20/08/2024
1 sự kiện lớn nhất 5 năm mới có 1 lần, đã có gần 200 chủ doanh nghiệp có mặt, anh chị bán gì đến đó kết nối?
1. Tư vấn pháp luật
2. Giải quyết tranh chấp.
3. Giải pháp kế toán, tài chính trong Doanh nghiệp
1 sự kiện lớn nhất 5 năm mới có 1 lần, đã có gần 200 chủ doanh nghiệp có mặt, anh chị bán gì đến đó kết nối?
Ngày 28/6/2023, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Thông tư 06/2023/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, trong đó bổ sung những nhu cầu vốn không được cho vay.
Theo đó, quy định tổ chức tín dụng không được cho vay đối với 10 nhu cầu vốn cụ thể từ ngày 01/09/2023.
Các doanh nghiệp nếu có 04 nhu cầu về vốn sau đây sẽ không được tổ chức tín dụng cho vay như trước đây:
(1) Để gửi tiền
(2) Để thanh toán tiền góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng cổ phần của công ty cổ phần chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom.
(3) Để thanh toán tiền góp vốn theo hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện dự án đầu tư không đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định của pháp luật tại thời điểm tổ chức tín dụng quyết định cho vay.
(4) Để bù đắp tài chính, trừ trường hợp khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
+ (điều kiện 1): Khách hàng đã ứng vốn của chính khách hàng để thanh toán, chi trả chi phí thực hiện dự án hoạt động kinh doanh, mà các chi phí thực hiện dự án hoạt động kinh doanh này phát sinh dưới 12 tháng tính đến thời điểm tổ chức tín dụng quyết định cho vay;
+ (điều kiện 2) Các chi phí đã thanh toán, chi trả bằng vốn của chính khách hàng nhằm thực hiện dự án hoạt động kinh doanh là các chi phí có sử dụng nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng theo phương án sử dụng vốn đã gửi tổ chức tín dụng để được xem xét cho vay trung, dài hạn nhằm thực hiện dự án hoạt động kinh doanh đó.
Như vậy, so với quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN thì tại Thông tư 06/2023/TT-NHNN bổ sung thêm 04 nhu cầu vốn không được cho vay.
Khi bổ sung nhằm hạn chế hoạt động bù đắp chi phí tài chính, NHNN đã và đang hiện thực hóa và đảm bảo nhu cầu sử dụng vốn cho những dự án đang được triển khai trên thực tế, bao gồm cho vay vốn Ngắn hạn, vốn vay trung và dài hạn theo quy định.
GIAO DỊCH VÔ HIỆU DO CHỦ THỂ KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN KÝ KẾT.
Một chủ thể được quyền trực tiếp tham gia một quan hệ pháp luật khi có đầy đủ năng lực chủ thể, được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật gắn liền với quyền của chủ thể (chủ thể có được phép thực hiện quyền đó hay không) chứ không gắn với khả năng thực hiện quyền đó. Không có năng lực pháp luật, vì vậy, được hiểu là một chủ thể không được phép làm một việc nào đó, kể cả thông qua người đại diện. Nói cách khác, không có năng lực pháp luật thực chất là trường hợp pháp luật không cho phép một chủ thể được thực hiện một số quyền nhất định. Cho nên, việc xử lý những trường hợp không có năng lực pháp luật chính là việc xử lý nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật theo Điều 122 khoản 2 BLDS. Đó là lý do Điều 122 khoản 1 chỉ quy định về điều kiện năng lực hành vi.
Pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân giao kết, thực hiện các giao dịch thông qua người đại diện. Giá trị pháp lý, về phương diện chủ thể của các giao dịch do pháp nhân, tổ chức giao kết sẽ được xem xét trong nội dung Đại diện.
Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác (người được đại diện) có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người khác (người đại diện). Người được đại diện chỉ có thể bị ràng buộc với giao dịch do người khác đại diện thiết lập trong những điều kiện sau đây:
(i) Thứ nhất, về mặt khách quan, người đại diện phải có thẩm quyền đại diện. Thẩm quyền này có thể do pháp luật quy định (đại diện theo pháp luật) hoặc do các bên thỏa thuận (đại diện theo ủy quyền). Vì vậy, một bên trong hợp đồng sẽ không bị ràng buộc bởi hợp đồng này nếu nó được giao kết, thực hiện thông qua một người mang danh đại diện trong khi trên thực tế người này không có thẩm quyền đại diện cho họ.
(ii) Thứ hai, về mặt chủ quan, người đại diện phải hành động nhân danh người đại diện chứ không phải nhân danh chính mình.
(iii) Cuối cùng, người đại diện phải có đủ năng lực hành vi để có thể thể hiện chính xác ý chí.
SBLC là gì và sự khác nhau giữa SBLC và LC
(Phương thức thanh toán trong mua bán thương mại Quốc tế)
SBLC là một dạng thư bảo lãnh thường được phát hành bởi các ngân hàng ở Mỹ và một số nước nơi không được phép phát hành thư bảo lãnh, trong khi LC là một phương thức thanh toán được sử dụng trong giao dịch mua bán hay còn gọi là LC thương mại:
SBLC có một số điểm khác với LC như sau:
Về mục đích thanh toán, nghĩa vụ của ngân hàng phát hành theo SBLC là nghĩa vụ thứ cấp, nghĩa là nghĩa vụ của ngân hàng phát hành chỉ phát sinh khi nghĩa vụ chính không được thực hiện, trong khi nghĩa vụ của ngân hàng phát hành theo LC là nghĩa vụ chính, tức là ngân hàng phát hành mở LC theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và có nghĩa vụ thanh toán khi chứng từ xuất trình phù hợp.
Về quy tắc/luật điều chỉnh, SBLC tuân thủ theo ISP98 hoặc UCP 600, trong khi LC được điều chỉnh bởi UCP 600.
Về chứng từ, SBLC thường chỉ yêu cầu xuất trình yêu cầu đòi tiền kèm theo thư xác nhận của người thụ hưởng xác nhận rằng người yêu cầu phát hành SBLC không hoàn thành nghĩa vụ nào đó, ví dụ, thanh toán tiền hàng theo hợp đồng mua bán, trong khi LC thường yêu cầu chứng từ gửi hàng (shipping documents) bao gồm các chứng từ gốc như Invoice, Bill of Lading, Certificate of Origin, Packing List, Certificate of Inspection…
Trong thời gian gần đây tôi thấy có trường hợp nhiều doanh nghiệp nhập khẩu yêu cầu ngân hàng phát hành SBLC như một bảo lãnh thanh toán thay vì yêu cầu phát hành LC để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Với SBLC nếu nhà nhập khẩu không thanh toán, người thụ hưởng SBLC có thể yêu cầu ngân hàng phát hành SBL thực hiện nghĩa vụ trả thay.
Chưa bàn đến chứng từ giả mạo, với SBLC người thụ hưởng (nhà xuất khẩu) có lợi hơn vì chứng từ giao hàng gốc gửi trực tiếp đến nhà nhập khẩu và người thụ hưởng chỉ cần xuất trình yêu cầu đòi tiền kèm theo thư xác nhận rằng người yêu cầu phát hành SBLC (nhà nhập khẩu) không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng… Do chứng từ yêu cầu theo SBLC đơn giản nên người chứng từ xuất trình dễ phù hợp hơn so với chứng từ xuất trình theo LC.
