Công ty Luật TNHH VietNew

Công ty Luật TNHH VietNew Dịch vụ tư vấn pháp lý; Tham gia tố tụng; Đại diện cho đương sự trong - ngoài tố tụng

✨✨Chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp------------------------------------------...
17/06/2025

✨✨Chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp
------------------------------------------------
✅Sáng 17/6, với 455/457 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp gồm 3 Điều. Một trong những sửa đổi, bổ sung quan trọng vào Luật là: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này”; “Kê khai giả mạo, kê khai không trung thực, kê khai không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”; “Kê khai khống vốn điều lệ thông qua hành vi không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký mà không thực hiện đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định của pháp luật; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị”.
Luật cũng sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 17 như sau: Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 “b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”;
Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2: “e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng”;
Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 3: “b) Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”...
Trước đó, trình bày Báo cáo việc tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, về các quy định liên quan đến “chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp", Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính và nhiều đại biểu Quốc hội tán thành quy định khái niệm “chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp" theo hướng khái quát, quy định nguyên tắc chung.
✅Chính phủ tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội đối với các góp ý mang tính kỹ thuật về trách nhiệm thu thập, lưu giữ, cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp của doanh nghiệp và nội dung quy định giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể về tiêu chí để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, chế tài xử lý vi phạm khi không cung cấp thông tin theo quy định...
Đối với một số ý kiến đề nghị bổ sung điều khoản chuyển tiếp quy định về thời hạn cụ thể doanh nghiệp đã thành lập trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành phải bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, Chính phủ tiếp thu và sửa đổi theo hướng việc bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp được thực hiện đồng thời tại thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
Dự thảo Luật không quy định thời hạn cụ thể doanh nghiệp đã thành lập trước thời điểm Luật này có hiệu lực phải cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp cho cơ quan đăng ký kinh doanh.
Về bổ sung đối tượng viên chức được tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp, tiếp thu ý kiến của một số đại biểu Quốc hội đề nghị rà soát để bảo đảm các quy định về đối tượng thành lập, góp vốn và quản lý doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp đồng bộ, thống nhất với Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo và Nghị quyết số 193/2025/QH15. Theo đó, dự thảo Luật đã sửa đổi điểm b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp theo hướng quy định đối tượng không được thành lập, góp vốn và quản lý doanh nghiệp bao gồm công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.
Nguồn: Báo điện tử chính phủ
Xây dựng chính sách, pháp luật.
-----------------------------------
🎁Mọi thắc mắc Quý khách hàng vui lòng liên hệ theo thông tin sau:
🔑Group Facebook: Tư vấn pháp luật 24/24
☎Điện thoại: 0833217989 – 0399613939 – 0912965339
✉Email: [email protected]

👏👏Hà Nội nhận 100% hồ sơ cấp phép xây dựng trực tuyến từ 9/6🎁Từ ngày 9/6, toàn bộ thủ tục hành chính lĩnh vực xây dựng t...
09/06/2025

👏👏Hà Nội nhận 100% hồ sơ cấp phép xây dựng trực tuyến từ 9/6
🎁Từ ngày 9/6, toàn bộ thủ tục hành chính lĩnh vực xây dựng tại Hà Nội được chuyển sang trực tuyến, gồm cấp giấy phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo.

🏡Trung tâm Phục vụ hành chính công Hà Nội cho biết sẽ tiếp nhận 100% hồ sơ theo hình thức trực tuyến và trực tuyến toàn trình (full online public service) với các thủ tục thuộc lĩnh vực xây dựng.

👉Các thủ tục gồm cấp giấy phép hoạt động xây dựng; sửa chữa, cải tạo; điều chỉnh giấy phép xây dựng; gia hạn... Nhà ở riêng lẻ, công trình đặc biệt, cấp I, II, III và IV trong diện thực hiện thủ tục trực tuyến này.

👉Theo quy định, các công trình xây dựng được chia thành 5 cấp dựa trên quy mô công suất, kết cấu. Theo đó công trình đặc biệt có chiều cao trên 200 m, cao hơn 50 tầng. Công trình cấp IV có quy mô nhỏ nhất với chiều cao dưới 6 m, một tầng và tổng diện tích sàn dưới 1.000 m2.

👉Người dân, doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến được miễn lệ phí tới hết năm nay và hỗ trợ chi phí trả kết quả tận nơi (26.000 đồng một lượt).
🔑Các bước nộp hồ sơ trực tuyến
Bước 1: Truy cập hệ thống Thông tin giải quyết thủ tục hành chính của thành phố tại https://dichvucong.hanoi.gov.vn/
Bước 2: Đăng nhập bằng tài khoản VNeID hoặc qua cổng quốc gia
Bước 3: Chọn thẻ "Dịch vụ công trực tuyến", nhập tên thủ tục tại ô tra cứu
Bước 4: Lựa chọn thủ tục tương ứng với nhu cầu, bấm "Nộp hồ sơ"
Bước 5: Chọn cơ quan và đối tượng thực hiện
Bước 6: Nhập các trường thông tin định danh còn thiếu
Bước 7: Tải thành phần hồ sơ lên hệ thống
Bước 8: Nhập các trường thông tin để nhận kết quả bản giấy tại nhà
Bước 9: Sau khi nộp trực tuyến, hồ sơ bản giấy cần được gửi tới chi nhánh của trung tâm. Các hồ sơ hợp lệ sẽ được tiếp nhận, xử lý.

📌Theo quy định, thời gian cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tối đa 15 ngày làm việc, công trình khác là 20 ngày. Nếu có tình huống phát sinh, thời gian cấp phép cũng không được quá 10 ngày. Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp và người dân phản ánh thời gian thực tế để được cấp phép xây dựng thường kéo dài nhiều tháng.

📌Trung tâm Phục vụ hành chính công cho biết việc nộp hồ sơ trực truyến giúp người dân không phụ thuộc vào thời gian hành chính, không phải xếp hàng hay di chuyển và giảm thời gian chờ đợi, ngăn ngừa tiêu cực.

02/06/2025

Bổ sung 2 tội danh mới vào Bộ luật Hình sự (dự kiến)👇🏻

8 BƯỚC KIỂM TRA PHÁP LÝ TRƯỚC KHI XUỐNG TI.Ề.N M.U.A ĐẤT 💰🎯1. Xem sổ đỏ gốcĐảm bảo đất có sổ đỏ, đúng tên người bán, khô...
28/05/2025

8 BƯỚC KIỂM TRA PHÁP LÝ TRƯỚC KHI XUỐNG TI.Ề.N M.U.A ĐẤT 💰🎯
1. Xem sổ đỏ gốc
Đảm bảo đất có sổ đỏ, đúng tên người bán, không bị rách hay chỉnh sửa.
2. Kiểm tra quy hoạch
Xác minh đất có bị quy hoạch, giải toả, hay nằm trong hành lang an toàn không.
3. Đo lại diện tích thực tế
So sánh diện tích trên sổ và ngoài thực địa, tránh bị thiếu đất khi mua.
4. Tìm hiểu tranh chấp và thế chấp
Xem đất có đang bị tranh chấp, bị cầm cố hay dính pháp lý không.
5. Xác minh chủ đất
Người bán phải là chính chủ hoặc có giấy ủy quyền hợp pháp, còn hiệu lực.
6. Kiểm tra loại đất và mục đích sử dụng
Đảm bảo đất được phép mua bán và có thể chuyển đổi đúng mục đích sử dụng.
7. Soạn hợp đồng và công chứng
Ký hợp đồng tại văn phòng công chứng để đảm bảo pháp lý rõ ràng.
8. Nộp hồ sơ sang tên
Làm thủ tục tại văn phòng đất đai, nộp thuế và nhận sổ mới đúng tên mình.

🕵️🕵️🕵️Quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự🕵️Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa quan trọ...
14/01/2025

🕵️🕵️🕵️Quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
🕵️Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án, giúp các đương sự bảo vệ được các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình. Trên thực tế không ít vụ án tranh chấp kéo dài nhưng rồi lại bị đình chỉ chỉ vì lý do hết thời hiệu khởi kiện, do đó, việc nắm rõ quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện là rất cần thiết khi tiến hành khởi kiện.
Trước hết, chúng ta cần phải hiểu được thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là gì? Pháp luật hiện nay chưa quy định khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, do đó có thể hiểu “thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự” là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì có thể mất quyền khởi kiện.

🕵️🕵️Điều 149 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

Ngoài ra, có một số trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện như: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; trường hợp khác do luật quy định (Điều 155 BLDS năm 2015).

Khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; hoặc người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện; hoặc Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự (Điều 156 BLDS 2015). Ví dụ như trong thời gian áp dụng biện pháp giãn cách xã hội để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có thể được xem là trường hợp bất khả kháng xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được, nên không được tính vào thời hiệu khởi kiện.

🕵️🕵️🕵️Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 154 BLDS 2015). Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra các sự kiện sau: Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Các bên đã tự hòa giải với nhau (Điều 157 BLDS 2015).

Theo đó, sau đây là thời hiệu khởi kiện đối với một số vụ việc dân sự:

🌴Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: Theo quy định tại Điều 588 của BLDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

🌴🌴Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429 BLDS 2015);

🌴🌴🌴Thời hiệu thừa kế: Điều 623 BLDS 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

🌴🌴🌴🌴Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo điều khoản 1 Điều 132 BLDS năm 2015 là 02 năm, kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

🏛🏛🏛Như vậy, việc nắm rõ thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa quan trọng giúp người dân thực hiện tốt quyền khởi kiện của mình và đảm bảo quyền và lợi ích của các bên.

😣😣😣Hành vi đe dọa và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý như thế nào?🎭🎭Bên cạnh việc chủ nợ dùng nhiều thủ đoạn để đòi nợ thì cũ...
30/11/2024

