24/10/2025
NGUỒN NHÂN LỰC THẨM PHÁN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Tác giả: Thạc sĩ, Luật sư Trương Quốc Hòe
I – ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, đội ngũ thẩm phán giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm công lý và củng cố niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn tình trạng án bị hủy, sửa, kéo dài, phản ánh hạn chế về năng lực và kỹ năng số của một bộ phận thẩm phán. Trước sự xuất hiện của dữ liệu điện tử, trí tuệ nhân tạo và tranh chấp xuyên biên giới, thẩm phán cần vững chuyên môn, am hiểu công nghệ và có tư duy pháp lý hiện đại; do đó, việc đánh giá, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thẩm phán thích ứng với kỷ nguyên số là yêu cầu cấp thiết để xây dựng Tòa án nhân dân chuyên nghiệp, công tâm và hiện đại.
II -THỰC TRẠNG TRONG VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN
1. Về các văn bản pháp lý
Tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 quy định về tiêu chuẩn thẩm phán, được thể hiện tại Điều 94 như sau:
“Điều 94. Tiêu chuẩn Thẩm phán Tòa án nhân dân
1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và với Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
2. Có độ tuổi từ đủ 28 tuổi trở lên.
3. Có trình độ cử nhân luật trở lên.
4. Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử.
5. Có thời gian làm công tác pháp luật.
6. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.”
Đồng thời Luật này cũng quy định những điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân từ ngày 01/01/2025, cụ thể tại Khoản 1 Điều 95 quy định:
“Điều 95. Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân
1. Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 94 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân; nếu là sỹ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân thuộc các Tòa án quân sự:
a) Có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 05 năm trở lên; có năng lực xét xử, giải quyết những vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật;
b) Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân.”
Qua thực tế thì nguồn thẩm phán từ các Tòa án dân sự, Tòa án hình sự, Tòa án kinh doanh thương mại, hay là Tòa án quân sự… Xét xử những vụ án có tính chuyên biệt như vụ án về sở hữu trí tuệ hay vụ án có yếu tố nước ngoài thì chúng ta thấy rằng những vụ án này có chuyên môn sâu, có những quy định đặc biệt và có trình độ hiểu biết nhất định thì thẩm phán mới xem xét và giải quyết được phù hợp với thực tế, khách quan.
Ví dụ, một vụ án tranh chấp về quyền đầu tư có thể phát sinh khi một nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ AI tham gia thị trường Việt Nam. Chẳng hạn, cuối năm 2024, tập đoàn đa quốc gia Nvidia đã mua lại VinBrain – đơn vị công nghệ y tế tiên phong của Vingroup phát triển các nền tảng AI phục vụ chẩn đoán, điều trị và quản lý dữ liệu bệnh viện. Giả định việc chuyển nhượng này phát sinh mâu thuẫn và bị khởi kiện ra Tòa, thì bản chất tranh chấp chính là tranh chấp về hoạt động kinh doanh và đầu tư. Thực tế, khi mua lại một công ty cổ phần công nghệ, nhà đầu tư nước ngoài không chỉ tiếp cận quyền sở hữu cổ phần mà còn nắm giữ các quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kinh doanh, giải pháp công nghệ, cũng như quyền kinh doanh và lợi thế thương mại của doanh nghiệp.
Khi Tòa án giải quyết tranh chấp, Chánh án phải phân công thẩm phán có đủ hiểu biết tham gia xét xử; tuy nhiên, việc này phụ thuộc vào nguồn nhân lực thẩm phán hiện có hoặc huy động từ cơ quan khác. Vấn đề đặt ra là liệu thẩm phán được đào tạo, bổ nhiệm theo quy trình hiện hành có đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án phức tạp, có tình tiết mới chưa có trong pháp luật và án lệ hay không. Theo tôi, Tòa án cần vừa đào tạo, vừa tuyển chọn theo quy trình đặc biệt để xây dựng hội đồng xét xử có năng lực phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và công nghệ.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao cần xem xét có hay không việc công bố công khai về các Thẩm phán có các năng lực xét xử này trước quốc gia và trên cộng đồng quốc tế, để họ biết rằng cơ quan tài phán của Việt Nam chúng ta có đủ năng lực để giải quyết, xem xét những vụ án có tranh chấp về kỹ thuật cao, tranh chấp về công nghệ mới.
Trong thực tiễn hành nghề, với tư cách là luật sư tham gia giải quyết nhiều vụ án, tôi nhận thấy Luật Tố tụng dân sự Việt Nam đã có quy định về thủ tục tống đạt. Đối với tranh chấp mà nguyên đơn là người nước ngoài, việc triệu tập đương sự không phải vấn đề phức tạp, bởi nguyên đơn buộc phải tham dự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của mình; nếu không tham dự, Tòa án sẽ đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, đối với các vụ án có yếu tố nước ngoài, khi đương sự định cư ở nước ngoài nhưng tham gia đầu tư tại Việt Nam, thủ tục tống đạt trở nên phức tạp, đòi hỏi nhiều bước và tốn kém thời gian, dù có ưu điểm là đảm bảo tính chặt chẽ về mặt pháp lý. Cụ thể, Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định các phương thức tống đạt văn bản như sau:
“Điều 474. Các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài
1. Tòa án thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau đây:
a) Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này;
e) Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở nước ngoài.
2. Các phương thức tống đạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.”
Một quyết định, một phán quyết hay là một giấy triệu tập của Tòa án cũng là một việc hiện nay cần xem xét có ảnh hưởng đến nguồn thẩm phán hay không? Tôi tin chắc rằng có ảnh hưởng, bởi vì một thẩm phán được phân công để giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài thì chắc chắn họ sẽ phải là người để tâm nhất đến vụ án này. Tuy nhiên, do có những yếu tố đặc thù công việc nhất định mà Thẩm phán không thể chỉ thực hiện việc nghiên cứu, xét xử duy nhất một vụ án. Do vậy Thẩm phán sẽ dễ bị phân tán, chi phối bởi các hoạt động tố tụng liên quan, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu và xét xử của họ.
2. Đánh giá việc bổ nhiệm các thẩm phán trên thế giới
Vậy để đánh giá việc phân công và bổ nhiệm Thẩm phán ở các nước khác ra sao, có giống như chúng ta hay không, tôi xin được xem xét, đánh giá từ nguồn Thẩm phán. Tôi xin trích dẫn thông tin từ Tạp trí Tóa án đăng ngày 28/8/2018 của Tác giả Ngô Cường, cụ thể:
HÀN QUỐC - Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao: Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội. Các thẩm phán khác do Chánh án đề nghị và Tổng thống bổ nhiệm. Ban tư vấn bổ nhiệm thẩm phán (6–8 thành viên) thuộc Tòa án tối cao đưa ra ý kiến về ứng viên, nhưng không mang tính ràng buộc. Nhiệm kỳ của Chánh án và Thẩm phán là 6 năm; Chánh án giới hạn tuổi 70, không tái nhiệm; Thẩm phán có thể tái bổ nhiệm đến 65 tuổi.
Bổ nhiệm thẩm phán Tòa án cấp dưới: Do Chánh án Tòa án tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao. Ứng viên tốt nghiệp Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tư pháp phải tập sự 2 năm trước khi bổ nhiệm chính thức. Nhiệm kỳ 10 năm, có thể tái bổ nhiệm cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu là 63.
NHẬT BẢN - Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án tối cao: Chánh án do Hoàng đế bổ nhiệm theo đề nghị của Nội các; các thẩm phán khác do Nội các bổ nhiệm và Hoàng đế phê chuẩn. Ứng viên phải từ 40 tuổi trở lên, có kiến thức pháp luật sâu rộng. Trong số 15 thẩm phán, ít nhất 10 được chọn từ thẩm phán, công tố viên, luật sư, hoặc giới học thuật luật. Việc bổ nhiệm được cử tri bỏ phiếu tín nhiệm cùng bầu cử Hạ viện và được “chuẩn y” lại sau mỗi 10 năm.
Bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án cấp dưới: Thẩm phán các Tòa án cấp cao, địa phương, gia đình và đơn giản do Nội các bổ nhiệm theo đề nghị của Tòa án tối cao, trên cơ sở thẩm tra của Ủy ban tư vấn bổ nhiệm gồm 11 thành viên. Ứng viên phải tốt nghiệp Trường Đào tạo chức danh tư pháp và được bổ nhiệm làm thẩm phán phụ thẩm trước khi trở thành thẩm phán chính thức sau 10 năm. Thẩm phán Tòa án đơn giản được chọn từ thẩm phán, công tố viên, luật sư có ít nhất 3 năm kinh nghiệm hoặc thư ký Tòa án giàu kinh nghiệm. Nhiệm kỳ chung là 10 năm; thẩm phán Tòa án tối cao và Tòa án đơn giản nghỉ hưu ở tuổi 70, các thẩm phán khác nghỉ hưu ở tuổi 65.
CỘNG HÒA PHÁP - Bổ nhiệm Thẩm phán
Thẩm phán ngạch tư pháp: Do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng Thẩm phán tối cao hoặc Bộ trưởng Tư pháp và phục vụ đến tuổi 65. Chánh án và thẩm phán Tòa phá án, chánh án các Tòa phúc thẩm và sơ thẩm thẩm quyền rộng do Hội đồng Thẩm phán tối cao giới thiệu. Các thẩm phán khác do Bộ trưởng Tư pháp đề nghị, nhưng phải được Hội đồng chấp thuận. Hội đồng Thẩm phán tối cao do Tổng thống làm Chủ tịch, Bộ trưởng Tư pháp làm Phó Chủ tịch, có hai bộ phận (tư pháp và công tố), cùng các thành viên ngoài ngành Tòa án như đại diện Tham chính viện, luật sư và cá nhân do các cơ quan nhà nước bổ nhiệm.
Thẩm phán ngạch hành chính: Các thẩm phán hành chính sơ thẩm và phúc thẩm do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng tối cao các Tòa án hành chính, do Phó Chủ tịch Tham chính viện làm Chủ tịch, gồm 12 thành viên từ các cơ quan tư pháp, hành chính và đại diện do các cơ quan nhà nước bổ nhiệm. Riêng các Ủy viên Tham chính viện (Thẩm phán Tòa hành chính tối cao) và các chức vụ quản lý trong Tham chính viện do Hội đồng Bộ trưởng chỉ định theo đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp.
CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC - Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án Hiến pháp: Ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang được đề cử từ nhiều cơ quan. Trong số 16 Thẩm phán, 8 người do Thượng nghị viện bầu, 8 người do Ủy ban tuyển chọn của Hạ nghị viện (bầu theo tỷ lệ đảng phái) lựa chọn. Sau đó, Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 12 năm, không tái nhiệm. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp bang do Nghị viện bang bầu, nhiệm kỳ gắn với nhiệm kỳ Nghị viện.
Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án khác: Người vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia lần hai nộp đơn lên Bộ Tư pháp bang để được bổ nhiệm làm “Thẩm phán thử việc” (5 năm, hoặc 2 năm nếu đã là công chức). Hết thời gian này có thể được bổ nhiệm chính thức. Việc bổ nhiệm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bang quyết định đối với Tòa án thẩm quyền chung, hành chính, tài chính; Bộ trưởng Bộ Lao động bang quyết định đối với Tòa án lao động, xã hội. Thẩm phán các Tòa án liên bang do Tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của Bộ trưởng và Ủy ban tuyển chọn Thẩm phán liên bang. Tất cả Thẩm phán phục vụ đến tuổi nghỉ hưu (65 tuổi).