Xét về giác độ rủi ro, ngân hàng phát hành SBLC sẽ không kiểm soát được hàng hóa do chứng từ gửi hàng bao gồm vận đơn gốc được gửi trực tiếp đến nhà nhập khẩu mà không qua ngân hàng. Do vậy, nhiều ngân hàng kinh nghiệm thường từ chối phát hành SBLC trừ phi họ có các biện pháp hạn chế rủi ro, chẳng hạn như yêu cầu ký nhà nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị SBLC hoặc chỉ phát hành SBLC cho khách hàng có uy tín…
Về việc giả mạo chứng từ, theo Điều 34 UCP 600 ngân hàng không chịu trách nhiệm về tính chân thật hoặ giả mạo của chứng từ. Do vậy, nếu chứng từ xuất trình phù hợp thì ngân hàng phải thanh toán và nhà nhập khẩu có nghĩa vụ phải hoàn trả tiền thanh toán cho ngân hàng phát hành. Nếu nhà nhập khẩu phát hiện rằng yêu cầu đòi tiền của người thụ hưởng là gian dối vì trên thực tế nhà xuất khẩu (người thụ hưởng) không thực hiện giao hàng mà vẫn đòi tiền thì nhà nhập khẩu có thể yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn ngân hàng phát hành SBLC thực hiện thanh toán. Khi nhận được lệnh dừng thanh toán của tòa án, ngân hàng không thể không tuân theo.
Nếu biết chắc rằng người thụ hưởng có gian lận trong việc đòi tiền theo SBLC, ngân hàng phát hành cũng cần cẩn trong trong việc quyết định thanh toán nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng. Tuy nhiên, nếu phải thanh toán, ví dụ trong trường hợp SBLC cho phép chiết khấu và ngân hàng được chỉ định đã thực hiện chiết khấu miễn truy đòi mà không hề biết có sự gian lận, thì việc đó không vi phạm quy định về quản lý ngoại hối
Có cách nào để hạn chế rủi ro cho ngân hàng phát hành lẫn nhà nhập khẩu?
Việc bạn yêu cầu xuất trình một bạn photocopy vận đơn đó cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, nếu như nhà xuất khẩu có chủ ý lừa đảo thì việc giả mạo một bản photocopy vận đơn là quá dễ dàng.
Tôi đề xuất mấy giải pháp sau đây:
1) Nhà nhập khẩu hãy chọn phương thức thanh toán LC thay vì SBLC và ngân hàng nên phát hành LC thay vì SBLC trừ phi có giải pháp hạn chế rủi ro như đã nói ở trên.
2) Nếu vì lý do nào đó phải phát hành SBLC thì:
+ cần phải thực hiện tốt nguyên tắc KNOW YOUR CUSTOMER, tức là phải tìm hiểu rõ nhà xuất khẩu là ai, có uy tín hay không, có khả năng thực hiện giao hàng; tuyệt đối không chơi với nhà xuất khẩu “vô danh tiểu tốt” trên thị trường quốc tế. Nếu cần, ngân hàng có thể giúp nhà nhập khẩu hiểu rõ về nhà xuất khẩu.
+ nên quy định SBLC thanh toán tại ngân hàng phát hành bằng hình thức thanh toán thay vì cho phép chiết khấu hoặc SBLC cho phép thanh toán tại ngân hàng phát hành bằng hình thức trả chậm xx ngày nhằm mục đích bảo đảm hàng hóa đã được giao.
Nguồn: Tham khảo
Cập nhật Bảng giá đất 63 tỉnh thành giai đoạn 2020 - 2024
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 96/2019 về khung giá đất, UBND các tỉnh xây dựng bảng giá đất của địa phương áp dụng cho giai đoạn 2020 - 2024. Dưới đây là bảng giá đất 63 tỉnh thành mới nhất.
1. Quy định về bảng giá đất
* Bảng giá đất do ai ban hành?
Theo khoản 1 Điều 114 Luật Đất đai 2013, bảng giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh).
Bảng giá đất được ban hành căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp định giá đất và khung giá đất (khung giá đất do Chính phủ ban hành). Trước khi ban hành bảng giá đất, UBND cấp tỉnh xây dựng và trình HĐND cùng cấp thông qua.
* Khi nào ban hành bảng giá đất?
Căn cứ khoản 1 Điều 114 Luật Đất đai 2014, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ. Hiện nay các tỉnh đã ban hành bảng giá đất mới, áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024.
* Bảng giá đất dùng để làm gì?
Khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai 2013 quy định bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau:
- Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân.
- Tính thuế sử dụng đất.
- Tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai.
- Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai.
- Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
あなたのビジネスが本物である場合、1年で次のことに注意を払う必要があります。
1. 最低消費税は100万ベトナムドンです
2. 6か月から1年の家賃/オフィスの範囲 は3600万ベトナムドンです
3. 設定、請求書の購入、デジタル署名のためのお金は、1,300万ベトナムドンです。
4. 会計家賃は600万ベトナムドンです.
5. 商品を買うお金
あなたは投資を決める. 投資家がベトナム人の場合、最低費用です.
外国人投資家は資本を証明しなければなりません。ベトナムの外国人の投資プロジェクトは、家を借りること、労働者を雇うこと、および事業費の面で何年間維持しなければなりません..
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.
Căn cứ BLTTDS năm 2015, Luật tổ chức VKSND và Quy chế công tác kiểm sát dân sự, khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Viện kiểm sát nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, VKSND có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
2. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự;
3. Kiểm sát việc Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ; yêu cầu Tòa án xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hoặc tự mình xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện quyền kháng nghị;
4. Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án;
5. Kiểm sát kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
6. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc;
7. Tham gia phiên tòa, phiên họp; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, phiên họp, người tham gia tố tụng tại phiên tòa, phiên họp; phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc tại phiên tòa, phiên họp;
8. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
9. Yêu cầu Tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị;
10. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật;
11. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn thi hành bản án, quyết định của Tòa án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
12. Tiếp nhận, giải quyết đơn đề nghị, thông báo, kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục đặc biệt;
13. Kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (HĐTP TAND) tối cao theo thủ tục đặc biệt;
14. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị khác theo quy định của pháp luật;
15. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Cụ thể:
1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 192 BLTTDS, khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản ghi rõ lí do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Điều 194 BLTTDS cũng quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, VKS cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Chánh án Tòa án cấp trên phải ra quyết định giải quyết. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.
Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý theo dõi, kiểm tra văn bản thông báo thụ lý theo những nội dung được quy định tại Điều 196 BLTTDS; lập phiếu kiểm sát theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Toà án các vi phạm về thời hạn gửi thông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết định chuyển vụ án của Toà án và xem xét kiến nghị với Chánh án Tòa án về việc trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 194 BLTTDS.
Trường hợp Toà án không gửi, chậm gửi thông báo thụ lý hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát hoặc nội dung, hình thức thông báo không đúng quyđịnh của pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu hoặc kiến nghị với Tòa án khắc phục vi phạm.
2. Kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án
Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự. Văn bản thông báo phải có đầy đủ các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 196 BLTTDS.
Sau khi thụ lý vụ việc dân sự, nếu xét thấy vụ việc dân sự đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc cho Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 BLTTDS, đồng thời gửi ngay quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.
3. Tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và phiên họp xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC
3.1. Tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm
Khoản 2 Điều 21 BLTTDS quy định:“ Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này”.
- Các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 BLTTDS Tòa án có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Tuy nhiên, VKSND không tham gia tất cả các phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp dân sự mà chỉ tham gia trong những trường hợp do pháp luật quy định. Điều 21 BLTTDS, Thông tư liên tịch số 02/2016, Quy chế kiểm sát dân sự ban hành kèm theo Quyết định 364/QĐ-VKSNDTC và phải hiểu rõ bản chất các quy định về các trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa. Cụ thể:
Trường hợp thứ nhất, Vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ
Trong trường hợp này, bất cứ vụ án dân sự nào Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì VKS có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa. Việc thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự có nhiều cách thức khác nhau như: Tòa án thu thập theo yêu cầu của đương sự hoặc thu thập theo yêu cầu của VKS hoặc Tòa án tự thu thập khi xét thấy cần thiết. Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án có thể thông qua một hoặc một số biện pháp quy định tại Điều 97 và được quy định cụ thể từ Điều 98 đến Điều 106 BLTTDS 2015.
Trường hợp thứ hai, Vụ án mà đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở
- Đối tượng tranh chấp là tài sản công: tài sản công là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được hình thành từ nguồn do ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Ví dụ: Vụ án dân sự tranh chấp về tài sản của một cơ quan nhà nước mà tài sản đó được mua sắm từ nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.
