Mẫu đơn khởi kiện

Mẫu đơn khởi kiện Dịch vụ Luật sư tư vấn, hỗ trợ soạn đơn khởi kiện, đơn khiếu nại, đơn

TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNGChế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật hoặc/...
11/05/2025

TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật hoặc/và thỏa thuận của các bên có liên quan đến tài sản chung, riêng của vợ chồng, cũng như các quyền, nghĩa vụ kèm theo. Vợ chồng có thể lựa chọn Chế độ tài sản theo luật định hoặc theo thỏa thuận. Theo đó, nếu không có thỏa thuận thì tào sản của vợ chồng sẽ theo luật định.

TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG
Theo quy định của pháp luật, những tài sản sau đây được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng:
1. Tài sản hình thành trước thời kỳ hôn nhân: Nghĩa rằng, trước khi kết hôn, Anh A hay Chị B có được tài sản gì, ví dụ như nhà cửa, xe cộ, tiền vàng... bất kể được hình thành từ nguồn nào, nhưng cứ tạo lập trước khi kết hôn là đương nhiên đó là tài sản riêng của mỗi Người. Tuy nhiên, nếu sau khi kết hôn, họ đồng ý nhập tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng, thì đó là tài sản chung.
2. Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, cũng là tài sản riêng của mỗi Người. Nghĩa rằng, tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vì được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng, nên nó vẫn là tài sản riêng. Tuy nhiên, cần lưu ý là nếu được tặng cho riêng mới là của riêng, còn nếu được tặng cho chung hai vợ chồng thì vẫn là của chung.
3. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ/chồng cũng là tài sản riêng của vợ/chồng. Nghĩa rằng, mặc dù tài sản có thể được mua trong thời kỳ hôn nhân, nhưng do được mua từ tài sản riêng, nên nó vẫn là tài sản riêng.
4. Những tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của mỗi người thì vẫn là tài sản riêng của vợ/chồng. Ví dụ như quần áo, giày dép,… (trên thực tế không ai tranh chấp tài sản này cả).

TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
Những tài sản không thuộc tài sản riêng của mỗi người được mô tả tại phần trên, những tài sản còn lại đương nhiên là tài sản chung. Và những tài sản không thể chứng minh là tài sản riêng, thì đó được coi là tài sản chung. Ở đây, tôi không liệt kê các loại tài sản thế nào là chung nữa. Mà chỉ nêu một vài lưu ý điển hình như sau:
1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, vẫn được coi là tài sản chung.
Ví dụ: Trước khi kết hôn, anh A có ột chiếc xe ô tô, sau khi kết hôn, anh A dùng chiếc xe đó đi chạy taxi thì tiền lợi nhuận từ việc chạy taxi là tài sản chung của vợ chồng
2. Không nhầm lẫn khái niệm tài sản chung và khái niệm công sức đóng góp. Như trên Chúng ta đã nêu, loại trừ những tài sản riêng đã phân tích, còn lại là tài sản chung. Nghĩa rằng đó là tài sản chung của cả hai Vợ chồng, nhưng không đương nhiên có nghĩa là họ được hai phần bằng nhau. Việc xác định ai đóng góp bao nhiêu, để phân chia khi có tranh chấp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quan trọng ở công sức đóng góp.
3. Việc đứng tên trên giấy tờ không phải là yếu tố quyết định. Nhiều Người hay nghĩ đơn giản rằng: Sổ nhà, sổ đất chỉ đứng tên ai, thì của riêng người đó. Tuy nhiên pháp luật không quy định như vậy. Nghĩa rằng việc đứng tên trên giấy tờ không phải là căn cứ quan trọng và duy nhất để xác định tài sản riêng. Nếu như tài sản đó được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, thì mặc nhiên được xem là tài sản chung, dù nó chỉ đứng tên một Người. Còn vợ/chồng nói đó là tài sản riêng thì phải chứng minh là được tặng cho riêng, thừa kế riêng, chứ không phải là chỉ dựa vào việc có đứng tên trên giấy tờ. Nói cách khác, nguồn gốc tạo lập tài sản quan trọng hơn việc đứng tên trên giấy tờ.