3. Đánh giá so sánh việc bổ nhiệm Thẩm phán với việc Bổ nhiệm Trọng tài viên theo luật trọng tài
Như vậy, chúng ta thấy việc đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán tại Việt Nam là có quy trình bổ nhiệm từ các chức danh có chuyên môn cao và có kinh nghiệm. Việc này cũng giống như trong Luật Trọng tài Việt Nam. Về Trọng tài tại Việt Nam, thì không nhất thiết phải bổ nhiệm Trọng tài viên là người có trình độ chuyên môn pháp lý cao, mà chỉ cần là người có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn sâu trong lĩnh vực họ công tác. Trọng tài viên cũng không cần phải bổ nhiệm theo quy trình Thẩm phán hoặc tái bổ nhiệm như Thẩm phán, mà được thực hiện theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010, cụ thể tại Điều 20 Luật này quy định:
“Điều 20. Tiêu chuẩn Trọng tài viên
1. Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;
b) Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;
c) Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên.
2. Những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:
a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;
b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
3. Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.”
Như vậy, nguồn và việc bổ nhiệm Trọng tài viên trong luật chỉ cần đủ điều kiện tại Điều 20 Luật Trọng tài là có đủ điều kiện tham gia Hội đồng Trọng tài và được phán quyết theo luật, với quy định là một người có trình độ chuyên môn trên năm năm, có trình độ am hiểu pháp luật thì đã trở thành một Trọng tài viên để tham gia giải quyết một tranh chấp trong kinh doanh, thương mại; và người bị tranh chấp chỉ cần lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng thủ tục Trọng tài thì thủ tục và quy trình giải quyết tranh chấp theo con đường trọng tài. Chúng ta thấy thực tế rằng các phán quyết của Trọng tài ở Luật Trọng tài Việt Nam ít khi bị Tòa án bác bỏ hoặc là không thể thi hành án được, hoặc thấy rất ít phán quyết trọng tài bị hủy tại Việt Nam.
So sánh với các nguồn lực và năng lực Thẩm phán tại Việt Nam, với các nguồn lực, năng lực Thẩm phán của tòa nước ngoài và hoạt động Trọng tài Việt Nam, chúng ta thấy việc phán quyết của các Thẩm phán và chất lượng các phán quyết này cần phải được nâng cao để cho bản án không bị kéo dài; khi thi hành án phải thực hiện một cách hoàn chỉnh, nhanh gọn, hạn chế kháng cáo, kháng nghị.
Để đánh giá được thực trạng việc đào tạo và trưng dụng, bổ nhiệm các thẩm phán từ các nguồn thẩm phán có chuyên môn cao thì tôi xin phép trích dẫn báo cáo hoạt động của ngành Tòa án trước năm 2022 theo thông tin từ Tạp chí Tòa án ngày 13/2/2023:
“Kết quả đạt được trong công tác bổ nhiệm, đảm bảo chế độ chính sách và việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các chức danh tư pháp theo Luật Tổ chức TAND năm 2014. Việc tổ chức thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp; thi nâng ngạch Thẩm phán; thi nâng ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án được diễn ra một cách khách quan, công bằng. Từ khi Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực đến nay, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức thành công 15 cuộc thi tuyển chọn, nâng ngạch Thẩm phán; 03 kỳ thi nâng ngạch Thẩm tra viên chính, Thư ký viên chính”
Qua báo cáo này chúng ta chưa thấy Tòa án Nhân dân Tối cao có được báo cáo chi tiết về việc bổ nhiệm Thẩm phán từ các nguồn nhân lực có chuyên môn và sự hiểu biết cao, như lĩnh vực sở hữu trí tuệ, lĩnh vực y tế, hay lĩnh vực công nghệ thông tin.
Do vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án còn có tỷ lệ bị hủy, kháng nghị, kháng cáo chủ yếu xuất phát từ hạn chế về năng lực, chuyên môn và sự phân công chưa hợp lý của đội ngũ Thẩm phán, bên cạnh những bất cập trong quy trình xét xử. Hệ quả là nhiều vụ việc bị kéo dài, có trường hợp tới hơn 12 năm vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Điều này phản ánh rõ thực trạng công tác đào tạo, tuyển dụng và sử dụng Thẩm phán hiện nay, đòi hỏi phải có giải pháp cải cách toàn diện nhằm nâng cao chất lượng phán quyết và bảo đảm hiệu lực pháp luật của bản án.
III – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Thứ nhất, về đào tạo.
Để có được các Thẩm phán có năng lực và trình độ chuyên môn cao, chúng ta cần phải có một không gian kiến thức thật tốt; đảm bảo Thẩm phán có chuyên môn về các lĩnh vực như Sở hữu trí tuệ cao, có kinh nghiệm cuộc sống thật phong phú, am hiểu văn hóa và kỹ năng sống, có năng lực xét xử. Đồng thời, chúng ta cần phải mở rộng mô hình đào tạo Thẩm phán, phải am hiểu đến công nghệ AI và cũng phải biết đến công nghệ không gian ảo, trí tuệ ảo, kỹ năng ảo và có khi còn phải biết cả đến đồng tiền kỹ thuật số, mặc dù Việt Nam chúng ta chưa thừa nhận đồng tiền kỹ thuật số, nhưng trên thực tế đã có sự trao đổi và hoán vị đồng tiền này cho nhau giữa các chủ thể trong xã hội.
Thứ hai, về bổ nhiệm.
Việc chúng ta xây dựng và bổ nhiệm Thẩm phán như đã trích dẫn trên đây, trên thực tế cho thấy các Thẩm phán đã được bổ nhiệm theo một quy trình rất khắt khe, bài bản, là những người được bổ nhiệm đúng quy trình; tuy nhiên, vẫn có những lỗi trong xét xử, án vẫn bị hủy, vẫn bị kháng nghị, dân vẫn kêu oan và sai. Vậy việc bổ nhiệm vẫn đúng, vẫn chuẩn, nhưng án vẫn sai; điều này cho thấy Thẩm phán được phân công chưa đúng, đã xét xử vẫn không đúng với bản chất sự việc, không phù hợp với thực tế khách quan. Vậy Tòa án Tối cao cần phải nghiên cứu lại phương pháp bổ nhiệm Thẩm phán và phân công Thẩm phán, lựa chọn những người thực sự có trình độ và năng lực cần thiết, phù hợp, có sự tham khảo của Luật Trọng tài để có được nguồn Thẩm phán có chuyên môn sâu.
Thứ ba, về xét xử.
Thẩm phán khi xét xử cần phải đánh giá các chứng cứ một cách toàn diện và đầy đủ, phù hợp với thực tế khách quan và công tâm thành lập hội đồng xét xử phải có các hội thẩm có trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung vụ án đang được giải quyết tại cấp sơ thẩm và các Thẩm phán có đủ trình độ và chuyên môn với nội dung vụ án mà các kháng cáo kháng nghị, công khai chuyên môn của hội đồng xét xử để cho các đương sự nắm được và cho đương sự lựa chọn Thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân có chuyên môn cao phù hợp với nội dung vụ án để tham gia xét xử các vụ án có chuyên môn cao.
IV. KẾT LUẬN
Như phần trình bày trên đây tôi nhận thấy lĩnh vực tư pháp của chúng ta còn nhiều vấn đề để đánh giá. Theo chủ trương chính sách của Đảng để đưa đất nước chúng ta vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công nghệ tự động hóa thì ngành Tư pháp cần phải vươn mình, trước hết chúng ta phải vươn mình ngay trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mạnh dạn bổ sung sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, đặc biệt là bổ sung vào chương trình đào tạo và tuyển dụng Thẩm phán, áp dụng các quy định của pháp luật và sửa đổi luật tố tụng nhằm giành quyền lựa chọn Thẩm phán và Hội Thẩm Nhân Dân cho các vụ án có chuyên môn và nội dung cần đòi hỏi người có năng lực và trình độ hiểu biết cao có được như thế sẽ làm hạn chế đi rất nhiều những sai sót trong quá trình xét xử và ban hành bản án.