17/10/2024
HIỂU THẾ NÀO VỀ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA VĂN BẢN 1003 CỦA CỤC DI SẢN?
Bên cạnh vấn đề sai lầm về diễn giải, áp dụng quy phạm pháp luật vào giải quyết tình huống Phủ Vân Cát liên hệ với Viện nghiên cứu Hán Nôm khôi phục lại nội dung sắc phong thu thập từ năm 1938 (nhóm tư liệu AD.a16/29), văn bản số 1003 về hình thức chỉ là một bản ý kiến của Cục với tư cách cơ quan quản lý nhà nước được hỏi, nhưng nội dung lại chứa những yếu tố có tính quy phạm bắt buộc. Đây là vấn đề nghiêm trọng hơn, vì một văn bản chỉ được coi là hợp pháp trước hết phải đảm bảo rằng cơ quan ban hành nó phải có thẩm quyền phù hợp.
Vậy điều đó thể hiện như thế nào trong văn bản của Cục Di sản?.
Như đã nói, về hình thức, đây là văn bản thể hiện ý kiến. Nhưng tại mục 3 có thể hiện một nội dung không thuần tuý là ý kiến:
3. Cục Di sản văn hoá đề nghị Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định dừng việc phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong việc làm mới các sắc phong nêu trên và chỉ đạo cơ quan chức năng hướng dẫn chính quyền địa phương không tổ chức tiếp nhận các hiện vật làm mới này vào di tích hoặc sử dụng vì mục đích bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Trường hợp các sắc phong mới đã được làm xong, đề nghị Sở chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm tra, huỷ bỏ để không làm sai lệch di sản văn hoá.”
Trong nội dung này, hai đối tượng bị xem xét tới là hành vi “phối hợp với Viện NCHN làm mới các sắc phong” và “tổ chức tiếp nhận các hiện vật làm mới vào di tích”. Đồng thời, Cục Di sản cũng đưa ra một yêu cầu, nhưng thực chất là một lệnh gián tiếp đối với Sở Văn hoá Nam Định: yêu cầu tiêu huỷ các sắc phong phục chế dưới hình thức mới.
Đối tượng thứ nhất: hành vi phối hợp của một cá nhân, tổ chức với Viện Nghiên cứu Hán Nôm để khai thác, sử dụng một hay một số tài liệu trong phạm vi quản lý của Viện là công việc có tính phổ biến, tuỳ nghi vào nhu cầu của cá nhân, tổ chức và là hành vi thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ của bất kỳ cơ quan nghiên cứu chuyên môn nào. Do đó, xét về tính chất, đây là một hành vi phổ biến được thực hiện bởi những chủ thể có tính khái quát. Do vậy, đây là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn bản của Cục Di sản. Bất kỳ quy phạm nào can thiệp vào hành vi và nhóm đối tượng này cũng đồng nghĩa với việc can đưa ra một quy tắc xử sự bắt buộc chung, nghĩa là đều có tính chất bắt buộc mọi hành vi phối hợp của một viện nghiên cứu chuyên môn với một cá nhân, tổ chức khác, không phải riêng cho Phủ Vân Cát.
Đối tượng thứ hai: tổ chức tiếp nhận các hiện vật mới vào di tích. Tương tự hành vi thứ nhất, trong nhiều năm qua và cả hiện tại, theo chức năng nhiệm vụ của Viện nghiên cứu Hán Nôm, việc phục chế các sắc phong trên cơ sở tư liệu phục vụ cho việc bổ túc vào di tích, làm phong phú và tôn vinh thêm giá trị các di tích lịch sử và sử dụng kho tư liệu Hán Nôm (dưới dạng tài sản công không bị hạn chế tiếp cận, khai thác) theo đúng tinh thần “nhân dân là chủ thể sáng tạo, hưởng thụ văn hoá”. – đã và đang diễn ra một cách công khai, minh bạch và không hề có bất cứ quy định nào của pháp luật cấm thực hiện. Với tính chất tương tự, việc phủ Vân Cát liên hệ phục chế, tổ chức tiếp nhận hiện vật nếu các hiện vật này được Viện Nghiên cứu Hán Nôm sử dụng, hiệu đính khoa học cũng là một việc làm chính thống. Việc ban hành một lệnh cấm hành vi này, cũng đồng nghĩa với việc ban hành ra một quy phạm mới cấm đoán toàn bộ những hành vi tương tự, đã và sẽ diễn ra trong tương lai.
Để rõ hơn, xin tham khảo định nghĩa về QPPL và đối tượng chịu tác động của QPPL:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
2. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.”
Qua các phân tích này, chúng ta thấy được nội dung của văn bản 1003 gây tác động lên một nhóm hành vi phổ biến, thực chất là một văn bản có chứa đựng QPPL. Điều đó bắt buộc phải xem xét về vấn đề thẩm quyền ban hành văn bản QPPL.
Tại chương II, Luật Ban hành văn bản QPPL, các chủ thể ban hành văn bản chứa đựng QPPL được thể hiện từ điều 15-điều 30. Thẩm quyền cao nhất là Quốc hội với việc ban hành Luật và Nghị Quyết (điều 15); thấp nhất trong nhóm các cơ quan này là Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Điều này có nghĩa, chỉ có các cơ quan quyền lực nhà nước ở các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương mới là các chủ thể có quyền ban hành văn bản QPPL. Trong chương này có nhắc tới Bộ VHTT&DL và theo thẩm quyền, chỉ có bộ mới có quyền ban hành văn bản QPPL.
Điều này cũng có nghĩa rằng, Cục Di sản hoàn toàn không có thẩm quyền ra lệnh cho Sở Văn hoá Nam Định hay bất kỳ chủ thể nào khác thực hiện một việc làm kỳ lạ là “kiểm tra, huỷ bỏ để không làm sai lệch di sản văn hoá” đối với các sắc phong phục chế.
Đến đây cũng không thể không nhắc đến trên thực tế, chính Sở Văn Hoá Nam Định là cơ quan đầu mối liên hệ với Viện Nghiên cứu Hán Nôm để phủ Vân Cát triển khai việc đề nghị Viện này sao lục, hiệu đính, phục chế dưới hình thức mới các sắc phong trong nhóm tư liệu AD.a16/29 đang lưu giữ bảo quản tại đây. Điều đó có nghĩa rằng toàn bộ các công việc triển khai nhằm khôi phục hệ thống tư liệu sắc phong thành hệ thống sắc phong hiện vật với hình thức mới của Phủ Vân Cát là hoàn toàn phù hợp với quy định của luật pháp hiện hành.
Và như chúng tôi đã phân tích, các điều luật mà văn bản 1003 viện dẫn gồm điều 4, điều 34, 35 và 41 của Luật Di sản không điều chỉnh đến nhóm đối tượng này vì tư liệu sắc phong AD.a16/29 không phải là “di tích” càng không phải là “di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. Cùng với đó, với vi phạm về thẩm quyền ban hành văn bản, văn bản số 1003 của Cục Di sản là không có giá trị pháp lý.