😣😣😣Hành vi đe dọa và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý như thế nào?
🎭🎭Bên cạnh việc chủ nợ dùng nhiều thủ đoạn để đòi nợ thì cũng có những trường hợp khi đến thời hạn trả thì người vay đã không trả tiền chủ nợ mà lại có hành vi đe dọa, tấn công ảnh hưởng đến tính mạng của bản thân và gia đình của chủ nợ.
Theo quy định của pháp luật, hành vi đe dọa và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý như thế nào? Hiện pháp luật đã có những quy định gì để bảo vệ người cho vay?
Giải đáp thắc mắc đã trả lời câu hỏi này như sau:
🎤1. Hành vi đe dọa, tấn công chủ nợ
Trường hợp người vay có hành vi đe dọa, tấn công nhằm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của chủ nợ thì tùy thuộc vào hành vi nguy hiểm và hậu quả đã xảy ra, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như: Điều 123 (Tội giết người); Điều 133 (Tội đe dọa giết người); Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 168 (Tội cướp tài sản); Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản).
Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.Có thể là hình ảnh về văn bản
🎤🎤2. Pháp luật đã có những quy định bảo vệ người cho vay
Điều 463, 465, 466, 467, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rất cụ thể về hợp đồng vay tài sản; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; nghĩa vụ của bên cho vay và bên vay; về việc sử dụng tài sản để điều chỉnh đối với hoạt động vay tài sản trong giao dịch dân sự.
Theo đó, người cho vay sẽ được pháp luật bảo vệ trong trường hợp thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Dân sự với mức lãi suất do các bên tự thỏa thuận và không vượt quá 20%/năm của khoản vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn theo quy định của Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
🎤🎤🎤Trường hợp người vay không chịu trả số tiền đã vay thì người cho vay có thể khởi kiện ra Tóa án nhân dân nơi xảy ra hoạt động cho vay hoặc gửi đơn tố giác đến cơ quan điều tra nếu xác định có dấu hiệu của tội phạm.

Hành vi đe dọa và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý như thế nào? Bên cạnh việc chủ […]

Khái niệm lãi quá hạn hay lãi chậm trả? Cách tính lãi suất chậm trả và lãi suất quá hạn? Các quan điểm khác nhau về tính...
16/10/2024

Khái niệm lãi quá hạn hay lãi chậm trả? Cách tính lãi suất chậm trả và lãi suất quá hạn? Các quan điểm khác nhau về tính lãi quá hạn, lãi chậm trả? Thanh toán tiền lãi quá hạn trong hợp đồng vay tiền? Nghĩa vụ thanh toán lãi quá hạn, lãi chậm trả theo quy định mới nhất?
Tục ngữ có câu “Đồng tiền đi liền khúc ruột”, có thể nói tiền bạc là mồ hôi là công sức, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Chính bởi vậy khi đem tiền của mình đi cho người khác vay, dù là để giúp đỡ, dù là để kiếm lời từ việc cho vay thì người vay tiền cũng mong muốn được nhận đủ tiền sớm nhất hoặc ít nhất là đúng hạn. Tuy nhiên trên thực tế, người vay thường sẽ không thể trả nợ được đúng hạn, vì làm ăn thua lỗ, ốm đau, tai nạn,… không thể nào thu xếp đủ tiền để trả nợ.
Điều này, ít nhiều sẽ gây thiệt hại cho người cho vay tiền. Để đảm bảo quyền lợi của các bên trong mối quan hệ dân sự này, pháp luật có quy định về việc tính lãi chậm trả và lãi quá hạn. Vậy nội dung trên được quy định như thế nào?
1. Khái niệm lãi quá hạn hay lãi chậm trả:
Hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành không có quy định về khái niệm “lãi quá hạn”, hay “lãi chậm trả”. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 357, 466 Bộ luật dân sự năm 2015, thì có thể hiểu:

“Lãi chậm trả” (hay còn gọi là tiền lãi chậm trả)

Có thể hiểu, lãi chậm trả là khoản tiền lãi phát sinh mà bên vay/mượn phải trả cho bên cho vay khi đến hạn mà bên vay không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, trong đó, số tiền lãi này được tính trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

“Lãi quá hạn” (hay còn gọi là tiền lãi quá hạn).

Cũng như “lãi chậm trả”, đối với khái niệm “lãi quá hạn” cũng không có văn bản nào quy định cụ thể về khái niệm này. Tuy nhiên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, có thể hiểu, “lãi quá hạn” được hiểu là khoản tiền lãi phát sinh trên khoản nợ gốc quá hạn chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả (thời gian quá hạn), mà người vay phải trả cho bên cho vay tính đến thời điểm trả nợ. Trong đó, thời gian chậm trả (thời gian quá hạn) được hiểu là một khoảng thời gian tính từ ngày hết hạn trả nợ đến này tính tiền trả nợ. “Lãi quá hạn” thường được áp dụng đối với trường hợp xác định nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay tính có lãi.

Dù “lãi chậm trả”, “lãi quá hạn” được hiểu như thế nào thì có thể thấy, đây cũng là một trong những khoản tiền lãi phát sinh do bên vay tiền/vay vốn không tuân thủ hợp đồng vay, thời hạn vay. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của bên cho vay, nhất là đảm bảo quyền phát sinh cơ hội đầu tư từ số tiền đã cho vay của bên cho vay thì theo nội dung quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên, bên cho vay tiền/vay vốn phải trả thêm khoản tiền lãi chậm trả, lãi quá hạn.

2. Cách tính lãi suất chậm trả và lãi suất quá hạn:
Cách tính lãi suất chậm trả:

Về mặt nguyên tắc, trong quan hệ vay vốn, vay tiền thì bên vay phải có trách nhiệm trả đủ tiền khi đến hạn. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào, bên vay cũng thực hiện được thỏa thuận này. Trường hợp này, khi đến hạn trả nợ mà bên vay không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay ngoài việc thanh toán nghĩa vụ trả nợ, phải trả thêm một khoản tiền lãi chậm trả.

Về lãi suất chậm trả, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Khoản 4, 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất này trước hết sẽ do các bên tự thỏa thuận. Lãi suất thỏa thuận này có thể được ghi nhận trước đó trong hợp đồng vay vốn, hợp đồng vay tiền được ký kết trước đó. Lãi suất này cũng có thể do hai bên tự thỏa thuận tại thời điểm tính tiền trả nợ, nếu trong giấy/hợp đồng vay tiền không có quy định về lãi suất này.

Trường hợp không thỏa thuận được về vấn đề lãi suất chậm trả thì lãi suất chậm trả sẽ được xác định theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất chậm trả sẽ được xác định bằng 50% mức lãi suất cho vay giới hạn tại thời điểm trả nợ là 20%/năm, tương đương với mức lãi suất chậm trả là 10%/năm.

Trên cơ sở này, khoản tiền lãi chậm trả sẽ được xác định bằng 10%/năm (tương đương 0,83 %/tháng) tính trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận về mức lãi suất chậm trả.

Có thể thể hiện bằng công thức như sau:

– Lãi chậm trả = nợ gốc chưa trả x lãi chậm trả (0,83%/tháng) x thời gian chậm trả.

(Công thức này áp dụng cho trường hợp cho vay không có lãi, theo quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015).

– Lãi chậm trả = nợ gốc x lãi suất vay theo thỏa thuận trong hợp đồng x thời hạn vay x 0,83%/tháng x thời gian chậm trả.

(Công thức này áp dụng cho trường hợp cho vay có lãi, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Ví dụ: A cho B vay số tiền là 300 triệu đồng, không tính lãi. Thời hạn hợp đồng vay là 12 tháng, từ 01/01/2018 đến 31/12/2018. Đến thời điểm tháng 31/03/2019, anh B mới thanh toán nợ gốc cho anh B. Trường hợp này, anh B đã chậm thực hiện việc trả nợ so với thời hạn là 03 tháng. Vậy B sẽ phải trả cho A ngoài khoản tiền gốc là 300 triệu đồng; đồng thời phải trả thêm một khoản tiền lãi chậm trả được tính như sau:

Tiền lãi chậm trả = 300.000.000 đ x 0,83%/tháng x 03 tháng = 7.470.000 đồng.

Vậy, do đây là khoản vay không có lãi nên khi đến hạn mà anh B không trả được nợ, hơn nữa còn trả chậm 03 tháng so với thời hạn vay, và A, B không thỏa thuận được lãi suất chậm trả nên căn cứ theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, B phải trả: 300.000.000 đồng (tiền nợ gốc) và 7.470.000 đồng tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Cách tính lãi suất quá hạn:

Về lãi suất quá hạn, còn được hiểu là lãi suất tính trên nợ gốc quá hạn, sẽ được xác định theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, lãi suất quá hạn (tức lãi suất tính trên nợ gốc quá hạn chưa trả) sẽ được xác định theo sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ vay tiền. Tuy nhiên, trường hợp các bên không có sự thỏa thuận thì lãi suất quá hạn được tính bằng 150% (tương đương 1,5) lãi suất vay theo hợp đồng vay.

Trên cơ sở này, tiền lãi quá hạn (tiền lãi tính trên nợ gốc quá hạn chưa trả) = nợ gốc quá hạn chưa trả x lãi suất vay theo hợp đồng vay x 1,5 x thời gian chậm trả (thời gian quá hạn).

Ví dụ: Anh C cho anh D vay 100.000.000 đồng với lãi suất 1,5%/tháng. Thời hạn hợp đồng vay là 15 tháng, từ 01/04/2017 đến 01/07/2017. Đã quá hạn 4 tháng, D mới thanh toán gốc và lãi cho C. Vậy giả sử C, và D không thỏa thuận về lãi suất chậm trả, hay lãi quá hạn cụ thể, thì căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 D phải có trách nhiệm trả cho C các khoản tiền:

– Nợ gốc: 100.000.000 đồng (100 triệu đồng)

– Lãi trên nợ gốc trong thời hạn hợp đồng vay: = 100.000.000 đồng x 15 tháng x 1,5%/tháng = 22.500.000 đồng.

– Lãi chậm trả = 100.000.000 đồng x 1,5% x 15 x 0,83% x 4 = 747.000 đồng.

– Lãi trên nợ gốc quá hạn (lãi quá hạn) = 100.000.000 đ x 1,5% x 4= 6.000.000 đồng.

Như vậy, dù là “lãi chậm trả” hay “lãi quá hạn” thì đây cũng là những khoản tiền lãi được phát sinh khi đến thời hạn trả nợ mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ khoản tiền vay, được hiểu như là một sự bù đắp cho thiệt hại xảy ra với bên cho vay khi bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên, tùy thuộc vào khoản vay này là khoản vay có lấy lãi hay khoản vay không có lãi mà người vay nợ có thể ngoài việc trả khoản tiền gốc thì có thể phải trả lãi chậm trả (áp dụng trong trường hợp vay không có lãi) hoặc phải trả cả lãi chậm trả và lãi quá hạn (áp dụng đối với khoản vay có lãi).

3. Các quan điểm khác nhau về tính lãi quá hạn, lãi chậm trả:
Đối với loại hợp đồng vay tài sản có lãi, quy định về cách tĩnh lãi nợ quá hạn có vai trò vô cùng quan trọng. Vấn đề này được quy định tại Khoản 5, Điều 474 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lái suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Quy định như trên dẫn đến hai cách hiểu khác nhau về cách tính lãi đối với hợp đồng vay có kì hạn và có lãi trong thời gian nợ quá hạn (lãi nợ quá hạn):

Quan điểm 1: Lãi chỉ tính trên nợ gốc, không tính lãi trên lãi. Ứng với quan điểm này, cách tính lãi nợ quá hạn như sau:

Lãi nợ quá hạn = nợ gốc x lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố x thời gian quá hạn

Quan điểm 2: Cứ quá hạn thì tính lãi quá hạn, không quan tâm đó là tiền nợ gốc hay tiền lãi. Ứng với quan điểm này, cách tính lãi nợ quá hạn như sau:

Lãi nợ quá hạn = (nợ gốc + Lãi trong hạn) x lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố x thời gian quá hạn

Trong đó, lãi trong hạn = nợ gốc x lãi suất thỏa thuận x thời hạn vay.

Ví dụ sau sẽ cụ thể hai cách tính lãi trên:

A cho B vay 100 triệu trong vòng 12 tháng (từ ngày 1/1/2013 đến 31/12/2013) với lãi suất thỏa thuận là 1.5%/tháng. Hết 12 tháng B không trả được nợ (cả gốc lẫn lãi). Đến 1/7/2014 A khởi kiện (Quá hạn 6 tháng). Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 1%/tháng. Tính lãi nợ quá hạn B phải trả cho A.

– Lãi trong hạn = 100 x 1.5% x 12 tháng = 18 triệu

– Lãi nợ quá hạn:

+ Cách tính 1 (theo quan điểm 1):

Lãi nợ quá hạn = 100 x 1% x 6 tháng = 6 triệu

+ Cách tính 2 (theo quan điểm 2):

Lãi nợ quá hạn = (100 + 18) x 1% x 6 tháng = 7.08 triệu

Phải hiểu quy định tại Khoản 5 Điều 474 theo cách tính 2 (Theo quan điểm 2). Điều này xuất phát từ các cơ sở pháp lí sau đây:

– Khoản 2, Điều 290 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

– Khoản 2, Điều 305 có chỉ rõ: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán..”

Như vậy, phải hiểu lãi nợ quá hạn là số tiễn lãi quá hạn chứ không hiểu một cách máy móc tiền lãi phải tính trên tiền gốc, không tính lãi trên tiền lãi như quan điểm thứ 1. Nói cách khác, Khoản 5, Điều 474 nên hiểu“lãi trên nợ gốc” chính là “lãi theo nợ gốc”.

Mặt khác, Khoản 5 Điều 474 còn quy định: “…tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Vậy, “tương ứng với thời hạn vay” được hiểu như thế nào? Có ý kiến cho rằng nó có nghĩa là khoảng thời gian quá hạn này tương ứng với thời hạn của loại cho vay nào (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) của Ngân hàng Nhà nước quy định thì áp dụng mức trần lãi suất cho vay của loại vay đó. Quan điểm khác lại nói phải hiểu nó có nghĩa là “cả kì hạn vay”.

Ý kiến khác lại cho rằng, “tương ứng với thời hạn vay” đồng nghĩa với “tương ứng thời hạn chậm trả” trong hợp đồng vay không có lãi như quy định tại Khoản 4 Điều 474. “…tương ứng với thời hạn vay…” ở đây phải được hiểu là tương ứng với thời gian nợ quá hạn. Nói cách khác có thể hiểu về cách tính lãi nợ quá hạn một cách chính xác và dễ hiểu nhất là: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không tra hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ”.

4. Thanh toán tiền lãi quá hạn trong hợp đồng vay tiền:
Tóm tắt câu hỏi:

Tôi có vay trả góp điện thoại 08 triệu từ tháng 06/2011 đến tháng 06/2012 hết hạn thanh toán nhưng tôi không thanh toán đến hiện tại và trong khoảng thời gian từ lúc vay đến nay tôi vẫn không nhận được thông báo nào từ công ty cho vay. Thời gian vay đến nay đã hơn 5 năm, đến bây giờ tôi mới nhận thông báo của công ty cho vay và bên luật sư yêu cầu thanh toán số tiền là hơn 11 triệu. Nhờ luật sư tư vấn giúp tôi phải làm thế nào? Tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Và tôi có nên thanh toán tiền cho công ty hay không?

Luật sư tư vấn:

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo thông tin bạn cung cấp, ban giao kết hợp đồng vay từ năm 2011, nên sẽ áp dụng quy định tại Bộ luật Dân sự 2015

Căn cứ Điều 474 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn vay trả góp điện thoại 8 triệu từ tháng 6/2011 đến 6/2012, đến nay đã hết thời hạn thanh toán mà bạn không thanh toán theo thỏa thuận hai bên do đó công ty cho vay có quyền yêu cầu bạn phải trả đủ tiền gốc lẫn lãi (bao gồm cả lãi quá hạn). Trong trường của bạn, bạn vay tiền tuy nhiên nếu bạn không có dấu hiệu bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hoặc không dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền vay hay sử dụng tiền vay không đúng mục đích (dùng tiền vay để đánh bạc,…) thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật hình sự 2015