VIỆC ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
Tài sản chung của Vợ chồng thì có thể có nhiều loại bao gồm nhà cửa, đất đai, xe cộ, vàng bạc… Trong đó, việc định đoạt (bán, thế chấp, cầm cố,…) những tài sản sau đây phải được sự đồng ý bằng văn bản của cả hai Vợ chồng:
1. Bất động sản: nhà cửa, đất đai, công trình trên đất,...
2. Động sản phải đăng ký quyền sở hữu: Xe cộ, máy bay, tàu thuyền,…
3. Tài sản là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình: máy cày, máy tuốt lúa,…
Như vậy, những tài sản không thuộc những trường hợp trên, thì không cần sự đồng ý bằng văn bản của vợ chồng.
Vấn đề định đoạt tài sản chung của vợ chồng đặc biệt quan trọng. Trong một số vụ án, đây còn là chứng cứ then chốt để đòi lại tài sản khi vợ/chồng tự định đoạt tài sản chung mà không thông báo cho người còn lại.

Điều này gợi mở ra vấn đề rằng: Cơ quan tiến hành tố tụng, Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm gì khi b...
04/05/2025

Điều này gợi mở ra vấn đề rằng: Cơ quan tiến hành tố tụng, Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm gì khi ban hành ra những Quyết định chưa bảo đảm quy định của pháp luật, chưa mang tính khách quan, công bằng. Đây cũng chính là nguồn cơn gây ra bức xúc lớn trong dư luận.

QUẢNG CÁO SAI SỰ THẬT VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI NHẬN QUẢNG CÁO Không chỉ thời gian gần đây, mà trước đây cũng không ít nh...
27/04/2025

QUẢNG CÁO SAI SỰ THẬT VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI NHẬN QUẢNG CÁO

Không chỉ thời gian gần đây, mà trước đây cũng không ít những tin tức, phản ánh, bài viết về quảng cáo sai (vượt quá) chức năng, công dụng của sản phẩm, ví như thực phẩm, thực phẩm chức năng, thuốc,… nhưng gần đây chủ đề này lại nóng trở lại bởi hậu quả của những hành vi quảng cáo sai sự thật, quảng cáo cho những sản phẩm giả, kém chất lượng tác động mạnh mẽ hơn đến người tiêu dùng và xã hội.
Khoản 9 Điều 8 Luật quảng cáo nghiêm cấm hành vi “Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố”. Hành vi này theo quy định tại khoản 5 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo thì có thể bị xử phạt từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng
Bộ luật hình sự có quy định hai tội danh trực tiếp liên quan đến lĩnh vực quảng cáo đó là Tội quảng cáo gian dối (Điều 197) và Tội lừa dối khách hàng (Điều 198).
Vậy câu hỏi được đặt ra: ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm cho việc quảng cáo sai sự thật? có phải đương nhiên người có sản phẩm, hàng hóa đang kinh doanh?
Một sản phẩm quảng cáo, muốn đến được với Công chúng, phải có sự tham gia của rất nhiều chủ thể, gồm Người bán hàng (người có hàng hóa muốn bán, dịch vụ muốn kinh doanh); Người nhận quảng cáo (Người được thuê để biên soạn, xây dựng, lên kịch bản, tạo ra nội dung quảng cáo và truyền tải công dụng, chức năng sản phẩm); Người phát hành quảng cáo (Người sử dụng phương tiên để truyền tải tiếp cận đến người dùng).
Vì lẽ đó, nếu quảng cáo đó sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về chất lượng của sản phẩm, hàng hóa, thì trách nhiệm cho hành vi trái pháp luật đó phải thuộc về đồng thời tất cả các chủ thể đã tham gia vào quá trình quảng cáo sản phẩm đó, mà không thể nói chỉ thuộc về một vài chủ thể nào đó mà những chủ thể còn lại không liên quan.
Thậm chí, tâm lý chung của rất nhiều người bỏ tiền ra mua một sản phẩm nào đó chỉ bởi vì họ tin tưởng vào uy tín của kênh truyền hình đang phát sóng, uy tín của Người đang chuyển tải quảng cáo là Ca sĩ, Diễn viên, Thần tượng nổi tiếng, mà không phải là vì uy tín hay thương hiệu của Nhà sản xuất, cung cấp.
Ở một góc nhìn khác, việc quảng cáo không đúng sự thật, nhưng sản phẩm quảng cáo đó không ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, con người, ví dụ như ốp điện thoại, kệ giầy dép, móc khóa, lắc tay,… thì có nói quá lên về công năng cũng sẽ không quá gây nguy hại, thậm chí là không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe con người. Nhưng nếu đó là những sản phẩm được quảng cáo liên quan đến việc chữa bệnh, sức khỏe, tính mạng, thì việc quảng cáo sai sự thật không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn là yếu tố lương tâm, đạo đức.
Tóm lại, một sản phẩm quảng cáo muốn đến được với công chúng, phải có sự tham gia của rất nhiều chủ thể. Vì vậy, nếu quảng cáo đó sai sự thật thì trách nhiệm phải thuộc về đồng thời tất cả các Chủ thể đã tham gia vào quá trình quảng cáo sản phẩm đó.

MỘT SỐ ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý VỀ VIỆC TỔ CHỨC DẠY THÊM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG THEO THÔNG TƯ 29/2024/TT-BGDĐTViệc tổ chức dạy thêm ngo...
27/04/2025

MỘT SỐ ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý VỀ VIỆC TỔ CHỨC DẠY THÊM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG THEO THÔNG TƯ 29/2024/TT-BGDĐT

Việc tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường, đã được thực hiện theo quy định mới kể từ ngày 14/02/2025, khi thông tư 29/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo có hiệu lực thi hành, theo đó:
1. “Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh phải thực hiện các yêu cầu sau: Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật…” (Điều 6.1.a). Đối chiếu với quy định của Pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, thì Cơ sở dạy thêm có thể đăng ký kinh doanh dưới các loại hình như: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh. Trong khi Luật Doanh nghiệp có quy định về việc nhiều Chủ thể không được thành lập Doanh nghiệp (Ví dụ như Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức), thì việc thành lập Hộ kinh doanh lại gần như không có một rào cản tương tự đối với những Chủ thể này (Trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành cụ thể có quy định khác). Điều này có nghĩa, Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức vẫn có quyền đăng ký thành lập Hộ kinh doanh.
2. “Giáo viên thuộc các trường công lập không được tham gia quản lí, điều hành việc dạy thêm ngoài nhà trường nhưng có thể tham gia dạy thêm ngoài nhà trường” (Điều 4.3). Điều luật này quy định Giáo viên thuộc các trường công lập không được tham gia “quản lý, điều hành”, không hề cấm việc “thành lập”. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp lại quy định “Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam …” (Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020). Điều đó có nghĩa rằng, Giáo viên thuộc các trường công lập vẫn có quyền đăng ký Thành lập Hộ kinh doanh dạy thêm.
3. Dạy thêm không phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên bất kỳ người nào có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị đi cai nghiện bắt buộc, đều có quyền đăng ký thành lập Hộ kinh doanh với ngành nghề dạy thêm. Vậy nên quy định “Giáo viên thuộc các trường công lập không được tham gia quản lí, điều hành việc dạy thêm ngoài nhà trường nhưng có thể tham gia dạy thêm ngoài nhà trường” (Điều 4.3) có chút mâu thuẫn khi kết hợp với quy định về Thành lập Hộ kinh doanh tại Nghị định 01/2021 về Đăng ký kinh doanh.
4. “Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường không được dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh đối với học sinh mà giáo viên đó đang được nhà trường phân công dạy học theo kế hoạch giáo dục của nhà trường.” (Điều 4.2).

29/07/2024

VỢ/CHỒNG KHÔNG KÝ ĐƠN CÓ LY HÔN ĐƯỢC KHÔNG?

Trong các trường hợp ly hôn đơn phương, việc nhận được sự hỗ trợ, hợp tác từ người còn lại gần như là không thể. Những người ly hôn đơn phương thì thường cuộc hôn nhân của họ đã ở trong tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, không thể nào hòa giải được nên thường có xu hướng chống đối, ghét bỏ, gây khó dễ cho nhau.
Vậy nếu vợ/chồng không hợp tác, không ký đơn ly hôn thì người còn lại có được quyền ly hôn không?
Hãy liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại 0348952313 để được giải đáp những vướng mắc pháp lý bạn gặp phải.




28/07/2024

XÂY NHÀ TRÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP CÓ ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHÔNG?

Xây nhà trên đất nông nghiệp là việc người sử dụng đất tiến hành xây dựng các công trình kiên cố như nhà ở, nhà xưởng, các công trình phục vụ sinh hoạt khác trên phần đất có mục đích sử dụng là đất nông nghiệp.
Hiện nay, với nhu cầu về việc phát triển đô thị, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nên việc thu hồi đất để thực hiện các dự án ngày càng nhiều. Vậy các công trình được xây dựng trên đất nông nghiệp có được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất hay không?
hãy cùng tìm hiểu nội dung trên qua video dưới đây của chúng tôi.
Nếu có những vướng mắc pháp lý cần được giải đáp, hãy liên hệ chúng tôi theo số điện thoại: 0348952313.



KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Hiện nay, kinh tế xã hội phát triển, các dự án thu hồi đất xuất hiện ngày càng nhiều. Việc th...
05/09/2023

KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Hiện nay, kinh tế xã hội phát triển, các dự án thu hồi đất xuất hiện ngày càng nhiều. Việc thu hồi đất gần như luôn đi kèm việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trên thực tế, nhiều người, nhiều người/nhiều gia đình nằm trong diện bị thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế xã hội cho rằng việc thu hồi đất là không đúng, việc bồi thường chưa thỏa đáng hoặc cho rằng mình thuộc diện được tái định cư nhưng không đưởng hưởng chính sách đó. Tuy nhiên, những người này không biết cách nào để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân và gia đình. Những trường hợp như vậy, con đường giải quyết hiệu quả nhất là khiếu nại Quyết định hành chính/hành vi hành chính tại người có thẩm quyền giải quyết theo Luật khiếu nại hoặc Khiếu kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền. Việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính sẽ được chúng tôi phân tích trong một bài viết khác. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu, hướng dẫn bạn đọc về việc khiếu kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH LÀ GÌ

Khởi kiện vụ án hành chính là việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể, cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính yêu cầu tòa án thụ lý án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, công chức bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc.
Trong thời hạn luật định, nếu khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước đã ra quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính không được giải quyết hoặc không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Khởi kiện vụ án hành chính được thể hiện dưới hình thức văn bản gọi là đơn kiện. Đơn khởi kiện bao gồm những nội dung chính sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
- Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;
- Nội dung quyết định hành chính hoặc quyết định kỉ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức hay tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
- Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có);
- Cam đoan không khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo;
- Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết.

ĐỐI TƯỢNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính là một trong những yếu tố quan trọng để người khởi kiện có thể thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính. Việc xác định đối tượng khởi kiện chính xác hay không có ý nghĩa quyết định đến việc Tòa án có thụ lý đơn khởi kiện hay không. Trên thực tế, khi khởi kiện, nhiều người khởi kiện lúng túng trong việc xác định đối tượng khởi kiện hoặc đảm bảo các điều kiện của đối tượng khởi kiện để thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án hành chính. Vậy đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính bao gồm những đối tượng nào? Quy định của pháp luật về vấn đề này ra sao?
Theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đối tượng khởi kiện vụ án hành chính bao gồm:
Thứ nhất, Quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
- Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức;
Thứ hai, Quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
Thứ ba, Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Thứ tư, Danh sách cử tri bầu cử, danh sách xử tri trưng cầu ý dân.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích về những đối tượng khởi kiện vụ án hành chính phổ biến nhất, đó là các quyết định hành chính, hành vi hành chính.

KHỞI KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

Khái niệm về quyết định hành chính quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015, cụ thể như sau:
“Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”
Theo đó, khởi kiện quyết định hành chính là việc khởi kiện văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Ví dụ, khởi kiện quyết định của Ủy ban nhân dân huyện X về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng nghĩa trang tại thôn A, xã B, huyện X.

KHỞI KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH

Hành vi hành được quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015, cụ thể:
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Ví dụ, Ông Nguyễn Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã X theo đúng quy định, nhưng Ủy ban nhân dân xã X đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý do của việc trả lại hồ sơ đó. Hành vi trả lại hồ sơ cho ông A của UBND xã X là hành vi hành chính.
Theo đó, khởi kiện hành vi hành chính là khởi kiện những hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Ví dụ, Khởi kiện vụ án hành chính về hành vi trả lại hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã X cho ông A như ví dụ trên.