- Đối tượng tranh chấp là lợi ích công cộng: Lợi ích công cộng là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần liên quan đến xã hội hoặc cộng đồng dân cư.
Ví dụ: Vụ án dân sự do đương sự khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường. Trong trường hợp này, VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.
- Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật, đó là các tranh chấp về quyền sử dụng đất (ai là người có quyền).
Ví dụ: A và B tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất đối với một thửa đất có diện tích là 500 m2 hiện do B đang quản lý, sử dụng. A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc B phải trả lại thửa đất đó cho A. Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia phiên tòa sơ thẩm.
- Đối tượng tranh chấp là nhà ở: Đây là tranh chấp về sở hữu, đối tượng là quyền sở hữu về nhà ở (ai có quyền sở hữu căn nhà)
- Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở
Ví dụ: Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng mua bán nhà ở; tranh chấp về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê nhà ở; tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng tặng cho nhà ở; tranh chấp về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhà ở…)
KSV, KTV khi tiến hành công tác kiểm sát lưu ý: Đối với tranh chấp về hợp đồng có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở đó không phải là đối tượng của hợp đồng, thì không thuộc trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Ví dụ: A vay ngân hàng B số tiền là 500 triệu đồng, đồng thời thế chấp cho ngân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất giá trị 1 tỷ đồng. Đến thời hạn trả nợ, A không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng không xử lý được vì khu đất này đang trong diện quy hoạch, không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng. Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong vụ án dân sự này, đối tượng tranh chấp là khoản tiền A vay ngân hàng chứ không phải là quyền sử dụng đất và nhà ở A dùng để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa.
- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở;
- Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ;
- Tranh chấp trong các giao dịch dân sự khác có đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất, nhà ở.
Trường hợp thứ ba, Vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Là người chưa thành niên: Theo Điều 21 BLDS năm 2015 quy định, người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
- Là người mất năng lực hành vi dân sự: Theo Điều 22 BLDS 2015 quy định, người mất năng lực hành vi dân sự như sau: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
- Là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đối với người này, Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện (Điều 24 BLDS 2015).
- Là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Theo Điều 23 BLDS 2015, đó là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Trường hợp thứ tư Vụ án dân sự chưa có điều luật để áp dụng
Vụ án chưa có điều luật để áp dụng đó là những vụ án mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng tranh chấp đó chưa có điều luật điều chỉnh.
Ví dụ: Tranh chấp về việc bốc mộ, chăm sóc mồ mả hay kiện đòi các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền nhân thân,...những tranh chấp này không thuộc quy định tại Điều 26, 28, 30 và Điều 32 BLTTDS, trước đây Tòa án không giải quyết, nhưng đến nay, cho dù chưa có điều luật điều chỉnh, nhưng Tòa án vẫn phải thụ lý giải quyết. Đối với trường hợp này, VKS bắt buộc phải tham gia phiên tòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, kể từ khi thụ lý, đến khi xét xử sơ thẩm, nếu phát hiện vụ án dân sự thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định phải có VKS tham gia phiên tòa thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho VKS biết để VKS tiến hành nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên tòa sơ thẩm.
- Các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự của Toà án.
Tòa án gửi hồ sơ việc dân sự cùng với quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát ngay sau khi Toà án ra quyết định mở phiên họp. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp theo quy định tại Khoản 1 Điều 367 BLTTDS.
3.2. Tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm
Theo quy định tại các Điều 21 Khoản 3, Điều 294 Khoản 2, Điều 314, Điều 338 và Điều 358 BLTTDS thì Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm giám đốc thẩm, tái thẩm.
Điều 21 khoản 3 quy định “Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”.
Theo quy định tại Điều 292 BLTTDS, sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp nghiên cứu. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của VKS cùng cấp là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, VKS phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm, trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa (Điều 294, Điều 296 BLTTDS)
Theo Điều 314 BLTTDS quy định về thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì khi phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 280 BLTTDS lại quy định Kiểm sát viên VKS cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm quyết định của Tòa án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, việc tham gia phiên họp phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án của VKS là bắt buộc.