Những vấn đề về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổiTừ những bất cập trong quy định pháp luật về ...
03/10/2024

Những vấn đề về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi
Từ những bất cập trong quy định pháp luật về thi hành hình phạt tù đối phạm nhân là người dưới 18 tuổi, tác giả kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính nhân văn, tiến bộ.
Phạm nhân dưới 18 tuổi là đối tượng dễ bị tổn thương, nên cần có sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt của gia đình và xã hội. Vì vậy, chính sách hình sự và chính sách thi hành án hình sự đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để hoàn lương. So với Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, BLTTHS năm 2015 bỏ quy định về chấp hành hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi, do Điều 308 BLTTHS năm 2003 trùng với Điều 50 Luật thi hành án hình sự (THAHS) năm 2010. Hơn nữa, thi hành án khác với việc giải quyết vụ án và thi hành án không phải là một công việc tố tụng, không nên coi là giai đoạn tố tụng. Thi hành án hình sự là công tác tổ chức thi hành án trên thực tế, do đó, chỉ nên quy định về trình tự, thủ tục ở Luật THAHS. Pháp luật Việt Nam đã thống nhất về phạm vi áp dụng các quy định về thi hành hình phạt tù đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi theo hướng chỉ áp dụng theo Luật THAHS. Luật THAHS năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020) đã cụ thể hóa các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn công tác thi hành án. Đặc biệt, Luật THAHS năm 2019 đã cụ thể hóa chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước ta trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội và ngày càng tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người, trong đó có phạm nhân là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, các quy định về thi hành hình phạt tù đối phạm nhân là người dưới 18 tuổi theo Luật THAHS năm 2019 vẫn còn một số bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện.

1.Về tha tù trước thời hạn có điều kiện

Trên thực tế, trong các loại hình phạt Tòa án áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, thì hình phạt tù giam vẫn chiếm tỉ lệ cao. Với quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 về tăng cường miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để giám sát giáo dục tại cộng đồng và giảm hình phạt tù có thời hạn, tỉ lệ người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng biện pháp tư pháp tăng hơn, nhưng chưa đến 01%. Hình phạt tù có thời hạn vẫn được áp dụng phổ biến (hơn 91%). Số liệu nêu trên cho thấy người chưa thành niên bị áp dụng hình phạt với tỉ lệ cao mà không phải là các biện pháp chuyển hướng, trong đó, hình phạt tù là phổ biến và đa số ở khung hình phạt dưới 03 năm tù. Chúng tôi cho rằng, BLHS hiện hành cần quy định trực tiếp trong các tội phạm cụ thể (loại tội phạm ít nghiêm trọng), là đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì không áp dụng hình phạt tù giam, mà thay bằng các biện pháp chuyển hướng hoặc hình phạt không tước tự do. Điều 101 BLHS năm 2015 quy định mang tính nguyên tắc (thể hiện chính sách chung về hình phạt), đó là: Mức phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phải dựa theo độ tuổi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Để bảo đảm thống nhất với các quy định của pháp luật hình sự, Luật THAHS năm 2019 đã bổ sung Mục 3, Chương 2 từ Điều 57 đến Điều 72. Các điều khoản này quy định về thời điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện (thực hiện mỗi năm 03 đợt vào thời điểm kết thúc quý I, kết thúc quý II và kết thúc năm xếp loại); thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; cơ quan quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, làm việc là cơ quan trực tiếp tổ chức quản lý, giám sát và giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Thực tiễn triển khai các quy định của Luật THAHS năm 2019 về tha tù trước thời hạn đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi đặt ra một số vấn đề về thủ tục thi hành quyết định của Tòa án về tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi, cụ thể:

Việc giao nhận hồ sơ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

Điều 59 Luật THAHS năm 2019 quy định: “... Trại giam, trại tạm giam, cơ quan THAHS Công an cấp huyện có trách nhiệm bàn giao hồ sơ phạm nhân cho cơ quan THAHS Công an cấp huyện nơi người tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan THAHS cấp quân khu. Cơ quan THAHS Công an cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan THAHS cấp quân khu tiếp nhận, quản lý hồ sơ phạm nhân; lập hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và giao cho UBND cấp xã, đơn vị Quân đội để tổ chức quản lý”. Hướng dẫn Điều 59 Luật THAHS năm 2019, khoản 2 Điều 7 Thông tư số 12/2018/TT-BCA ngày 17/5/2018 của Bộ Công an quy định thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Công an nhân dân (Thông tư số 12/2018) nêu rõ: “Sau khi tha phạm nhân, cơ sở giam giữ hoàn chỉnh hồ sơ phạm nhân và bàn giao cho cơ quan THAHS Công an cấp huyện nơi phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú (nơi chấp hành thời gian thử thách) để quản lý và phục vụ công tác quản lý, giám sát, giáo dục, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Cơ sở giam giữ có thể bàn giao tất cả hồ sơ phạm nhân trong cùng một đợt tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh để bàn giao cho cơ quan THAHS Công an cấp huyện. Việc bàn giao hồ sơ phạm nhân phải lập biên bản, lưu hồ sơ phạm nhân”.