CHỦ THỂ KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Về chủ thể khởi kiện được quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 54 của luật tố tụng hành chính 2015. Theo đó, việc xác định cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện theo nguyên tắc xem xét cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện hay không.
Như vậy, cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính là những cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh, danh sách bầu cử Đại biểu quốc hội, Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, quyết định kỉ luật buộc thôi việc.
Tuy nhiên, quyền khởi kiện phải được thực hiện bởi những chủ thể có năng lực hành vi tố tụng hành chính. Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng bằng chính hành vi của mình cá nhân thực hiện quyền và các nghĩa vụ hành chính được pháp luật hành chính thừa nhận. Như vậy, việc khởi kiện vụ án hành chính chỉ có thể được thực hiện bởi người có quyền khởi kiện vụ án hành chính hoặc người đại diện của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính với điều kiện người đó đảm bảo năng lực hành vi tố tụng hành chính.
Người đại diện của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: người đại diện theo ủy quyền hoặc người đại diện theo pháp luật. Người đại diện theo pháp luật của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi dân sự, người đứng đầu của người khởi kiện là cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tại Điều 60 Luật tố tụng hành chính xác định người đại diện của người khởi kiện bao gồm:
- Cha mẹ đối với con chưa thành niên;
- Người giám hộ đối với người được giám hộ;
- Người đứng đầu đơn vị, cơ quan, tổ chức do được bổ nhiệm hoặc theo quy định của pháp luật;
- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;
- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với hợp tác xã;
- Những người khác theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, để khởi kiện vụ án hành chính thì cá nhân, tổ chức phải có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, hành vi bị kiện và việc khởi kiện phải được thực hiện bởi chủ thể có năng lực hành vi tố tụng hành chính. Cá nhân thực hiện hành vi khởi kiện vụ án hành chính phải bảo đảm năng lực hành vi tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 54 luật tố tụng hành chính 2015. Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: cá nhân có quyền khởi kiện từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự; cha mẹ người đỡ đầu; người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức; người được người có quyền khởi kiện ủy quyền.

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

“thời hiệu” theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 được hiểu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Đối với Thời hiệu khởi kiện vụ hành chính, nội dung này được quy định tại Điều 116 luật tố tụng hành chính 2015. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
Trong quá trình đồ quyền lợi trong các sự việc liên quan đến hành chính, bao gồm cả khiếu nại hoặc khiếu kiện, thời hiệu là vấn đề cần được chú ý quan tâm. Bởi trong nhiều trường hợp, mặc dù có căn cứ trong khiếu kiện, khiếu nại nhưng vụ việc đã hết thời hiệu nên cũng làm mất đi quyền của người có quyền lợi.
Trên thực tế, việc đòi quyền lợi bằng cách khởi kiện vụ án hành chính hoặc khiếu nại hành chính là rất khó khăn vì liên quan đến cơ quan mang quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, có không ít những dự án, những công trình do việc áp dụng sai quy định pháp luật, thực hiện sai quy trình dẫn đến xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Chúng tôi đã cùng đồng hành và thành công đòi lại quyền lợi tối đa cho nhiều người dân tại bị ảnh hưởng bởi các quyết định/hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, nếu cần được tư vấn, hỗ trợ pháp lý hoặc đại diện tham gia tố tụng trong trường hợp bạn không may bị ảnh hưởng bởi quyết định hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời.





TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI Giá trị đất ngày càng tăng khiến các tranh chấp về đất đai diễn ra ngày càng phổ biến. Tron...
04/09/2023

TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI

Giá trị đất ngày càng tăng khiến các tranh chấp về đất đai diễn ra ngày càng phổ biến. Trong đó, những tranh chấp về lấn chiếm đất đai là không ngoại lệ. Việc lấn chiếm đất đai có thể do nhiều nguyên nhân, ví dụ như từ việc cấp đất chồng lấn từ cơ quan quản lý đất đai, hoặc những trường hợp các gia đình sử dụng đất giáp ranh tự xác định ranh giới, mốc giới đất theo tập quán, qua quá trình sử dụng qua nhiều thế hệ lại phát hiện không trùng khớp với ranh giới được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận. Ngoài ra, cũng không thể loại trừ người lấn chiếm đất trái phép có mục đích chiếm dụng đối với phần đất lấn chiếm đó.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI

Lần lượt tại các khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Nghị định 91/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có quy định:
“1. Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.
2. Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép;
b) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;
c) Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp);
d) Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.”
Trên thực tế, các tranh chấp lấn chiếm đất đai thường xảy ra theo khoản 1 và điểm b khoản 2 quy định chúng tôi vừa trích dẫn trên, tức những tranh chấp xảy ra do việc tự ý dịch chuyển mốc giới hoặc ranh giới đất của mình sang phần đất thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của người khác hoặc tự ý vượt ranh giới sang để sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người khác mà chưa được người đó đồng ý.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI CÓ BẮT BUỘC HÒA GIẢI KHÔNG?

Những trường hợp tranh chấp về công nhận/bác bỏ, tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới, ngõ đi... là những trường hợp buộc phải tiến hành hòa giải trước khi khởi kiện ra Tòa án.
Việc hòa giải tranh chấp đất đai được ghi nhận tại Điều 202 Luật Đất đai và các quy định liên quan tại Bộ luật Dân sự như sau:
Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác.
Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban Nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban Nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban Nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác. Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban Nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Trong khi đó, tại Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án có quy định:
Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tranh chấp lấn chiếm đất đai cũng được coi là tranh chấp về ranh giới đất và Tòa án sẽ dựa vào các chứng cứ để phán quyết ai là người có quyền sử dụng đất với phần đất đang tranh chấp. Do vậy, tranh chấp lấn chiếm đất đai bắt buộc phải được hòa giải tại UBND cấp xã.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI Ở ĐÂU?

