Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật

Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật Tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý, hướng đến mục tiêu cộng đồng cùng có nhận thức cơ bản về pháp luật

ĐÁNH BẠC NHIỀU LẦN NHƯNG MỖI LẦN CHỈ 1-2 TRIỆU CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?“Tôi thường xuyên đánh lô đề, đánh bài...
05/03/2026

ĐÁNH BẠC NHIỀU LẦN NHƯNG MỖI LẦN CHỈ 1-2 TRIỆU CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?

“Tôi thường xuyên đánh lô đề, đánh bài ăn tiền nhưng mỗi lần chỉ chơi một vài triệu thì có bị đi tù không?” Đây là băn khoăn mà tôi nhận được rất nhiều từ khách hàng khi liên hệ tư vấn. Bài viết này xin giải đáp thắc mắc và cung cấp thêm kiến thức pháp lý cho mọi người về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo quy định nguyên tắc như sau: Không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét.
Cụ thể:

- Tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng và không thuộc trường hợp đã bị kết án mà chưa được xoá án tích thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

- Tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần nào bằng hoặc trên 5.000.000 đồng thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

- Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần bằng hoặc trên 5.000.000 đồng thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”.

- Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần bằng hoặc trên 5.000.000 đồng và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”.

Căn cứ theo quy định trên, với các trường hợp đánh bạc nhiều lần nhưng mỗi lần đánh đều dưới 5.000.000 đồng thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên người đánh bạc sẽ bị xử phạt hành chính và lưu tiền sự. Nếu tiếp tục tái diễn hành vi đánh bạc thì dù số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, người đánh bạc vẫn sẽ bị khởi tố theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

HIỂU THẾ NÀO VỀ “TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH” TRONG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE?Điểm b Mục 1 Ch...
26/02/2026

HIỂU THẾ NÀO VỀ “TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH” TRONG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE?

Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn như sau:
“Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh”.
Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ để giải đáp về “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Qua quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, có thể xác định trường hợp người phạm tội bị kích động về tinh thần qua điều kiện sau:
1. Phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
2. Đối tượng chịu tác động bởi hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải là người phạm tội hoặc người thân thích, người quan hệ thân thiết với người phạm tội.
3. Hành vi trái pháp luật của người bị hại phải là nguyên nhân khiến người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần
4. Trạng thái tinh thần của người phạm tội phải ở trạng thái bị kích động mạnh.
5. Trong trường hợp cá biệt, hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể không nghiêm trọng nhưng mang tính chất lặp đi lặp lại, kéo dài gây ra sức áp bức nặng nề khiến tâm lý của người phạm tội bị ức chế ở mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi.
Tuy nhiên trên thực tế mỗi người sẽ có ngưỡng chịu đựng riêng và mỗi vụ việc sẽ có tính chất, hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy để đánh giá và xác định có hay không tình trạng tinh thần bị kích động mạnh cần xem xét vào từng trường hợp cụ thể.

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN𝐁𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝟏: Hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp ...
12/12/2025

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

𝐁𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝟏: Hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp (Cơ sở pháp lý: Điều 235 Luật Đất đai năm 2024, điểm e khoản 1 Điều 17 Nghị định 151/2025/NĐ-CP)
- Một trong các bên nộp đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai đến UBND cấp xã.
- Chủ tịch UBND cấp xã thành lập Hội đồng hòa giải.
- Tổ chức hòa giải trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia và có xác nhận hòa giải thành hoặc không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã.
- Trường hợp hòa giải thành và có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, các bên tham gia hòa giải gửi văn bản đến cơ quan chức năng để đăng ký, cấp GCNQSDĐ theo quy định.

𝐁𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝟐: Yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai theo thẩm quyền (Cơ sở pháp lý: Điều 236 điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Tranh chấp đất đai mà các bên có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì do Tòa án giải quyết.
Tranh chấp đai đai mà các bên không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được lựa chọn 1 trong 2 hình thức giải quyết sau:
+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp:
Chủ tịch UBND cấp xã ban hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định mà các bên không khởi kiện hoặc khiếu nại thì Quyết định có hiệu lực thi hành. Nếu không đồng ý với Quyết định giải quyết thì trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định, các bên có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hoặc khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.
+ Khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền:
Nộp hồ sơ khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án khu vực nơi có đất tranh chấp. Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤTKhoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc...
30/10/2025

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”
Theo quy định này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ phát sinh hiệu lực khi một trong các bên tiến hành thủ tục đăng ký biến động và thông tin giao dịch được ghi nhận tại sổ địa chính. Điều này đã dẫn đến một số tranh chấp khi một bên trong giao dịch chết trước khi đăng ký biến động. Trong trường hợp đó, hợp đồng sẽ chấm dứt trước khi có hiệu lực, giao dịch không thể thực hiện.