Có thể thấy Luật THAHS năm 2019 và Thông tư số 12/2018 đều không quy định rõ thời hạn của việc bàn giao hồ sơ từ cơ quan THAHS cấp tỉnh xuống cấp xã. Điều này có thể dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc giao nhận hồ sơ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Có trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đến trình diện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, đăng ký tạm trú và thường trú nhưng thời điểm đó các cơ quan có thẩm quyền quản lý vẫn chưa nhận được hồ sơ để đưa người đi thi hành án. Như vậy, việc giao nhận hồ sơ chậm sẽ làm ảnh hưởng đến việc quản lý và theo dõi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Do đó, chúng tôi kiến nghị cần phải ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 59 Luật THAHS năm 2019 theo hướng xác định cụ thể thời gian chuyển giao hồ sơ phạm nhân giữa cơ quan THAHS các cấp, trại giam, trại tạm giam cho Ủy ban nhân dân cấp xã nhằm khắc phục bất cập nêu trên.

Về mức rút ngắn thời hạn thử thách

Khoản 2 Điều 64 Luật THAHS năm 2019 quy định: “Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện mỗi năm có thể được rút ngắn thời gian thử thách 01 lần từ 03 tháng đến 02 năm. Trường hợp thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện còn lại dưới 03 tháng thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại”. Tuy nhiên, điểm a khoản 4 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 về phối hợp thực hiện quy định của BLTTHS năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Thông tư số 04/2018) quy định: “Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thời gian thử thách còn lại dưới 01 (một) tháng thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại”. Như vậy, cùng một vấn đề nhưng các văn bản pháp luật quy định về “mức rút ngắn thời hạn thử thách” lại hướng dẫn khác nhau, gây khó khăn cho Tòa án khi áp dụng. Quy định tại khoản 2 Điều 64 Luật THAHS năm 2019 đã hợp lý và có sự tương đồng, phù hợp với quy định về mức rút ngắn thời hạn thử thách theo Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Hơn nữa, việc rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện là một chính sách hình sự mà không phải là một đặc ân như đặc xá. Do vậy, cần sửa đổi Thông tư số 04/2018 cho phù hợp với Luật THAHS năm 2019 và Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về “mức rút ngắn thời hạn thử thách” nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật; tính hiệu quả trong việc áp dụng chính sách hình sự.

2.Chế độ quản lý, giáo dục, học văn hóa, học nghề, lao động

Thực tiễn cho thấy, việc chuẩn bị cho phạm nhân là người dưới 18 tuổi hết hạn tù tái hòa nhập cộng đồng tại một số trại giam thường được tiến hành một cách thụ động. Đó là trước khi trả tự do, Ban Giám thị gửi công văn cho chính quyền địa phương, sau đó cấp tiền tàu xe cho phạm nhân tự về (nếu không có người đến đón). Tuy nhiên, phạm nhân là người dưới 18 tuổi không nắm được tình hình và khả năng đón nhận của địa phương, nên thường có tâm lý hoang mang.

Vì Luật THAHS năm 2019 không quy định, nên Ban Giám thị trại giam không có hoạt động cụ thể như: Thông báo cho người mãn hạn tù nói chung về khả năng tiếp nhận của địa phương; thái độ của gia đình, nhà trường, xã hội đối với họ như thế nào; họ có việc làm sau khi ra tù hay không? Nếu không có sự phối kết hợp tốt giữa các cơ quan ban ngành tại địa phương, không có sự giáo dục, giám sát, tạo điều kiện thuận lợi để học tập, lao động thì họ rất dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội. Bên cạnh đó, khi sửa đổi Luật THAHS năm 2010 có nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm: “Áp dụng thống nhất chương trình tiểu học, phổ cập trung học cơ sở đối với người trên 18 tuổi chưa hoàn thành các chương trình này; đồng thời bắt buộc phạm nhân là người dưới 18 tuổi phải phổ cập trung học cơ sở, vì trong trại giam có thể áp dụng theo hình thức giáo dục thường xuyên”. Qua thực tiễn công tác thi hành án phạt tù cho thấy, để bảo đảm mục tiêu giáo dục cải tạo người chấp hành án phạt tù, cần quy định chế độ học tập, học nghề của phạm nhân là chế độ bắt buộc. Vì vậy, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 71 Luật THAHS năm 2019 về chế độ quản lý, giáo dục, học văn hóa, học nghề, lao động như sau:

“Phạm nhân là người dưới 18 tuổi phải được giam giữ ở một khu riêng trong trại giam theo chế độ quản lý, học tập, lao động phù hợp với sức khỏe, giới tính, lứa tuổi, tính chất tội phạm và đặc điểm nhân thân.

Ban giám thị trại giam phải có trách nhiệm giáo dục phạm nhân là người dưới 18 tuổi về văn hóa, pháp luật và dạy nghề phù hợp với độ tuổi, học vấn, giới tính và sức khỏe, chuẩn bị điều kiện để họ hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù. Thực hiện bắt buộc học chương trình tiểu học, phổ cập trung học cơ sở và bắt buộc phải học nghề (ít nhất một nghề thành thạo).

Chương trình, nội dung học tập, học nghề bắt buộc của phạm nhân dưới 18 tuổi do Chính phủ quy định. Ban Giám thị trại giam phải tạo điều kiện và hướng dẫn cho phạm nhân lựa chọn, đăng ký học nghề.

Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được lao động ở khu vực riêng và phù hợp với độ tuổi; không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

Đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi đã chấp hành xong hình phạt tù, Ban Giám thị trại giam phải thông báo cho người đó biết về tình hình đón nhận của gia đình, địa phương và phải phối hợp với gia đình, chính quyền cấp xã nơi người đó cư trú và các tổ chức chính trị xã hội để giúp đỡ họ trở về địa phương”.

3.Về chế độ thăm gặp, liên lạc điện thoại

Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ và tinh thần; đang ở trong giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình. Do tư duy của người dưới 18 tuổi chưa phát triển hoàn thiện, vì thế họ chưa hiểu biết đầy đủ những hiện tượng diễn ra trong đời sống thường nhật, tính làm chủ bản thân và khả năng tự kiềm chế hành vi còn có sự hạn chế. Phần lớn những người bị kết án là người dưới 18 thường sống phụ thuộc vào gia đình và ở độ tuổi đi học, vì nhiều hoàn cảnh khác nhau mà dẫn đến phạm tội6. Bởi vậy, gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, phát triển nhân cách và hành vi của người dưới 18 tuổi.

Việc Luật THAHS khuyến khích người bị kết án dưới 18 tuổi duy trì liên lạc thường xuyên với thân nhân để họ nhận được sự động viên, quan tâm của gia đình, người thân, tạo tâm lý tốt trong quá trình học tập, lao động tại trại giam là một việc thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước. Bên cạnh gia đình, nhà trường cũng góp phần quan trọng vào việc đào tạo, giáo dục, rèn luyện tư cách đạo đức của người dưới 18 tuổi. Họ sẽ xóa bỏ mặc cảm, cải tạo tốt hơn khi có sự động viên, khích lệ từ thầy cô, bạn bè; đồng thời, thông qua việc gặp gỡ bạn bè, thầy cô giúp họ nhận thức về những thay đổi đã và đang diễn ra trong nhà trường, ngoài xã hội; có định hướng tốt hơn, đúng đắn hơn sau khi được trả tự do. Chính vì vậy, cần bổ sung quy định tại Điều 76 Luật THAHS năm 2019 về chế độ gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân như sau: “Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được duy trì liên lạc với thân nhân, thầy cô, bạn bè qua thư từ hoặc điện thoại. Phong bì và tem thư được cấp miễn phí cho phạm nhân. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được liên lạc bằng điện thoại trong nước với thân nhân, thầy cô, bạn bè không quá 04 lần trong 01 tháng, mỗi lần không quá 10 phút, có sự giám sát của cán bộ trại giam và tự chịu chi phí.

Nhà nước khuyến khích thân nhân, thầy cô, bạn bè của phạm nhân là người dưới 18 tuổi quan tâm gửi sách vở, đồ dùng học tập, dụng cụ thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí cho phạm nhân”.

4.Đề xuất, kiến nghị

Các vấn đề pháp lý về người dưới 18 tuổi, đặc biệt là về tư pháp hình sự được quy định ở nhiều văn bản luật khác nhau (Bộ luật Hình sự; Luật THAHS; Luật đặc xá; BLTTHS; Luật trẻ em; Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật trợ giúp pháp lý) mà chưa có một đạo luật chuyên biệt cho nên các cơ quan thực thi pháp luật còn gặp khó khăn khi áp dụng quy phạm pháp luật đối với người chưa thành niên. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm quyền cho người dưới 18 tuổi phạm tội nói chung, người chấp hành án phạt tù nói riêng.

Do đó, chúng tôi đề xuất, trong tương lai cần ban hành một đạo luật riêng về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên, điều chỉnh trên diện rộng các vấn đề pháp lý và phải có các nội dung (giá trị cơ bản) đối với người chưa thành niên, gồm: (1) Hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam đối với người chưa thành niên, gồm: 1.1. Chính sách pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên; 1.2. Chính sách pháp luật thi hành án đối với người chưa thành niên); (2) Hệ thống các nguyên tắc đối với người chưa thành niên trong nền tư pháp hình sự Việt Nam, gồm: 2.1. Nguyên tắc nhân đạo; 2.2. Nguyên tắc hướng thiện; 2.3. Nguyên tắc tố tụng thân thiện đối với người chưa thành niên (bao gồm cả bảo đảm quyền bào chữa); 2.4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; (3) Hệ thống các quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự (cần liệt kê cụ thể, tránh quy định chung chung, hình thức về quyền trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, dân sự); (4) Các chế độ của người chấp hành án là người chưa thành niên, gồm: 4.1. Chế độ dinh dưỡng; 4.2. Chế độ phòng ở, quần áo và các dụng cụ sinh hoạt thiết yếu; 4.3. Chế độ chăm sóc y tế; 4.4. Chế độ thăm nom, giao tiếp; 4.5. Chế độ văn hóa, thể thao; (5) Hệ thống các biện pháp giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội; (6) Tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên chấp hành xong hình phạt tù; (7) Hệ thống các biện pháp phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội; (8) Thi hành các loại hình phạt đối với người chưa thành niên bị kết án và áp dụng các biện khác đối với người chưa thành niên./.

Address

Văn Phòng Giao Dịch: 156 Phố Trần Vỹ, Mai Dịch, Cầu Giấy-3939
Hanoi
039961

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật TNHH VietNew posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công ty Luật TNHH VietNew:

Share

Category