệu đồng hoặc 3 tháng tù đến 4,5 tỉ hoặc 7 năm tù. Ngoài ra Người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung tiền từ 20 đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Cụ thể:

- Số tiền xác định trốn thuế từ 100 triệu đến dưới 300 triệu: Thì bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm).

- Phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1.5 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 3 năm khi:
a) Có tổ chức;
b) Số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng đến dưới 1tỉ đồng;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội trốn thuế với số tiền 1 tỷ đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.5 tỷ đồng đến 4.5 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Luật sư Ls Nguyễn Văn Thắng - 0886.377.399

Từ 1/7/2024 Chồng KHÔNG ĐƯỢC LY HÔN DÙ Vợ mang thai, sinh con...VỚI NGƯỜI KHÁC!Theo quy định có hiệu lực từ ngày 1/7, vợ...
15/06/2024

Từ 1/7/2024 Chồng KHÔNG ĐƯỢC LY HÔN DÙ Vợ mang thai, sinh con...VỚI NGƯỜI KHÁC!

Theo quy định có hiệu lực từ ngày 1/7, vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.
Nội dung trên được đề cập tại Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình, có hiệu lực thi hành từ 1/7.

Nghị quyết này hướng dẫn cụ thể về trường hợp người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Theo nghị quyết, chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con.

"Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi", Nghị quyết 01/2024 nêu rõ.

Hướng dẫn này có thể hiểu dù người phụ nữ đó ngoại tình, vi phạm nghĩa vụ một vợ một chồng dẫn tới với có thai với người đàn ông khác thì người chồng cũng không có quyền ly hôn khi người vợ của mình đang mang thai, sinh con, nuôi con không phải của người chồng hợp pháp.

Luật sư Thắng 0886.377.399 - 25 phố Hoa Bằng - Cầu Giấy - Hà Nội

Từ 1-7: Bị tòa bác yêu cầu ly hôn, được nộp đơn lại ngay, không cần chờ 1 năm!Nghị quyết 01/2024 của HĐTP TAND Tối cao c...
13/06/2024

Từ 1-7: Bị tòa bác yêu cầu ly hôn, được nộp đơn lại ngay, không cần chờ 1 năm!

Nghị quyết 01/2024 của HĐTP TAND Tối cao có hiệu lực từ 1-7 không còn hướng dẫn việc hạn chế quyền giải quyết yêu cầu ly hôn sau khi đã bị bác đơn.

Trước đó, Nghị quyết 02/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã nêu: "Cần chú ý là tuy pháp luật tố tụng chưa quy định, nhưng đối với người có đơn yêu cầu xin ly hôn mà bị toà án bác đơn xin ly hôn thì sau một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người đó mới lại được yêu cầu toà án giải quyết việc xin ly hôn".

Do đó, khi áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, các tòa án đều áp dụng tinh thần của Nghị quyết 02/2000 để trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Với Nghị quyết 01/2024, TAND Tối cao đã hướng dẫn cụ thể nên trường hợp này, tòa án phải nhận đơn khởi kiện của đương sự, không được trả lại đơn khởi kiện theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000.

Đồng thời, căn cứ theo khoản 2, khoản 4, Điều 154 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn luật này đã hết hiệu lực nên tòa án không thể áp dụng quy định của Nghị quyết 02/2000.

Sẽ ghi đủ thành viên chung quyền sử dụng đất trong sổ đỏ hộ gia đìnhTừ năm 2025, sổ đỏ thửa đất của hộ gia đình sẽ ghi đ...
31/05/2024

Sẽ ghi đủ thành viên chung quyền sử dụng đất trong sổ đỏ hộ gia đình
Từ năm 2025, sổ đỏ thửa đất của hộ gia đình sẽ ghi đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất, thay vì chỉ tên chủ hộ như hiện nay.

Luật Đất đai 2024 có hiệu lực từ 1/1/2025 quy định, thửa đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình sẽ được cấp một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ) ghi đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất. Sổ được trao cho người đại diện.

Nếu thành viên chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình có nhu cầu thì sẽ được cấp sổ đỏ ghi tên đại diện hộ gia đình.

Từ năm 2025, Nhà nước không cấp đất cho hộ gia đình. Như vậy, quy định ghi đầy đủ tên các thành viên trong hộ gia đình vào sổ đỏ sẽ áp dụng với các trường hợp đất của hộ gia đình đã có từ trước nhưng chưa được cấp sổ.

Việc xác định các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình để ghi tên trên sổ đỏ sẽ do những người này tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Với các sổ đỏ đã cấp cho đại diện hộ gia đình trước thời điểm Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, nếu các thành viên trong hộ có nhu cầu sẽ được đổi sang sổ đỏ mới ghi đầy đủ tên thành viên.

Việc chỉ ghi tên chủ hộ trong sổ đỏ khiến khi cần xác định những ai trong hộ gia đình tại thời điểm cấp sổ đỏ thì phải căn cứ hộ khẩu. Nhiều trường hợp khi chuyển nhượng đất đai đã bỏ sót thành viên dẫn đến giao dịch có thể bị vô hiệu, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên cũng như gây khó khăn cho cơ quan công chứng vì phải xác minh nhân khẩu.

Với quy định mới, về nguyên tắc chỉ những ai có tên trên sổ đỏ mới có quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất. Do vậy, khi có tranh chấp thì những thành viên trong hộ gia đình cũng như cơ quan thực thi pháp luật sẽ dễ dàng phân định quyền sử dụng đất của những ai, diện tích mỗi người là bao nhiêu.

Luật sư THẮNG & CỘNG SỰ - 088 637 73 99 - 25 Hoa Bằng - Cầu Giấy - Hà Nội.

Vụ ly hôn kinh điển - 13 năm chưa xong và không biết khi nào mới kết thúc!Ngọc Thúy đề nghị tòa 'giải quyết dứt điểm' vụ...
10/05/2024

Vụ ly hôn kinh điển - 13 năm chưa xong và không biết khi nào mới kết thúc!

Ngọc Thúy đề nghị tòa 'giải quyết dứt điểm' vụ tranh chấp tài sản với chồng cũ

Tòa phúc thẩm chấp nhận đơn xin hoãn xét xử của đại gia Đức An, trong khi đó Ngọc Thúy đề nghị sớm giải quyết dứt điểm vụ tranh chấp đã kéo dài hơn 13 năm.
Ngày 10/5, TAND Cấp cao tại TP HCM quyết định hoãn phiên xem xét kháng cáo của ông Nguyễn Đức An và Phạm Thị Ngọc Thúy (44 tuổi, siêu mẫu Ngọc Thúy) về việc tranh chấp khối tài sản khoảng 280 tỷ đồng sau ly hôn.

Phía nguyên đơn không có mặt tại tòa và có đơn xin hoãn. Luật sư và người đại diện theo uỷ quyền của bà Thúy có đơn đề nghị sớm đưa vụ án ra xét xử.

Ngọc Thúy cho rằng vụ án kéo dài đến nay đã hơn 13 năm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên đề nghị tòa sớm đưa ra xét xử để giải quyết dứt điểm.

Trước đó, ông An kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, không đồng ý với việc tòa chia đôi các tài sản tranh chấp với bị đơn. Ông cho rằng, bản án chia đôi tài sản cho bị đơn là không thỏa đáng, trái với thực tế vụ án, trái với các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đề nghị TAND Cấp cao tại TP HCM xét xử phúc thẩm theo hướng "khách quan, đúng với các quy định của pháp luật" để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Còn Ngọc Thúy cho rằng, tòa sơ thẩm bác yêu cầu phản tố của bà về việc buộc đại gia Đức An chia 5 căn biệt thự tại Phan Thiết là "không phù hợp với thực tế khách quan". Bà kháng cáo, đề nghị tòa phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố, công nhận 5 bất động sản trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và buộc ông An hoàn lại 50% giá trị tương đương hơn 8,7 tỷ đồng.