Tuy nhiên Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/8/2024 đã bãi bỏ quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lúc này việc xác định thời điểm hợp đồng có hiệu lực sẽ căn cứ theo các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực (điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024) nên chúng ta sẽ áp dụng Luật Công chứng để xác định thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực. Cụ thể khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 64 Luật Công chứng năm 2024 quy định: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu vào văn bản; trường hợp là văn bản công chứng điện tử thì có hiệu lực kể từ thời điểm được ký bằng chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của tổ chức hành nghề công chứng.
Theo đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ phát sinh ngay sau khi công chứng, chứng thực mà không phải chờ đến khi đăng ký biến động đất đai. Việc Luật Đất đai năm 2024 bỏ đi quy định về việc đăng ký đất đai có hiệu lực kể từ thời điểm ghi vào sổ địa chính góp phần thống nhất quy định giữa các văn bản quy phạm pháp luật, phòng ngừa tranh chấp phát sinh trong trường hợp một bên trong quan hệ hợp đồng chết trước khi tài sản được đăng ký sang tên.

RA ĐI “TAY TRẮNG” KHI LY HÔN VÌ NGHĨ ĐỂ LẠI TÀI SẢN CHO CON – NÊN HAY KHÔNG?Trong quá trình làm nghề mình gặp nhiều khác...
27/10/2025

RA ĐI “TAY TRẮNG” KHI LY HÔN VÌ NGHĨ ĐỂ LẠI TÀI SẢN CHO CON – NÊN HAY KHÔNG?

Trong quá trình làm nghề mình gặp nhiều khách hàng chấp nhận từ bỏ quyền tài sản của mình khi ly hôn vì nghĩ sau này tài sản cũng sẽ thuộc về con nhưng kết quả là bản thân mất tài sản mà con cũng không nhận được gì.
Về bản chất, tại thời điểm bạn ký hợp đồng tặng cho hoặc thỏa thuận giao tài sản cho vợ/chồng trước sự công nhận của Tòa án tức là quyền lợi của bạn đối với tài sản sẽ chấm dứt. Tài sản hoàn toàn thuộc về người kia và họ được tự do định đoạt tài sản. Đặc biệt là người kia đi bước nữa, có gia đình mới thì không thể tránh được khả năng họ sẽ dành tài sản đó cho vợ mới, con riêng. Hệ quả con bạn không nhận được tài sản là hoàn toàn có thể xảy ra. Tóm lại khi bạn đã từ bỏ quyền tài sản của mình thì vợ/chồng bạn có toàn quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc đơn giản là giữ tài sản cho riêng họ mà bạn không thể can thiệp.
Đây là lý do bạn không nên nhường lại tài sản của mình trong khối tài sản chung cho vợ/chồng khi ly hôn. Nếu muốn dành tài sản cho con cái, hai vợ chồng nên lựa chọn 1 trong 2 phương án sau:
1. Hai vợ chồng cùng ký kết hợp đồng tặng cho tài sản cho con, để con đứng tên tài sản;
2. Yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận phân chia hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản theo quy định pháp luật. Trên cơ sở Quyết định/Bản án của Tòa án đã xác định rõ phần tài sản của mỗi bên, bạn có thể tặng phần tài sản riêng của mình cho con.

HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO MẪU IN SẴN – RỦI RO PHÁP LÝ TIỀM TÀNGCó thể ít nhất một lần bạn đã...
22/10/2025

HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO MẪU IN SẴN – RỦI RO PHÁP LÝ TIỀM TÀNG

Có thể ít nhất một lần bạn đã nhìn thấy mẫu hợp đồng đặt cọc này, thậm chí bạn có thể dễ dàng mua mẫu hợp đồng này trên các sàn thương mại điện tử. Mẫu hợp đồng này có ưu điểm là nhanh gọn, dễ áp dụng nhưng ẩn sau sự tiện lợi ấy là vô số rủi ro pháp lý khiến các bên rơi vào tranh chấp pháp lý đáng tiếc.
Bài viết này mình sẽ phân tích nhược điểm của loại hợp đồng này:

1. Về chủ thể hợp đồng:
Mình đã xem qua rất nhiều mẫu hợp đồng đặt cọc dạng này và thấy 1 điểm chung là bên nhận đặt cọc sẽ có 2 chủ thể nhưng với bên đặt cọc, người làm chứng chỉ có 1 chủ thể. Trên thực tế chủ thể tham gia giao dịch sẽ không chỉ giới hạn ở 1 cá nhân/tổ chức. Nếu bên đặt cọc là 1 cặp vợ chồng, 1 nhóm người góp vốn đầu tư chung,... thì thông tin của họ cũng cần được ghi nhận đầy đủ tại hợp đồng đặt cọc.

2. Sai về đối tượng hợp đồng
Điều 1 Hợp đồng quy định về “TÀI SẢN ĐẶT CỌC” nhưng ở nội dung mẫu lại liệt kê thông tin về thửa đất – đây là lỗi sai khi không xác định chính xác đối tượng hợp đồng. Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015: Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao tài sản đặt cọc cho bên kia bên nhận đặt cọc trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Như vậy trong giao dịch đặt cọc, tài sản đặt cọc chính là khoản tiền mà bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc chứ không phải là “thửa đất” như hợp đồng mẫu thể hiện. Quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng, không phải đối tượng của hợp đồng đặt cọc.

3. Sử dụng sai thuật ngữ pháp lý, từ ngữ “đóng khung”, thiếu linh hoạt, tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao
Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện quản lý, các cá nhân, tổ chức sẽ chỉ được nhà nước giao quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu đất đai. Vì vậy với các giao dịch đất đai, pháp luật sẽ sử dụng thuật ngữ “chuyển nhượng quyền sử dụng đất/nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” chứ không phải “bán đất/mua đất”. Do đó hợp đồng mẫu dùng từ như “bên bán”, “bên mua”, “giá bán”,… là không hợp lý. Mặt khác, do đây là hợp đồng đặt cọc nên chủ thể của hợp đồng nên là bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc.
Không chỉ mắc lỗi trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý, nhiều mẫu hợp đồng còn đẩy các bên vào rủi ro bởi ngôn từ vừa cứng nhắc vừa mơ hồ - đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tranh chấp nảy sinh. VD, về chế tài xử lý khi vi phạm hợp đồng: “Bên A sẽ phải trả lại số tiền Bên B đã đặt cọc và bồi thường gấp … lần số tiền Bên B đã đặt cọc. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là … đồng”.
Vấn đề phát sinh nằm ở cụm từ “bồi thường gấp … lần”. Tôi đã gặp nhiều trường hợp khách hàng thỏa thuận đặt cọc 100 triệu, phạt cọc 100 triệu nhưng lại điền trong hợp đồng đặt cọc là “bồi thường gấp 2 lần” rồi tính tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là 200 triệu. Nhưng nếu tính bồi thường gấp 2 tức là riêng khoản bồi thường đã là 100 triệu x 2 = 200 triệu. Tổng số tiền Bên A phải trả là 300 triệu. Rõ ràng việc đóng khung từ ngữ đã dẫn đến sự bất nhất về nội dung hợp đồng. Đây chính là điểm tai hại của hợp đồng mẫu gây ra các tranh chấp pháp lý giữa các bên.

4. Không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Có vẻ người soạn thảo văn bản đã cố gắng thu gọn nội dung cho vừa 1 trang A4 nên các điều khoản hết sức sơ sài, đặc biệt là không có điều khoản cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên có nhiều người nghĩ rằng bản thân toàn bộ hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch rồi, việc soạn điều khoản riêng là không cần thiết. Nhưng với thực tiễn hành nghề luật sư tranh tụng, tôi thấy nên có điều khoản riêng liệt kê từng quyền, nghĩa vụ của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc. Việc này không chỉ giúp các bên dễ dàng nắm bắt quyền lợi và nghĩa vụ của bản thân, mà còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng thuận tiện hơn trong việc xác định lỗi và hành vi vi phạm nếu có tranh chấp phát sinh.