Về vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp lấn chiếm đất đai, theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban Nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án Nhân dân giải quyết;
Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai gồm:
- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban Nhân dân cấp có thẩm quyền;
- Khởi kiện tại Tòa án Nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Tóm lại, những tranh chấp về đất đai mà đã có Giấy chứng nhận hoặc các loại giấy tờ theo Điều 100 Luật đất đai thì chỉ có Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Ngược lại, những tranh chấp đất đai không có những giấy tờ kể trên thì các bên có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc tại Tòa án.
Tương tự như vậy, các tranh chấp lấn chiếm đất đai cũng áp dụng các quy đinh về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chung.
Tuy nhiên, trên thực tế thì các bên có tranh chấp lấn chiếm đất đai thường lựa chọn giải quyết tại Tòa án, bởi việc giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền thường không chặt chẽ, tính thi hành không cao, không giải quyết được dứt điểm sự việc.

NHỮNG LƯU Ý KHI KHỞI KIỆN TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI

Để việc khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai diễn ra nhanh chóng, đúng quy định, đạt được quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, bạn cần lưu ý những nội dung sau:

1. Chuẩn bị Hồ sơ khởi kiện đầy đủ, chặt chẽ.
Cũng tương tự những tranh chấp thuộc lĩnh vực khác, việc chuẩn bị bộ hồ sơ khởi kiện tranh chấp lấn chiếm đất đai là điều bắt buộc. Hồ sơ phải đầy đủ về thành phần, trong Đơn khởi kiện phải nêu đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật. Điều này sẽ hạn chế khả năng Tòa án yêu cầu sửa đổi/bổ sung Đơn khởi kiện hoặc trả lại Đơn khởi kiện, làm mất thời gian và mất đi quyền lợi chính đáng của bạn.

2. Tham gia đầy đủ quá trình tố tụng.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án có thể sẽ nhiều lần triệu tập các bên để làm rõ các tình tiết, chứng cứ trong vụ án. Do đó, bạn cần tham gia đầy đủ các hoạt động đó. Mặt khác, nếu bạn là người khởi kiện mà vắng mặt, rất có thể sẽ trở thành căn cứ để cho rằng bạn từ bỏ yêu cầu khởi kiện của mình.

3. Tự thu thập tài liệu chứng cứ
Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự thuộc về các đương sự. Do đó, để chứng minh là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, bạn cần cung cấp cho Tòa án những chứng cứ thể hiện bên còn lại có hành vi lấn chiếm đất. Ví dụ như các bản đồ địa chính, hồ sơ đất đai, biên bản giải quyết,… Tùy từng trường hợp khác nhau sẽ cần sử dụng các loại chứng cứ khác nhau, miễn sao phải hợp lý và đúng mục đích chứng minh.

TƯ VẤN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LẤN CHIẾM ĐẤT ĐAI, ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Từ thời điểm chuẩn bị khởi kiện và quá trình giải quyết tại các cơ quan có thẩm quyền, nếu không am hiểu quy định pháp luật và không có kinh nghiệm thì rất khó để vụ việc tranh chấp lấn chiếm đất đai được giải quyết trong thời hạn và đảm bảo được quyền lợi chính đáng của bạn. Đơn cử, trong khâu thụ lý vụ án, nếu việc sắp xếp, chuẩn bị hồ sơ không bài bản thì hoàn toàn có thể bị Tòa án trả lại Đơn khởi kiện. Hoặc trường hợp cần thu thập các tài liệu tại các cơ quan nhà nước để giao nộp cho Tòa án mà không nhận được sự hợp tác hoặc phản hồi, dẫn đến việc bạn không thể chứng minh được quyền lợi của mình.
Do đó, để đảm bảo an toàn về mặt pháp lý, giải quyết tranh chấp một cách nhanh hơn, hiệu quả hơn, hãy liên hệ tới chúng tôi để chúng tôi có thể đồng hành cùng bạn trong quá trình đòi lại quyền và lợi ích chính đáng của bản thân, gia đình.




Address

Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Mẫu đơn khởi kiện posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Mẫu đơn khởi kiện:

Share

Category