Ngoài ra, Ngọc Thúy không đồng ý với việc tòa sơ thẩm tuyên giao cho chồng cũ sở hữu 100% cổ phần thuộc Công ty TNHH Thương mại địa ốc trang trí nội thất Bình Minh; trong đó có quyền sử dụng hơn 3.700 m2 đất của Công ty TNHH Thương mại địa ốc trang trí nội thất Bình Minh tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà đề nghị tòa cấp cao giao cho mình được sở hữu 100% vốn góp tại Công ty TNHH Thương mại địa ốc trang trí nội thất Bình Minh, bà sẽ thanh toán cho ông An 50% vốn góp tương đương 43,6 tỷ đồng.

Bản án sơ thẩm của TAND TP HCM xác định, ông An đăng ký kết hôn với Ngọc Thúy tại Mỹ vào năm 2006, có 2 con chung. Đến tháng 3/2008, hai vợ chồng ly hôn tại tòa án bang California, Mỹ. Năm 2010, ông An gửi đơn kiện yêu cầu vợ cũ trả lại 39 loại tài sản mua tại Việt Nam, gồm: cổ phiếu, xe hơi, hàng chục căn hộ, lô đất, biệt thự tại các dự án lớn ở TP HCM và Phan Thiết (như Avalon Building, Sailing Tower, Sea Links Golf & County Club)... vì cho rằng tài sản "mua bằng tiền riêng có được trước khi kết hôn với Ngọc Thúy". Trong thời gian hai người là vợ chồng, do ông mang quốc tịch Mỹ nên phải nhờ vợ đứng tên sở hữu.

Do đó, đối với các tài sản gồm khoảng 30 bất động sản tại nhiều địa phương và cổ phần tại các công ty, phía ông Đức An yêu cầu tòa giao lại, để sang tên cho 2 con gái chung với Ngọc Thúy.

Sau 13 năm thụ lý và giải quyết vụ kiện, TAND TP HCM xác định, tài sản tranh chấp là "tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân" của vợ chồng, chứ không phải là tài sản riêng của nguyên đơn trước khi kết hôn.

Tòa chấp nhận một phần yêu cầu của ông An và cả của Thúy, chia đôi giá trị 15 tài sản cho các bên gồm: 5 căn hộ tại tòa nhà Avalon (quận 1); 4 căn hộ tại tòa nhà Sailing (quận 1); biệt thự ở quận Bình Thạnh; Công ty TNHH Bình Minh; 465.000 cổ phần tại Công ty Cảng Sao Mai; số tiền chủ đất ở quận 2 trả lại, số tiền bồi thường căn nhà 95A Trần Phú (Vũng Tàu); số tiền cho thuê 9 căn hộ tại quận 1 từ năm 2009 đến 2023.

Đối với13 căn biệt thự tại dự án tại Sealing, tòa không chấp nhận yêu cầu chia của các bên, bởi 4 căn Thúy đã bán trong thời kỳ hôn nhân, 4 căn bán sau khi ly hôn lấy tiền mua các tài sản khác. Các căn này hiện không còn, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc chia tài sản. Với 5 căn còn lại (đứng tên bà Bê - mẹ Thúy), bị đơn nói mẹ đã ủy quyền cho nguyên đơn bán nhưng ông phủ nhận. Các căn này hiện cũng không còn, nên tòa không có căn cứ để chia.

Đối với yêu cầu khác của phía nguyên đơn về việc đòi lại một số khoản tiền và tài sản khác, tòa không chấp nhận vì cho rằng không có căn cứ.

Luật sư hôn nhân - Luật sư Ls Nguyễn Văn Thắng 0886377399

Address

25 Hoa Bằng
Hanoi

Telephone

+84886377399

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư ONLINE posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư ONLINE:

Share