5. Áp dụng máy móc nội dung mẫu khiến các bên không thể tự do thỏa thuận
Vì hợp đồng mẫu thường được soạn sẵn với các trường thông tin cố định nên các bên buộc phải điền dữ liệu theo khung có sẵn mà không được tự do điều chỉnh. Hệ quả là nhiều điều khoản trong hợp đồng trở nên khiên cưỡng, không phản ánh đúng thực tế giao dịch. Thực tế cho thấy, mỗi thửa đất, mỗi chủ thể và mỗi giao dịch đều có những đặc thù riêng, nên việc sử dụng 1 mẫu hợp đồng áp cho mọi trường hợp là cách làm tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Lời khuyên đưa ra là trước khi xác lập giao dịch các bên nên trao đổi cụ thể và thống nhất các nội dung đặt cọc. Sau đó, dựa trên kết quả thỏa thuận đã thống nhất mới tiến hành soạn thảo hợp đồng đặt cọc để đảm bảo tính hợp lý, khách quan và hiệu lực pháp lý của hợp đồng.

PHẦN 2: NGÂN HÀNG CÓ PHẢI NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH?Tiếp nối bài viết “Hậu quả pháp lý khi ký hợp đồng chuyển nhượng tài sả...
22/08/2025

PHẦN 2: NGÂN HÀNG CÓ PHẢI NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH?

Tiếp nối bài viết “Hậu quả pháp lý khi ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản để che giấu giao dịch vay nợ”, hôm nay chúng ta đi sâu hơn về trường hợp tài sản đã chuyển giao cho người thứ ba thông qua giao dịch thế chấp tài sản để vay Ngân hàng. Khi này hợp đồng thế chấp tài sản xác lập với Ngân hàng có bị vô hiệu hay không?

Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.”

Như đã nhắc ở bài trước, thay vì xác lập hợp đồng vay tài sản, bên cho vay sẽ yêu cầu bên vay ký hợp đồng chuyển nhượng bất động sản và tiến hành thủ tục đăng ký biến động đất đai. Sau khi đứng tên GCN, bên cho vay được toàn quyền định đoạt tài sản. Nhiều trường hợp lựa chọn thế chấp tài sản để vay tiền Ngân hàng (bản chất bên cho vay chỉ bỏ ra 1 khoản tiền nhỏ để chiếm tài sản của bên cho vay, trong khi thế chấp tài sản Ngân hàng lại có thể được giải ngân khoản tiền tương ứng với 70-75% giá trị tài sản, tóm lại bên cho vay được lời rất nhiều từ phương thức này).
Để thực hiện thủ tục vay, Ngân hàng sẽ yêu cầu bên vay thế chấp tài sản. Sau khi hợp đồng thế chấp được công chứng, Ngân hàng sẽ đăng ký thủ tục thế chấp tại cơ quan chức năng. Căn cứ theo khoản 2 Điều 133 BLDS, khi Ngân hàng là bên thứ ba ngay tình, hợp đồng thế chấp vẫn sẽ có hiệu lực pháp luật. Trên cơ sở đó, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng sẽ kê biên tài sản để xử lý nợ.
Tuy nhiên nếu đủ căn cứ chứng minh Ngân hàng “không ngay tình” thì hợp đồng thế chấp vẫn có thể bị tuyên vô hiệu. Cụ thể trước khi nhận thế chấp, Ngân hàng bắt buộc phải thẩm định tài sản. Hoạt động này nhằm mục đích xác minh pháp lý và tình trạng thực tế của tài sản thế chấp, xác định ai đang sinh sống, quản lý, sử dụng đất, việc thế chấp tài sản có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hay không, trên đất có công trình, tài sản gì khác… Nhưng thực tế có nhiều vụ việc Ngân hàng không thực hiện thủ tục thẩm định hoặc chỉ thực hiện thủ tục hình thức, không kiểm tra chi tiết, cố tình làm qua loa để hồ sơ vay được phê duyệt. Trong trường hợp này Tòa án hoàn toàn có thể tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

PHẦN 1: HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI KÝ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN ĐỂ CHE GIẤU GIAO DỊCH VAY NỢGiao dịch giả tạo trong quan h...
12/08/2025

PHẦN 1: HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI KÝ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN ĐỂ CHE GIẤU GIAO DỊCH VAY NỢ

Giao dịch giả tạo trong quan hệ vay tài sản diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là khi vay nợ với các bên tín dụng đen. Cụ thể: Thay vì xác lập hợp đồng vay, bên cho vay yêu cầu
bên vay phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, xe cộ,… Bằng cách này, bên cho vay có thể đăng ký sang tên và toàn quyền sở hữu tài sản. Mục đích bên ngoài nhằm ràng buộc trách nhiệm trả nợ của bên vay nhưng lý do sâu xa bên trong là để bên vay có thể dễ dàng thâu tóm và chiếm đoạt tài sản của bên cho vay.

Căn cứ khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”.
Theo quy định này, hợp đồng chuyển nhượng tài sản (giao dịch giả tạo) sẽ bị tuyên vô hiệu và giao dịch vay nợ (giao dịch bị che dấu) sẽ có hiệu lực pháp lý. Bên cho vay phải hoàn trả tài sản cho bên vay, đổi lại, bên vay có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ và lãi phát sinh (nếu có).

Nhưng thực tế xét xử cho thấy trong hầu hết các vụ án, bên cho vay là người thắng kiện. Lý do tại sao?
1. Không có tài liệu, chứng cứ chứng minh giao dịch thực tế là giao dịch vay nợ
Như đã phân tích ở trên, với ý chí thâu tóm tài sản của bên vay, bên cho vay đã lên kế hoạch từ trước nên sẽ không ký kết hợp đồng vay cũng như lập các văn bản, tài liệu ghi nhận giao dịch vay nợ. Điều này khiến bên vay không thể chứng minh bản chất quan hệ giữa các bên là giao dịch vay nợ và hợp đồng chuyển nhượng tài sản là giả tạo. Trong vụ án dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên có yêu cầu. Khi không thể cung cấp chứng cứ cho Tòa án thì yêu cầu của bên vay sẽ bị bác bỏ.
2. Tài sản bị chuyển nhượng cho chủ thể khác, cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình ngăn cản bên vay lấy lại tài sản
Đây là phiên bản “nâng cấp” hơn so với việc chỉ lập giao dịch chuyển nhượng giả tạo. Cụ thể: Sau khi sang tên GCNQSDĐ/giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản, bên cho vay sẽ tiếp tục thực hiện giao dịch chuyển nhượng hoặc thế chấp tài sản cho người khác. Như vậy bên mua/bên nhận thế chấp sẽ được xác định là người thứ ba ngay tình. Và pháp luật luôn ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, dẫn đến hệ quả là chủ tài sản khó có thể đòi lại tài sản của mình.

Bài học rút ra: Xác lập hợp đồng theo đúng thực tế giao dịch. Tuyệt đối không ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản khi bản chất giao dịch giữa các bên chỉ là vay tài sản.
Trường hợp bên cho vay yêu cầu phải có biện pháp bảo đảm cho khoản vay, hãy ký hợp đồng thế chấp công chứng. Bằng cách này, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên vay và nghĩa vụ thanh toán cũng được đảm bảo.

Vấn đề pháp lý: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông A, bà B có tạo lập được tài sản chung là thửa đất diện tích 800m2. ...
04/08/2025

Vấn đề pháp lý: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông A, bà B có tạo lập được tài sản chung là thửa đất diện tích 800m2. Hai người có với nhau 03 người con chung là X, Y và Z. Năm 2010, ông A chết, không để lại di chúc. X và Y kết hôn và chuyển đi nơi khác sinh sống. Z ở cùng và chịu trách nhiệm chăm sóc mẹ. Năm 2011, Bà B lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho Z. Di chúc do bà B tự nguyện lập dưới sự làm chứng của 02 người hàng xóm. Năm 2025, bà B chết. Z công khai di chúc của bà B. X và Y không đồng ý nội dung di chúc này và yêu cầu phải chia đều. Hai bên mâu thuẫn gay gắt, X và Y khởi kiện Z tại Tòa án nhân dân khu vực yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật.

Bình luận: Nhà đất là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, do công sức của hai vợ chồng cùng đóng góp nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.”
Theo quy định này, vợ và chồng đều có quyền đối với tài sản chung và việc định đoạt tài sản chung phải được sự thống nhất ý chí của hai vợ chồng. Về cơ bản, nếu không có sự chênh lệch trong công sức đóng góp tạo lập tài sản, mỗi người sẽ được ½ tài sản. Ông A chết không để lại di chúc, phần tài sản của ông A sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ 1: Bố mẹ (nếu còn sống), vợ và con. Trường hợp bố mẹ của ông A chết trước ông A thì những người thừa kế gồm: Bà B và X, Y, Z. Như vậy tổng tài sản của bà B gồm ½ thửa đất và suất thừa kế nhận từ chồng.
Bà B lập di chúc để lại thửa đất 800m2 cho Z. Nhưng như đã phân tích ở trên, bà B chỉ có quyền định đoạt đối với một phần tài sản. Việc bà B đơn phương định đoạt toàn bộ thửa đất là vượt quá phạm vi quyền tài sản của bản thân. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả di chúc của bà B sẽ bị vô hiệu.
Vậy di chúc của bà B chỉ vô hiệu 1 phần hay vô hiệu toàn bộ?
Thực tiễn xét xử với trường hợp như này đang tồn tại nhiều luồng quan điểm khác nhau. Có cơ quan tố tụng xác định di chúc vô hiệu toàn bộ và chia thừa kế thửa đất 800m2 theo quy định pháp luật. Cũng có cơ quan tố tụng cho rằng di chúc của bà B chỉ vô hiệu một phần vì đánh giá một cách khái quát, nguyện vọng của bà B là để lại toàn bộ di sản của mình cho Z. Tuy bà B không thể để lại cả thửa đất 800m2 cho Z nhưng bà có quyền định đoạt trong phạm vi tài sản của mình là 500m2. Theo đó Tòa án sẽ áp dụng khoản 4 Điều 463 Bộ luật Dân sự để công nhận nguyện vọng của bà B trong việc để lại phần tài sản của mình cho Z và tuyên vô hiệu với phần vượt quá. Phần vượt quá này sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B là X, Y, Z.
Theo quan điểm cá nhân, với trường hợp này cần tuyên vô hiệu toàn bộ vì lý do sau:
Tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, không thể phân chia rõ ràng ông A phần này, bà B phần kia. Vì vậy khi cơ quan tố tụng công nhận di chúc có hiệu lực một phần (đối với phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu của bà B) thì sẽ phát sinh vấn đề khó xử lý trong việc xác định vị trí phần tài sản của bà B trong thửa đất. Trong cùng một thửa đất nhưng sẽ có phần đất vị trí đẹp hơn (gần mặt đường) hoặc thuộc loại đất khác (đất phi nông nghiệp) dẫn đến giá trị của phần đất này cao hơn so với những phần đất khác. Do giá trị các phần đất trong cùng một thửa không bằng nhau nên khi xác định phần đất của bà B ở bất kỳ vị trí nào cũng sẽ dẫn đến ý kiến phản đối của các bên. Vì vậy để việc phân chia di sản được công bằng thì nên tuyên vô hiệu toàn bộ đối với di chúc của bà B, chia thừa kế di sản của vợ chồng ông A và bà B theo quy định pháp luật. Ngoài ra Tòa án nên xem xét chia cho Z được hưởng thêm một phần công sức chăm sóc, phụng dưỡng mẹ, quản lý, duy trì di sản.

NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ ĐƯỢC NHẬN CẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC VÀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP KHI CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG? Căn cứ Điều 46 ...
31/07/2025

NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ ĐƯỢC NHẬN CẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC VÀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP KHI CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG?

Căn cứ Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, khi hợp đồng lao động (HĐLĐ) chấm dứt thì người sử dụng lao động (NSDLĐ) có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động (NLĐ) đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu và trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc trở lên.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Theo tinh thần điều luật này thì ngoài bảo hiểm thất nghiệp, NLĐ vẫn sẽ được cả hưởng trợ cấp thôi việc nếu phát sinh những khoảng thời gian làm việc mà không đóng bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể:
- Thời gian thử việc;
- Thời gian NLĐ không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng;
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng;
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.

Như vậy, NLĐ được hưởng đồng thời cả trợ cấp và bảo hiểm thất nghiệp khi:
- Có thời gian thử việc;
- Nghỉ việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thuộc trường hợp: Nghỉ không hưởng lương, nghỉ chế độ thai sản hoặc nghỉ chế độ ốm đau.

