05/09/2023
KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Hiện nay, kinh tế xã hội phát triển, các dự án thu hồi đất xuất hiện ngày càng nhiều. Việc thu hồi đất gần như luôn đi kèm việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trên thực tế, nhiều người, nhiều người/nhiều gia đình nằm trong diện bị thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế xã hội cho rằng việc thu hồi đất là không đúng, việc bồi thường chưa thỏa đáng hoặc cho rằng mình thuộc diện được tái định cư nhưng không đưởng hưởng chính sách đó. Tuy nhiên, những người này không biết cách nào để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân và gia đình. Những trường hợp như vậy, con đường giải quyết hiệu quả nhất là khiếu nại Quyết định hành chính/hành vi hành chính tại người có thẩm quyền giải quyết theo Luật khiếu nại hoặc Khiếu kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền. Việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính sẽ được chúng tôi phân tích trong một bài viết khác. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu, hướng dẫn bạn đọc về việc khiếu kiện vụ án hành chính tại Tòa án.
KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH LÀ GÌ
Khởi kiện vụ án hành chính là việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể, cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính yêu cầu tòa án thụ lý án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, công chức bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc.
Trong thời hạn luật định, nếu khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước đã ra quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính không được giải quyết hoặc không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Khởi kiện vụ án hành chính được thể hiện dưới hình thức văn bản gọi là đơn kiện. Đơn khởi kiện bao gồm những nội dung chính sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
- Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;
- Nội dung quyết định hành chính hoặc quyết định kỉ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức hay tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
- Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có);
- Cam đoan không khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo;
- Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết.
ĐỐI TƯỢNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính là một trong những yếu tố quan trọng để người khởi kiện có thể thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính. Việc xác định đối tượng khởi kiện chính xác hay không có ý nghĩa quyết định đến việc Tòa án có thụ lý đơn khởi kiện hay không. Trên thực tế, khi khởi kiện, nhiều người khởi kiện lúng túng trong việc xác định đối tượng khởi kiện hoặc đảm bảo các điều kiện của đối tượng khởi kiện để thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án hành chính. Vậy đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính bao gồm những đối tượng nào? Quy định của pháp luật về vấn đề này ra sao?
Theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đối tượng khởi kiện vụ án hành chính bao gồm:
Thứ nhất, Quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
- Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức;
Thứ hai, Quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
Thứ ba, Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Thứ tư, Danh sách cử tri bầu cử, danh sách xử tri trưng cầu ý dân.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích về những đối tượng khởi kiện vụ án hành chính phổ biến nhất, đó là các quyết định hành chính, hành vi hành chính.
KHỞI KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
Khái niệm về quyết định hành chính quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015, cụ thể như sau:
“Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”
Theo đó, khởi kiện quyết định hành chính là việc khởi kiện văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Ví dụ, khởi kiện quyết định của Ủy ban nhân dân huyện X về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng nghĩa trang tại thôn A, xã B, huyện X.
KHỞI KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH
Hành vi hành được quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015, cụ thể:
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Ví dụ, Ông Nguyễn Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã X theo đúng quy định, nhưng Ủy ban nhân dân xã X đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý do của việc trả lại hồ sơ đó. Hành vi trả lại hồ sơ cho ông A của UBND xã X là hành vi hành chính.
Theo đó, khởi kiện hành vi hành chính là khởi kiện những hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Ví dụ, Khởi kiện vụ án hành chính về hành vi trả lại hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã X cho ông A như ví dụ trên.
CHỦ THỂ KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Về chủ thể khởi kiện được quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 54 của luật tố tụng hành chính 2015. Theo đó, việc xác định cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện theo nguyên tắc xem xét cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện hay không.
Như vậy, cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính là những cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh, danh sách bầu cử Đại biểu quốc hội, Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, quyết định kỉ luật buộc thôi việc.
Tuy nhiên, quyền khởi kiện phải được thực hiện bởi những chủ thể có năng lực hành vi tố tụng hành chính. Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng bằng chính hành vi của mình cá nhân thực hiện quyền và các nghĩa vụ hành chính được pháp luật hành chính thừa nhận. Như vậy, việc khởi kiện vụ án hành chính chỉ có thể được thực hiện bởi người có quyền khởi kiện vụ án hành chính hoặc người đại diện của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính với điều kiện người đó đảm bảo năng lực hành vi tố tụng hành chính.
Người đại diện của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: người đại diện theo ủy quyền hoặc người đại diện theo pháp luật. Người đại diện theo pháp luật của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi dân sự, người đứng đầu của người khởi kiện là cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tại Điều 60 Luật tố tụng hành chính xác định người đại diện của người khởi kiện bao gồm:
- Cha mẹ đối với con chưa thành niên;
- Người giám hộ đối với người được giám hộ;
- Người đứng đầu đơn vị, cơ quan, tổ chức do được bổ nhiệm hoặc theo quy định của pháp luật;
- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;
- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với hợp tác xã;
- Những người khác theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, để khởi kiện vụ án hành chính thì cá nhân, tổ chức phải có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, hành vi bị kiện và việc khởi kiện phải được thực hiện bởi chủ thể có năng lực hành vi tố tụng hành chính. Cá nhân thực hiện hành vi khởi kiện vụ án hành chính phải bảo đảm năng lực hành vi tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 54 luật tố tụng hành chính 2015. Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: cá nhân có quyền khởi kiện từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự; cha mẹ người đỡ đầu; người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức; người được người có quyền khởi kiện ủy quyền.
THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
“thời hiệu” theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 được hiểu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Đối với Thời hiệu khởi kiện vụ hành chính, nội dung này được quy định tại Điều 116 luật tố tụng hành chính 2015. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
Trong quá trình đồ quyền lợi trong các sự việc liên quan đến hành chính, bao gồm cả khiếu nại hoặc khiếu kiện, thời hiệu là vấn đề cần được chú ý quan tâm. Bởi trong nhiều trường hợp, mặc dù có căn cứ trong khiếu kiện, khiếu nại nhưng vụ việc đã hết thời hiệu nên cũng làm mất đi quyền của người có quyền lợi.
Trên thực tế, việc đòi quyền lợi bằng cách khởi kiện vụ án hành chính hoặc khiếu nại hành chính là rất khó khăn vì liên quan đến cơ quan mang quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, có không ít những dự án, những công trình do việc áp dụng sai quy định pháp luật, thực hiện sai quy trình dẫn đến xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Chúng tôi đã cùng đồng hành và thành công đòi lại quyền lợi tối đa cho nhiều người dân tại bị ảnh hưởng bởi các quyết định/hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, nếu cần được tư vấn, hỗ trợ pháp lý hoặc đại diện tham gia tố tụng trong trường hợp bạn không may bị ảnh hưởng bởi quyết định hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời.