Văn Phòng Luật Sư Interla

Văn Phòng Luật Sư Interla Văn phòng luật sư Interla - Đoàn Luật sư TP Hà Nội
- Thành lập ngày 19/5/2010

18/11/2025

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ INTERLA cần tuyển dụng vị trí sau:
- Vị trí: Chuyên viên pháp lý
- Số lượng: 02 người
- Địa điểm làm việc: 233 Giáp Bát, Hoàng Mai, TP Hà Nội.
- Thời gian làm việc: Từ thứ hai đến thứ 7 hàng tuần.
1. Yêu cầu tuyển dụng:
+ Tốt nghiệp ĐH Luật hoặc chuyên ngành luật các trường đại học;
+ Ưu tiên các bạn có ít nhất 2 năm kinh nghiệm làm việc tại các TCHNLS, đã hoàn thành khóa đào tạo nghề luật sư;
+ Yêu nghề, mong muốn trở thành Luật sư, nhanh nhẹn và chịu được áp lực công việc;
+ Kiên nhẫn, cẩn thận, có trách nhiệm, chủ động trong công việc;
+ Có khả năng tư duy logic tốt, khả năng hoạt động độc lập và phối hợp nhóm;
+ Có sức khỏe tốt;
+ Ngoại hình: Ưa nhìn.
2. Chế độ:
+ Lương: Thỏa thuận theo năng lực.
+ Được thưởng theo năng lực trong trường hợp giải quyết công việc có hiệu quả;
+ Được đóng BHXH theo quy định;
+ Lương tháng 13 và thưởng các ngày lễ, tết…
+ Hỗ trợ ăn trưa, xăng xe đi lại, công tác ngoại tỉnh;
+ Chế độ du lịch, nghĩ dưỡng theo quy định của Văn phòng;
+ Thường xuyên được đào tạo, nâng cao về chuyên môn và kỹ năng;
+ Tạo điều kiện để giao lưu, tiếp xúc với môi trường hoạt động, hành nghề luật.
+ Và các chế độ khác theo quy chế của Văn phòng;
3. Hồ sơ ứng tuyển:
- Sơ yếu lý lịch/ CV cá nhân (Lưu ý: Mô tả công việc đã từng làm)
- Ảnh thẻ 3x4;
- Bản sao bằng cấp, chứng chỉ.
- Hạn nộp hồ sơ: 30/11/2025
Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:
Nộp hồ sơ qua email: [email protected] hoặc nộp trực tiếp tại địa chỉ:
Địa chỉ: 233 Giáp Bát, Hoàng Mai, TP Hà Nội.
Điện thoại/zalo: 0941.363.596 (Ls.Thơ)

📚💻 Từ giảng đường đến “phòng xử án”!Hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 9/11, học sinh Trườ...
06/11/2025

📚💻 Từ giảng đường đến “phòng xử án”!
Hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 9/11, học sinh Trường THCS Thịnh Liệt đã có trải nghiệm chân thực cùng phiên tòa giả định với chủ đề “Phòng chống ma tuý học đường”.
Sự kiện do Chi hội Luật gia VPLS Interla phối hợp tổ chức nhằm tăng cường giáo dục pháp luật trong nhà trường.

NGUỒN NHÂN LỰC THẨM PHÁN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Tác giả: Thạc sĩ, Lu...
24/10/2025

NGUỒN NHÂN LỰC THẨM PHÁN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Tác giả: Thạc sĩ, Luật sư Trương Quốc Hòe
I – ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, đội ngũ thẩm phán giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm công lý và củng cố niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn tình trạng án bị hủy, sửa, kéo dài, phản ánh hạn chế về năng lực và kỹ năng số của một bộ phận thẩm phán. Trước sự xuất hiện của dữ liệu điện tử, trí tuệ nhân tạo và tranh chấp xuyên biên giới, thẩm phán cần vững chuyên môn, am hiểu công nghệ và có tư duy pháp lý hiện đại; do đó, việc đánh giá, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thẩm phán thích ứng với kỷ nguyên số là yêu cầu cấp thiết để xây dựng Tòa án nhân dân chuyên nghiệp, công tâm và hiện đại.
II -THỰC TRẠNG TRONG VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN
1. Về các văn bản pháp lý
Tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 quy định về tiêu chuẩn thẩm phán, được thể hiện tại Điều 94 như sau:
“Điều 94. Tiêu chuẩn Thẩm phán Tòa án nhân dân
1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và với Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
2. Có độ tuổi từ đủ 28 tuổi trở lên.
3. Có trình độ cử nhân luật trở lên.
4. Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử.
5. Có thời gian làm công tác pháp luật.
6. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.”
Đồng thời Luật này cũng quy định những điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân từ ngày 01/01/2025, cụ thể tại Khoản 1 Điều 95 quy định:
“Điều 95. Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân
1. Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 94 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân; nếu là sỹ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân thuộc các Tòa án quân sự:
a) Có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 05 năm trở lên; có năng lực xét xử, giải quyết những vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật;
b) Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân.”
Qua thực tế thì nguồn thẩm phán từ các Tòa án dân sự, Tòa án hình sự, Tòa án kinh doanh thương mại, hay là Tòa án quân sự… Xét xử những vụ án có tính chuyên biệt như vụ án về sở hữu trí tuệ hay vụ án có yếu tố nước ngoài thì chúng ta thấy rằng những vụ án này có chuyên môn sâu, có những quy định đặc biệt và có trình độ hiểu biết nhất định thì thẩm phán mới xem xét và giải quyết được phù hợp với thực tế, khách quan.
Ví dụ, một vụ án tranh chấp về quyền đầu tư có thể phát sinh khi một nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ AI tham gia thị trường Việt Nam. Chẳng hạn, cuối năm 2024, tập đoàn đa quốc gia Nvidia đã mua lại VinBrain – đơn vị công nghệ y tế tiên phong của Vingroup phát triển các nền tảng AI phục vụ chẩn đoán, điều trị và quản lý dữ liệu bệnh viện. Giả định việc chuyển nhượng này phát sinh mâu thuẫn và bị khởi kiện ra Tòa, thì bản chất tranh chấp chính là tranh chấp về hoạt động kinh doanh và đầu tư. Thực tế, khi mua lại một công ty cổ phần công nghệ, nhà đầu tư nước ngoài không chỉ tiếp cận quyền sở hữu cổ phần mà còn nắm giữ các quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kinh doanh, giải pháp công nghệ, cũng như quyền kinh doanh và lợi thế thương mại của doanh nghiệp.
Khi Tòa án giải quyết tranh chấp, Chánh án phải phân công thẩm phán có đủ hiểu biết tham gia xét xử; tuy nhiên, việc này phụ thuộc vào nguồn nhân lực thẩm phán hiện có hoặc huy động từ cơ quan khác. Vấn đề đặt ra là liệu thẩm phán được đào tạo, bổ nhiệm theo quy trình hiện hành có đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án phức tạp, có tình tiết mới chưa có trong pháp luật và án lệ hay không. Theo tôi, Tòa án cần vừa đào tạo, vừa tuyển chọn theo quy trình đặc biệt để xây dựng hội đồng xét xử có năng lực phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và công nghệ.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao cần xem xét có hay không việc công bố công khai về các Thẩm phán có các năng lực xét xử này trước quốc gia và trên cộng đồng quốc tế, để họ biết rằng cơ quan tài phán của Việt Nam chúng ta có đủ năng lực để giải quyết, xem xét những vụ án có tranh chấp về kỹ thuật cao, tranh chấp về công nghệ mới.
Trong thực tiễn hành nghề, với tư cách là luật sư tham gia giải quyết nhiều vụ án, tôi nhận thấy Luật Tố tụng dân sự Việt Nam đã có quy định về thủ tục tống đạt. Đối với tranh chấp mà nguyên đơn là người nước ngoài, việc triệu tập đương sự không phải vấn đề phức tạp, bởi nguyên đơn buộc phải tham dự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của mình; nếu không tham dự, Tòa án sẽ đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, đối với các vụ án có yếu tố nước ngoài, khi đương sự định cư ở nước ngoài nhưng tham gia đầu tư tại Việt Nam, thủ tục tống đạt trở nên phức tạp, đòi hỏi nhiều bước và tốn kém thời gian, dù có ưu điểm là đảm bảo tính chặt chẽ về mặt pháp lý. Cụ thể, Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định các phương thức tống đạt văn bản như sau:
“Điều 474. Các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài
1. Tòa án thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau đây:
a) Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này;
e) Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở nước ngoài.
2. Các phương thức tống đạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.”
Một quyết định, một phán quyết hay là một giấy triệu tập của Tòa án cũng là một việc hiện nay cần xem xét có ảnh hưởng đến nguồn thẩm phán hay không? Tôi tin chắc rằng có ảnh hưởng, bởi vì một thẩm phán được phân công để giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài thì chắc chắn họ sẽ phải là người để tâm nhất đến vụ án này. Tuy nhiên, do có những yếu tố đặc thù công việc nhất định mà Thẩm phán không thể chỉ thực hiện việc nghiên cứu, xét xử duy nhất một vụ án. Do vậy Thẩm phán sẽ dễ bị phân tán, chi phối bởi các hoạt động tố tụng liên quan, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu và xét xử của họ.
2. Đánh giá việc bổ nhiệm các thẩm phán trên thế giới
Vậy để đánh giá việc phân công và bổ nhiệm Thẩm phán ở các nước khác ra sao, có giống như chúng ta hay không, tôi xin được xem xét, đánh giá từ nguồn Thẩm phán. Tôi xin trích dẫn thông tin từ Tạp trí Tóa án đăng ngày 28/8/2018 của Tác giả Ngô Cường, cụ thể:
HÀN QUỐC - Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao: Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội. Các thẩm phán khác do Chánh án đề nghị và Tổng thống bổ nhiệm. Ban tư vấn bổ nhiệm thẩm phán (6–8 thành viên) thuộc Tòa án tối cao đưa ra ý kiến về ứng viên, nhưng không mang tính ràng buộc. Nhiệm kỳ của Chánh án và Thẩm phán là 6 năm; Chánh án giới hạn tuổi 70, không tái nhiệm; Thẩm phán có thể tái bổ nhiệm đến 65 tuổi.
Bổ nhiệm thẩm phán Tòa án cấp dưới: Do Chánh án Tòa án tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao. Ứng viên tốt nghiệp Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tư pháp phải tập sự 2 năm trước khi bổ nhiệm chính thức. Nhiệm kỳ 10 năm, có thể tái bổ nhiệm cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu là 63.
NHẬT BẢN - Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án tối cao: Chánh án do Hoàng đế bổ nhiệm theo đề nghị của Nội các; các thẩm phán khác do Nội các bổ nhiệm và Hoàng đế phê chuẩn. Ứng viên phải từ 40 tuổi trở lên, có kiến thức pháp luật sâu rộng. Trong số 15 thẩm phán, ít nhất 10 được chọn từ thẩm phán, công tố viên, luật sư, hoặc giới học thuật luật. Việc bổ nhiệm được cử tri bỏ phiếu tín nhiệm cùng bầu cử Hạ viện và được “chuẩn y” lại sau mỗi 10 năm.
Bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án cấp dưới: Thẩm phán các Tòa án cấp cao, địa phương, gia đình và đơn giản do Nội các bổ nhiệm theo đề nghị của Tòa án tối cao, trên cơ sở thẩm tra của Ủy ban tư vấn bổ nhiệm gồm 11 thành viên. Ứng viên phải tốt nghiệp Trường Đào tạo chức danh tư pháp và được bổ nhiệm làm thẩm phán phụ thẩm trước khi trở thành thẩm phán chính thức sau 10 năm. Thẩm phán Tòa án đơn giản được chọn từ thẩm phán, công tố viên, luật sư có ít nhất 3 năm kinh nghiệm hoặc thư ký Tòa án giàu kinh nghiệm. Nhiệm kỳ chung là 10 năm; thẩm phán Tòa án tối cao và Tòa án đơn giản nghỉ hưu ở tuổi 70, các thẩm phán khác nghỉ hưu ở tuổi 65.
CỘNG HÒA PHÁP - Bổ nhiệm Thẩm phán
Thẩm phán ngạch tư pháp: Do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng Thẩm phán tối cao hoặc Bộ trưởng Tư pháp và phục vụ đến tuổi 65. Chánh án và thẩm phán Tòa phá án, chánh án các Tòa phúc thẩm và sơ thẩm thẩm quyền rộng do Hội đồng Thẩm phán tối cao giới thiệu. Các thẩm phán khác do Bộ trưởng Tư pháp đề nghị, nhưng phải được Hội đồng chấp thuận. Hội đồng Thẩm phán tối cao do Tổng thống làm Chủ tịch, Bộ trưởng Tư pháp làm Phó Chủ tịch, có hai bộ phận (tư pháp và công tố), cùng các thành viên ngoài ngành Tòa án như đại diện Tham chính viện, luật sư và cá nhân do các cơ quan nhà nước bổ nhiệm.
Thẩm phán ngạch hành chính: Các thẩm phán hành chính sơ thẩm và phúc thẩm do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng tối cao các Tòa án hành chính, do Phó Chủ tịch Tham chính viện làm Chủ tịch, gồm 12 thành viên từ các cơ quan tư pháp, hành chính và đại diện do các cơ quan nhà nước bổ nhiệm. Riêng các Ủy viên Tham chính viện (Thẩm phán Tòa hành chính tối cao) và các chức vụ quản lý trong Tham chính viện do Hội đồng Bộ trưởng chỉ định theo đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp.
CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC - Bổ nhiệm Thẩm phán
Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án Hiến pháp: Ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang được đề cử từ nhiều cơ quan. Trong số 16 Thẩm phán, 8 người do Thượng nghị viện bầu, 8 người do Ủy ban tuyển chọn của Hạ nghị viện (bầu theo tỷ lệ đảng phái) lựa chọn. Sau đó, Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 12 năm, không tái nhiệm. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp bang do Nghị viện bang bầu, nhiệm kỳ gắn với nhiệm kỳ Nghị viện.
Bổ nhiệm Thẩm phán ở các Tòa án khác: Người vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia lần hai nộp đơn lên Bộ Tư pháp bang để được bổ nhiệm làm “Thẩm phán thử việc” (5 năm, hoặc 2 năm nếu đã là công chức). Hết thời gian này có thể được bổ nhiệm chính thức. Việc bổ nhiệm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bang quyết định đối với Tòa án thẩm quyền chung, hành chính, tài chính; Bộ trưởng Bộ Lao động bang quyết định đối với Tòa án lao động, xã hội. Thẩm phán các Tòa án liên bang do Tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của Bộ trưởng và Ủy ban tuyển chọn Thẩm phán liên bang. Tất cả Thẩm phán phục vụ đến tuổi nghỉ hưu (65 tuổi).
3. Đánh giá so sánh việc bổ nhiệm Thẩm phán với việc Bổ nhiệm Trọng tài viên theo luật trọng tài
Như vậy, chúng ta thấy việc đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán tại Việt Nam là có quy trình bổ nhiệm từ các chức danh có chuyên môn cao và có kinh nghiệm. Việc này cũng giống như trong Luật Trọng tài Việt Nam. Về Trọng tài tại Việt Nam, thì không nhất thiết phải bổ nhiệm Trọng tài viên là người có trình độ chuyên môn pháp lý cao, mà chỉ cần là người có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn sâu trong lĩnh vực họ công tác. Trọng tài viên cũng không cần phải bổ nhiệm theo quy trình Thẩm phán hoặc tái bổ nhiệm như Thẩm phán, mà được thực hiện theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010, cụ thể tại Điều 20 Luật này quy định:
“Điều 20. Tiêu chuẩn Trọng tài viên
1. Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;
b) Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;
c) Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên.
2. Những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:
a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;
b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
3. Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.”
Như vậy, nguồn và việc bổ nhiệm Trọng tài viên trong luật chỉ cần đủ điều kiện tại Điều 20 Luật Trọng tài là có đủ điều kiện tham gia Hội đồng Trọng tài và được phán quyết theo luật, với quy định là một người có trình độ chuyên môn trên năm năm, có trình độ am hiểu pháp luật thì đã trở thành một Trọng tài viên để tham gia giải quyết một tranh chấp trong kinh doanh, thương mại; và người bị tranh chấp chỉ cần lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng thủ tục Trọng tài thì thủ tục và quy trình giải quyết tranh chấp theo con đường trọng tài. Chúng ta thấy thực tế rằng các phán quyết của Trọng tài ở Luật Trọng tài Việt Nam ít khi bị Tòa án bác bỏ hoặc là không thể thi hành án được, hoặc thấy rất ít phán quyết trọng tài bị hủy tại Việt Nam.
So sánh với các nguồn lực và năng lực Thẩm phán tại Việt Nam, với các nguồn lực, năng lực Thẩm phán của tòa nước ngoài và hoạt động Trọng tài Việt Nam, chúng ta thấy việc phán quyết của các Thẩm phán và chất lượng các phán quyết này cần phải được nâng cao để cho bản án không bị kéo dài; khi thi hành án phải thực hiện một cách hoàn chỉnh, nhanh gọn, hạn chế kháng cáo, kháng nghị.
Để đánh giá được thực trạng việc đào tạo và trưng dụng, bổ nhiệm các thẩm phán từ các nguồn thẩm phán có chuyên môn cao thì tôi xin phép trích dẫn báo cáo hoạt động của ngành Tòa án trước năm 2022 theo thông tin từ Tạp chí Tòa án ngày 13/2/2023:
“Kết quả đạt được trong công tác bổ nhiệm, đảm bảo chế độ chính sách và việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các chức danh tư pháp theo Luật Tổ chức TAND năm 2014. Việc tổ chức thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp; thi nâng ngạch Thẩm phán; thi nâng ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án được diễn ra một cách khách quan, công bằng. Từ khi Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực đến nay, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức thành công 15 cuộc thi tuyển chọn, nâng ngạch Thẩm phán; 03 kỳ thi nâng ngạch Thẩm tra viên chính, Thư ký viên chính”
Qua báo cáo này chúng ta chưa thấy Tòa án Nhân dân Tối cao có được báo cáo chi tiết về việc bổ nhiệm Thẩm phán từ các nguồn nhân lực có chuyên môn và sự hiểu biết cao, như lĩnh vực sở hữu trí tuệ, lĩnh vực y tế, hay lĩnh vực công nghệ thông tin.
Do vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án còn có tỷ lệ bị hủy, kháng nghị, kháng cáo chủ yếu xuất phát từ hạn chế về năng lực, chuyên môn và sự phân công chưa hợp lý của đội ngũ Thẩm phán, bên cạnh những bất cập trong quy trình xét xử. Hệ quả là nhiều vụ việc bị kéo dài, có trường hợp tới hơn 12 năm vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Điều này phản ánh rõ thực trạng công tác đào tạo, tuyển dụng và sử dụng Thẩm phán hiện nay, đòi hỏi phải có giải pháp cải cách toàn diện nhằm nâng cao chất lượng phán quyết và bảo đảm hiệu lực pháp luật của bản án.
III – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Thứ nhất, về đào tạo.
Để có được các Thẩm phán có năng lực và trình độ chuyên môn cao, chúng ta cần phải có một không gian kiến thức thật tốt; đảm bảo Thẩm phán có chuyên môn về các lĩnh vực như Sở hữu trí tuệ cao, có kinh nghiệm cuộc sống thật phong phú, am hiểu văn hóa và kỹ năng sống, có năng lực xét xử. Đồng thời, chúng ta cần phải mở rộng mô hình đào tạo Thẩm phán, phải am hiểu đến công nghệ AI và cũng phải biết đến công nghệ không gian ảo, trí tuệ ảo, kỹ năng ảo và có khi còn phải biết cả đến đồng tiền kỹ thuật số, mặc dù Việt Nam chúng ta chưa thừa nhận đồng tiền kỹ thuật số, nhưng trên thực tế đã có sự trao đổi và hoán vị đồng tiền này cho nhau giữa các chủ thể trong xã hội.
Thứ hai, về bổ nhiệm.
Việc chúng ta xây dựng và bổ nhiệm Thẩm phán như đã trích dẫn trên đây, trên thực tế cho thấy các Thẩm phán đã được bổ nhiệm theo một quy trình rất khắt khe, bài bản, là những người được bổ nhiệm đúng quy trình; tuy nhiên, vẫn có những lỗi trong xét xử, án vẫn bị hủy, vẫn bị kháng nghị, dân vẫn kêu oan và sai. Vậy việc bổ nhiệm vẫn đúng, vẫn chuẩn, nhưng án vẫn sai; điều này cho thấy Thẩm phán được phân công chưa đúng, đã xét xử vẫn không đúng với bản chất sự việc, không phù hợp với thực tế khách quan. Vậy Tòa án Tối cao cần phải nghiên cứu lại phương pháp bổ nhiệm Thẩm phán và phân công Thẩm phán, lựa chọn những người thực sự có trình độ và năng lực cần thiết, phù hợp, có sự tham khảo của Luật Trọng tài để có được nguồn Thẩm phán có chuyên môn sâu.
Thứ ba, về xét xử.
Thẩm phán khi xét xử cần phải đánh giá các chứng cứ một cách toàn diện và đầy đủ, phù hợp với thực tế khách quan và công tâm thành lập hội đồng xét xử phải có các hội thẩm có trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung vụ án đang được giải quyết tại cấp sơ thẩm và các Thẩm phán có đủ trình độ và chuyên môn với nội dung vụ án mà các kháng cáo kháng nghị, công khai chuyên môn của hội đồng xét xử để cho các đương sự nắm được và cho đương sự lựa chọn Thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân có chuyên môn cao phù hợp với nội dung vụ án để tham gia xét xử các vụ án có chuyên môn cao.
IV. KẾT LUẬN
Như phần trình bày trên đây tôi nhận thấy lĩnh vực tư pháp của chúng ta còn nhiều vấn đề để đánh giá. Theo chủ trương chính sách của Đảng để đưa đất nước chúng ta vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công nghệ tự động hóa thì ngành Tư pháp cần phải vươn mình, trước hết chúng ta phải vươn mình ngay trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mạnh dạn bổ sung sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, đặc biệt là bổ sung vào chương trình đào tạo và tuyển dụng Thẩm phán, áp dụng các quy định của pháp luật và sửa đổi luật tố tụng nhằm giành quyền lựa chọn Thẩm phán và Hội Thẩm Nhân Dân cho các vụ án có chuyên môn và nội dung cần đòi hỏi người có năng lực và trình độ hiểu biết cao có được như thế sẽ làm hạn chế đi rất nhiều những sai sót trong quá trình xét xử và ban hành bản án.

80 năm - Hành trình vì Công lý và Lẽ phải! ⚖️🇻🇳Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945 - ...
10/10/2025

80 năm - Hành trình vì Công lý và Lẽ phải! ⚖️🇻🇳
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945 - 10/10/2025), Văn phòng luật sư Interla xin gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến toàn thể đội ngũ Luật sư cả nước.
Chúng tôi tự hào tiếp bước truyền thống vẻ vang, không ngừng nỗ lực để giữ vững bản lĩnh, trau dồi chuyên môn, đóng góp vào sự phát triển của nền tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Interla - Đồng hành cùng Công lý!⚖️

Như  bài trước đã nêu, khi những nạn nhân của chiêu trò “ Nâng cấp kỳ nghỉ” tìm tới công ty ghi trên hợp đồng thì khi đế...
25/09/2025

Như bài trước đã nêu, khi những nạn nhân của chiêu trò “ Nâng cấp kỳ nghỉ” tìm tới công ty ghi trên hợp đồng thì khi đến công ty thì giám đốc luôn đi họp, đi công tác… và muốn gặp nhân viên tư vấn, môi giới thì đã được cho là vi phạm kỉ luật công ty và đã nghỉ việc. Vậy để đấu tranh có hiệu quả với những hành vi này chúng ta cần có giải pháp cụ thể nào ngăn chặn kịp thời những chiêu trò này?
Như chúng ta đã biết, một số người già,người cao tuổi sau một thời gian dài lao động vất vả, họ đã tích lũy được một số tiền nhất định và họ thường gửi vào tiết kiệm để lấy lãi, bởi vì họ không đủ tiền để đầu tư bất động sản hay hiểu biết để đầu tư chứng khoán, trái phiếu hay kênh đầu tư trái phiếu khác. Trong khi đó trong thời gian gần đây bất động sản thì tăng chóng mặt, vàng thì liên tục lập đỉnh, nhưng ngược lại lãi suất tiết kiệm thì hầu như không tăng. Chính vì thế mà họ dễ dàng sập bẫy với những chiêu trò đa cấp biến tướng, hứa hẹn trả thưởng, trả hoa hồng cao… “Sở hữu kỳ nghỉ” (timeshare), “ Nâng cấp kỳ nghỉ” hay “mua lại kỳ nghỉ” cũng đều là hoạt động biến tướng của mô hình kinh doanh đa cấp.
Như vậy với hình thức “Sở hữu kỳ nghỉ” (timeshare) thực chất là hoạt động môi giới, bán lại các dịch vụ mà không thuộc sở hữu của họ mà hiện nay theo pháp luật Việt Nam chỉ có 4 lĩnh vực được pháp luật quy định hành nghề môi giới bao gồm: Môi giới bất động sản; Môi giới chứng khoán; Môi giới bảo hiểm; Môi giới việc làm (dịch vụ việc làm), tuy nhiên để được hoạt động trong lĩnh vực này các Doanh nghiệp phải được cấp phép và Người hành nghề phải có chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra theo Luật Thương mại 2005, thương nhân có quyền làm trung gian cho các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (Môi giới thương mại). Trong những hoạt động này đến nay pháp luật của chúng ta chỉ cho phép mua bán chuyển nhượng bất động sản hình thành trong tương lai và đó phải là một sản phẩm cụ thể, của một công ty cụ thể, có quy mô được xác định, pháp lý rõ ràng… và các hợp đồng này đều được chứng thực bởi các văn phòng công chứng. Pháp luật chúng ta không bao giờ muốn hình sự hóa các hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, mọi pháp nhân, cá nhân đều được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên thì các công ty bán các kỳ nghỉ trên có thực sự có phải là chủ các khách sạn, resort đó không? Họ có quyền bán không? Và trong trường hợp cho dù họ có sở hữu một số khách sạn hay Resost nào đó với một số lượng hữu hạn mà họ đem rao bán một số lượng vô hạn thì thử hỏi họ có vi phạm pháp luật không? Trường hợp này không khác gì trường hợp đem một bất động sản bán cho rất nhiều người và đương nhiên chủ bất động đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Để đấu tranh triệt để đối với loại hình đa cấp biến tướng này Với vai trò là luật sư chúng tôi kiến nghị với cơ quan chức năng và khuyến cáo với người dân một số nội dung sau:
1. Đối với cơ quan thực thi pháp luật:
- Có thể áp dung Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023, Nghị định 40/2018/NĐ-CP, và đã được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP về Kinh doanh các sản phẩm không phải là hàng hóa: như dịch vụ, nội dung thông tin số, thuốc, trang thiết bị y tế, thuốc thú y, hóa chất nguy hiểm, trừ khi pháp luật cho phép.
- Tiếp nhận và xử lý theo Điều 11 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023
1. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy định khác của pháp luật về quyền lợi người tiêu dùng, người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lĩnh vực được phân công.
3. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhận được yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này thuộc lĩnh vực quản lý của cơ quan nhà nước khác thì có trách nhiệm chuyển yêu cầu đến cơ quan đó và thông báo cho người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân có liên quan biết.
Tiếp nhận tố cáo và xử lý theo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS 2015.
2. Đối với cơ quan truyền thông, báo chí, tuyên truyền:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật và cảnh báo về các thủ đoạn lừa đảo mới trên truyền thông đại chúng (VTV, báo chí, mạng xã hội...).
3. Đối với doanh nghiệp:
Hoạt động kinh doanh du lịch cần minh bạch, đúng quy định của pháp luật, không được sử dụng chiêu trò gian dối, hứa hẹn phi thực tế nhằm trục lợi.
Phải chịu trách nhiệm rõ ràng về quyền lợi cam kết trong hợp đồng, tránh lập lờ gây hiểu lầm cho khách hàng.
4. Đối với người dân, người tiêu dùng:
Cần nâng cao nhận thức và cảnh giác trước những lời mời chào, đặc biệt là các chương trình "hội thảo miễn phí", "tặng quà miễn phí" để dụ dỗ ký hợp đồng.
Trước khi đặt bút ký vào hợp đồng cần tham khảo ý kiến luật sư, cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hoặc các tổ chức tư vấn pháp luật.
Khi có dấu hiệu bị lừa đảo, cần thu thập đầy đủ chứng cứ (ghi âm, ghi hình, hợp đồng, biên lai chuyển tiền, tin nhắn trao đổi...) và kịp thời gửi đơn tố cáo đến cơ quan công an, viện kiểm sát để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Kết luận:
Qua theo dõi chương trình A lô chào buổi sáng của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1) phản ánh về hoạt động đa cấp biến tướng của hành vi “ Nâng cấp kỳ nghỉ” hay “mua lại kỳ nghỉ”. Dưới góc độ luật sư, chúng tôi rất chia sẻ với những nạn nhân của những chiêu trò này, đặc biệt là những người cao tuổi và sẵn sàng hỗ trợ pháp lý cho họ khi cần thiết. Đồng thời chúng tôi cũng đề nghị với cơ quan tố tụng( Công an, Viện Kiểm sat, Tòa án) sẵn sàng tiếp nhận, thụ lý đơn tố cáo của các bị hai, không đơn thuần coi đây là tranh chấp dân sự thông thường khi có dấu hiệu gian dối rõ ràng, tăng cường điều tra xử lý nghiêm những đường dây lừa đảo có hệ thống. Chúng tôi cũng khuyến cáo người dân nâng cao cảnh giác với những hình thức lừa đảo ngày càng tinh vi và khi đã có thiệt hại rõ ràng thì cần thu thập chứng cứ cụ thể như ghi âm, ghi hình, tin nhắn, biên lai chuyển tiền hay các hợp đồng đã ký kết… đồng thời chủ động làm đơn tố cáo tới cơ quan Công an, phối hợp điều tra để sớm vạch trần các hành vi gian dối để xử lý nghiêm theo pháp luật, trả lại tài sản cho bị hại, uy tín, danh dự cho những doanh nghiệp làm ăn chân chính.
------------------------------------------------------
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ INTERLA
🏢Địa chỉ: Tầng 5, số 398 Trần Khát Chân, P. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội
✉️Email: [email protected]
📞Hotline:
- Ls. Trương Quốc Hoè 0982.169.599
- Ls Nguyễn Thị Quỳnh Thơ 0941.363.596

CÓ DẤU HIỆU LỪA ĐẢO HAY KHÔNG TRONG VIỆC MỜI CHÀO “NÂNG CẤP KỲ NGHỈ”?Trong mục A lô chào buổi sáng ngày 4 và 5/9/2025 củ...
22/09/2025

CÓ DẤU HIỆU LỪA ĐẢO HAY KHÔNG TRONG VIỆC MỜI CHÀO
“NÂNG CẤP KỲ NGHỈ”?

Trong mục A lô chào buổi sáng ngày 4 và 5/9/2025 của Đài truyền hình Việt Nam (VTV 1) có đăng phóng sự về một số phụ nữ lớn tuổi bị dụ dỗ về việc nâng cấp kỳ nghỉ du lịch theo Hợp Đồng Du lịch nghỉ dưỡng trước đó mà họ đã ký với Công ty VNS sau đó tiếp tục bị mất tiền hay bị biến tướng thành Hợp đồng quản lý kỳ nghỉ và cuối cùng tiếp tục bị mất tiền. Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là: “Có dấu hiệu lừa đảo hay không đối với các nhân viên tư vấn, hay nhân viên công ty khi dụ đỗ lôi kéo khách hàng ký những hợp đồng không đúng với quy định của pháp luật.
Trước hết xin được bàn về những hợp đồng Du lịch trọn đời, Một số Báo chỉ đã đăng rất nhiều bài về bẫy lừa đảo như các công ty mời gọi tham dự Hội thảo miễn phí và khi tới dự hội thảo được tư vấn chỉ cần bỏ từ 150 triệu đồng để sở hữu một "kì nghỉ trọn đời" với tiện ích là đi du lịch mỗi năm từ 7 đến 10 ngày trong vòng 30 năm. Nếu không có nhu cầu đi du lịch sẽ được hỗ trợ cho thuê kì nghỉ để kiếm lời. Thậm chí là đi du lịch các nước trên thế giới mà không phải lo về vấn đề thị thực. Không ít người này đã đặt bút kí vào hợp đồng sau khi nghe lời tư vấn của nhân viên công ty du lịch. Người đóng ít thì mất 150 triệu. Người đóng nhiều lên đến cả tỉ đồng.
Không chỉ là bỏ tiền ra để mua kì nghỉ 1 lần, nhân viên của các công ty này còn tư vấn phục người mua nâng cấp hợp đồng để bán hợp đồng cho người khác hoặc mua kì nghỉ tiếp theo với giá ưu đãi hơn để cho thuê kiếm lời. Mỗi lần như vậy, người mua lại bỏ ra thêm vài trăm triệu đồng. Mê cung mua, bán, nâng cấp đã khiến nhiều nạn nhân rơi vào bi kịch vì tin lời của tư vấn viên.
Thực tế, từ đó đến nay, việc cho thuê vẫn chỉ là lời hứa, không có tuần nghỉ nào được thuê. Với những người đã mua kì nghỉ mà muốn sử dụng thì luôn được thông báo là hết phòng. Nhiều nạn nhân đã muốn lấy lại tiền, tố cáo công ty, doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo. Tuy nhiên khi đến tại văn phòng của các công ty này thì không còn hoạt động, tư vấn viên đã nghỉ việc từ lâu.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây là có thể tố cáo nhân viên tư vấn với cơ quan chức năng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay lừa dối khách hàng hay không?
Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào trong trường hợp này:
Pháp luật về hợp đồng dân sự và thương mại
Theo Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dịch vụ phải có điều khoản rõ ràng về đối tượng, quyền lợi, trách nhiệm, chi phí.
Nếu hợp đồng không xác định được quyền lợi cụ thể hoặc chứa điều khoản vô lý, gây bất lợi nghiêm trọng cho người tiêu dùng, có thể bị coi là hợp đồng vô hiệu theo Điều 123 và Điều 124 BLDS (do vi phạm điều cấm hoặc giả tạo).
Pháp luật hình sự về Tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên… thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân tùy giá trị chiếm đoạt.”
Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về "Tội lừa dối khách hàng":
Là hành vi dùng thủ đoạn gian dối trong mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để thu lợi bất chính. Khung hình phạt cho tội này dao động từ phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại và các tình tiết tăng nặng như có tổ chức, tính chuyên nghiệp hay dùng thủ đoạn xảo quyệt.
Vậy chúng ta cần đi sâu phân tích xem các hành vi trên của các nhân viên có dấu hiệu của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay lừa dối khách hàng hay không?
Thứ nhất như phóng sự đã nêu ngay từ đầu nhân viên đã tư vấn “nâng cấp hợp đồng” để dễ chuyển nhượng, dễ cho thuê, hay ký vào hợp đồng có sẵn do họ soạn thảo để dẫn dụ khách hàng tiếp tục bỏ thêm tiền, lún sâu vào vòng xoáy. Đây là thủ đoạn thường thấy trong các mô hình lừa đảo đa cấp: liên tục “bơm niềm tin” để hút thêm tiền. Nhân viên trực tiếp trình bày, thuyết phục, sử dụng kịch bản đã soạn sẵn và họ hoàn toàn biết rõ thông tin sai sự thật mà vẫn tư vấn thì họ có thể bị coi là đồng phạm giúp sức hoặc thực hành tội lừa đảo. Ở đây đã có dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm doạt tài sản gồm: Hành vi gian dối là đưa thông tin sai sự thật, tạo niềm tin giả tạo; hối thúc nạn nhân chuyển tiền để hưởng quyền lợi với mục đích là hưởng lương hoặc phần trăm hoa hồng hay thậm chí là chiếm đoạt luôn. Đối với các nhân viên môi giới, tư vấn này ngay từ ban đầu họ đã biết các sản phẩm họ rao bán là không có thật, hay không phải là hàng hóa, dịch vụ được phép mua bán trao đổi, tuy nhiên họ cho rằng người ký hợp đồng là giám đốc công ty, họ chỉ làm theo chỉ đạo nên bản thân họ không phải chịu trách nhiệm gì cả. Khi thấy các nạn nhân dễ dàng sa vào bẫy, họ tiếp tục sử dụng chiêu trò nâng cấp, mua lại… nhằm tiếp tục chiếm đoạt tiền của người bị hại và chỉ khi nào những người bị hại hết sạch tiền, nhận ra mình bị lừa thì liên tục gọi điện cho họ và ban đầu họ còn hứa hẹn và sau đó xóa số, cắt liên lạc. Có thể xác định các đối tượng trên là người giúp sức hoặc đồng phạm.
Theo khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. trong đó, người đồng phạm bao gồm:
- Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
- Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
- Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Như vậy cho dù những nhân viên tư vấn, môi giới trên có không là người chủ mưu, cầm đầu, thì cũng là người thực hành hay là người xúi giục và đều được coi là đồng phạm.
Thứ hai là bản thân hợp đồng “Sở hữu kỳ nghỉ” (timeshare) là hình thức khách hàng trả một khoản tiền lớn một lần, đổi lại quyền nghỉ dưỡng hằng năm trong một khoảng thời gian dài đã chứa đựng những dấu hiệu lừa đảo ở trong đó như chỉ có cái gọi là kỳ nghỉ chung chung chứ không hề có hợp đồng cụ thể nào như nghỉ tại khách sạn hay resort nảo; thời gian, địa điểm ra sao; phương án đưa đón thế nào…chính vì vậy người bị lừa ký hợp đồng không thể thực hiện được hợp đồng hay được hỗ trợ cho thuê kì nghỉ để kiếm lời như “bánh vẽ” mà các đối tượng đã đưa ra trước đây. Tiếp theo các đối tượng đã tự nhận là nhân viên công ty hối thúc các nạn nhân tiếp tục nộp tiền để nâng cấp hợp đồng hay quản lý hợp đồng để tiếp tục dẫn dụ nạn nhân vào một ma trận mới. Ở đây không thể nói các nhân viên này chỉ làm theo chỉ đạo của công ty hay không hề biết hợp đồng của công ty có dấu hiệu lừa đảo để chối bỏ trách nhiệm, vì các nạn nhân chỉ biết làm việc với tư vấn viên và làm theo tất cả những gì mà nhân viên yêu cầu, vì vậy các nạn nhân hoàn toàn có thể tố cáo các hành vi gian dối trên tới cơ quan chức năng để bảo vệ quyền lợi của mình, tuy nhiên các nạn nhân cần phải có những chứng cứ cụ thể như ghi âm, ghi hình, tin nhắn, biên lai chuyển tiền hay các hợp đồng đã ký kết… qua đó làm cơ sở để các cơ quan chức năng xem xét là tranh chấp dân sự hay có dấu hiệu hình sự.
Thứ ba là các hành vi này được thực hiện nhiều lần, với nhiều người, số tài sản chiếm đoạt lớn, kế hoạch thực hiện có bài bản, có phân công nhiệm vui từ kẻ đánh cắp thông tin, người môi giới, tư vấn cho đến người đứng đầu là giám đốc doanh nghiệp, vậy có thể coi là phạm tội có tổ chức.
Thứ tư là đối với người dân cần trang bị cho mình những kĩ năng tiêu dùng thông minh, cảnh giác tránh để sập bẫy những vấn nạn lừa đảo tràn lan trên không gian mạng, Cần cảnh giác trước lời mời hội thảo, quà tặng miễn phí; nghiên cứu kỹ hợp đồng, xem xét tư cách của người trực tiếp ký hợp đồng với mình là ai và tốt nhất nên tham khảo ý kiến luật sư trước khi ký.