Q: Chồng tôi đã bỏ nhà đi biệt tích hơn 10 năm, không liên lạc với vợ, gia đình, bạn bè. Tôi đã dùng mọi biện pháp tìm k...
30/07/2025

Q: Chồng tôi đã bỏ nhà đi biệt tích hơn 10 năm, không liên lạc với vợ, gia đình, bạn bè. Tôi đã dùng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả. Hiện tại tôi đang dự định mua nhà. Vậy tôi cần làm gì để tránh trường hợp sau này chồng tôi trở về sẽ phải chia tài sản cho chồng.
A: Về bản chất, hai người vẫn đang ràng buộc với nhau bởi quan hệ hôn nhân, những tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy khi quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt, chồng bạn có quyền yêu cầu phân chia tài sản chung nên lo lắng của bạn là hoàn toàn hợp lý. Trong trường hợp này bạn có thể xem xét 3 phương án sau đây:
1. Yêu cầu tuyên bố người chồng mất tích rồi tiến hành thủ tục ly hôn. Sau khi hoàn tất thủ tục ly hôn mới giao dịch mua bán nhà đất.
Đây là phương án chắc chắn về mặt pháp lý nhất. Tuy nhiên sẽ tốn nhiều thời gian, công sức cho việc thực hiện thủ tục tại Tòa án.
2. Yêu cầu tuyên bố người chồng đã chết
Đây là một phương án có thể thực hiện nhưng không khuyến khích bởi quy trình tuyên bố một người là đã chết tương đối phức tạp, tốn thời gian. Để tuyên bố một người là đã chết thì trước tiên phải tiến hành thủ tục tuyên bố mất tích. Sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống thì mới được tiếp tục yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó đã chết. Ngoài ra, khi thực hiện phương án này cần xem xét thái độ của gia đình nhà chồng vì không phải ai cũng có thể chấp nhận việc người thân của mình bị coi là “đã chết”.
3. Nhờ người thân thay mặt xác lập giao dịch mua bán. Sau đó tiến hành thủ tục tặng cho và sang tên GCNQSDĐ lại cho bạn
Đây là phương án đơn giản, nhanh gọn nhất đồng thời cũng rủi ro nhất. Trong trường hợp người được nhờ lợi dụng việc thay mặt giao dịch, chiếm giữ quyền tài sản thì chắc chắn tranh chấp sẽ xảy ra. Nếu không có chứng cứ rõ ràng chứng minh việc nhờ giao dịch mua nhà/đứng tên hộ tài sản thì khả năng mất tài sản cực lớn.

ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2025 VỀ TỘI PHẠM MA TÚY1. Bổ sung tội sử dụng trái phép chất ma túyCăn...
28/07/2025

ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2025 VỀ TỘI PHẠM MA TÚY
1. Bổ sung tội sử dụng trái phép chất ma túy
Căn cứ khoản 20 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 đã bổ sung Điều 256a quy định về tội sử dụng trái phép chất ma túy. Theo đó, một người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn cai nghiện/ đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện/ đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày kết thời hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy/ đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiên bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy 2021.
2. Điều chỉnh khối lượng, thể tích chất ma túy Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, M**A hoặc XLR-11 định khung hình phạt theo hướng phân hóa chi tiết hơn và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.
Nếu theo BLHS năm 2015, chỉ cần khối lượng Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, M**A hoặc XLR-11 từ 100 gam trở lên, người phạm tội sẽ bị khởi tố theo khung hình phạt cao nhất và đối diện với mức án phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình thì BLHS sửa đổi bổ sung đã nâng mức định lượng ma túy cho mỗi khung khoản lên cao hơn. Lấy ví dụ cụ thể với tội mua bán trái phép chất ma túy:
Khoản 1: Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Khoản 2: Phạt tù 07 năm đến 15 năm đối với hành vi mua bán Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, M**A hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.
Khoản 3: Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm đối với hành vi mua bán Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, M**A hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
Khoản 4: Phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân đối với hành vi mua bán Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, M**A hoặc XLR-11 có khối lượng từ 100 gam đến dưới 03 kg;
Khoản 5: Phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với hành vi mua bán trái phép Heroine, Co***ne, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, M**A hoặc XLR-11 có khối lượng 03 kg trở lên.
Xét riêng khung hình phạt cao nhất, định lượng ban đầu là 100gam thay đổi lên 03 kg. Như vậy đã có sự thay đổi rõ rệt về khối lượng ma túy định khung hình phạt, tạo điều kiện cho nhiều người phạm tội bị tuyên án tử có cơ hội thay đổi hình phạt về án chung thân.

Address

Cau Giay
Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00

Telephone

+84813541916

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn & hỗ trợ pháp lý - Cộng đồng hiểu luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share