Kết luận:
Qua phân tích, có thể khẳng định: hoạt động “nâng cấp kỳ nghỉ du lịch” trong nhiều trường hợp hiện nay mang dấu hiệu rõ ràng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS 2015. Doanh nghiệp và nhân viên tư vấn đã sử dụng thủ đoạn gian dối, hứa hẹn phi thực tế để buộc khách hàng giao tiền, sau đó không thực hiện cam kết, thậm chí bỏ trốn.
Vấn đề không chỉ là tranh chấp hợp đồng dân sự mà đã chuyển sang bản chất hình sự khi có sự gian dối ngay từ đầu. Vì vậy, người dân cần mạnh dạn tố cáo, cơ quan chức năng cần xử lý nghiêm minh để răn đe, đồng thời Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, góp phần làm trong sạch môi trường kinh doanh du lịch Việt Nam.
------------------------------------------------------
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn xin vui lòng liên hệ:
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ INTERLA
🏢Địa chỉ: Tầng 5, số 398 Trần Khát Chân, P. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội
✉️Email: [email protected]
📞Hotline:
- Ls. Trương Quốc Hoè 0982.169.599
- Ls Nguyễn Thị Quỳnh Thơ 0941.363.596

Address

Quận Hai Bà Trưng
Hanoi
11700

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn Phòng Luật Sư Interla posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Văn Phòng Luật Sư Interla:

Share