3.3 Tham gia phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm:
VKSND tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm, kể cả trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và trường hợp Tòa án kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Quy định Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm xuất phát từ lý do thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt, không phải là một cấp xét xử, nhằm xem xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đã được đưa ra thi hành, thậm chí có thể đã thi hành xong. Phiên toà, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ tiến hành khi có căn cứ cho rằng có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ việc trước đó (phiên tòa giám đốc thẩm), hoặc có tình tiết mới quan trọng (phiên tòa tái thẩm). Xuất phát từ tính chất quan trọng của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát phải tham gia các phiên tòa, phiên họp để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Trong trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp. VKS nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, VKS phải chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm (Khoản 2 Điều 336 BLTTDS).
3.4 Tham gia phiên họp xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC:
Theo quy định tại Điều 358 BLTTDS, trường hợp xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kể cả trường hợp Viện trưởng VKSNDTC kiến nghị và không có kiến nghị xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC.
4. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
4.1 Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm
Điều 262 BLTTDS quy định; " Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án".
Để bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 và quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định tại Điều 234 của BLTTDS năm 2004, Điều 262 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
- Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 262 Bộ luật TTDS và hướng dẫn tại Điều 28 của Thông tư liên tịch số; 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016.
Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, sau khi những người tham gia tố tụng trình bày, giải thích, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 369 BLTTDS.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, và ngay sau khi kết thúc phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự.
Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật (bao gồm cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng) của những người tham gia tố tụng. mà còn phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
4.2. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm
Theo qui định tại Điều 306 và Khoản 4 Điều 314 BLTTDS năm 2015 và Điều 30 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao Quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số qui định của BLTTDS 2015 (sau đây gọi tắt là Thông tư 02/2016) thì phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phải đánh giá, nhận xét đầy đủ phần thủ tục cả những việc chấp hành đúng và những hạn chế vi phạm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành hành tố tụng khác; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; phần quan điểm của Viện kiểm sát đối với kháng cáo, kháng nghị, đề xuất hướng giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 308 và Khoản 5 Điều 314 BLTTDS năm 2015. Trong đó, Kiểm sát viên phải phân tích rõ ràng, chính xác, cụ thể từng phần như: tư cách của người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần hay toàn bộ kháng cáo hay không. Đối với vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị, bản phát biểu của Kiểm sát viên cần trình bày rõ thêm căn cứ của kháng nghị, phân tích chứng cứ tài liệu bổ sung làm căn cứ kháng nghị, bảo vệ kháng nghị; bác bỏ hay chấp nhận ý kiến của đương sự, người tham gia tố tụng khác về căn cứ, nội dung kháng nghị. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp và phải gửi cho Tòa án ngay sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ án và hồ sơ kiểm sát.
4.3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm
Về trình bày kháng nghị Giám đốc thẩm, Tái thẩm và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Thông tư liên tịch số 02/2016, mẫu số 39 Quyết định 204, trường hợp do Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị thì tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung, tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị. Nếu Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu trình bày về căn cứ kháng nghị thì Kiểm sát viên phân tích làm rõ thêm các căn cứ, tình tiết trong hồ sơ mà bản án phúc thẩm chấp nhận hoặc không chấp nhận không có căn cứ, vi phạm pháp luật. Về phát biểu ý kiến giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên đề xuất một trong những nội dung quy định tại các Khoản 2,3,4,5 Điều 243 BLTTDS năm 2015.
* Về phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm do Chánh án kháng nghị:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Thông tư liên tịch số 02/2016, mẫu số 40 Quyết định 204, trường hợp Chánh án Tòa án kháng nghị thì tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị; căn cứ đơn đề nghị của đương sự, thời hạn kháng nghị, thẩm quyền và nội dung của quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân đã theo đúng hoặc không đúng một trong các điều Điều 328, Điều 329, Điều 333 và Điều 334 BLTTDS năm 2015; kháng nghị đối với vi phạm pháp luật trong bản án là có (hoặc không có) cơ sở; là cần thiết hoặc không cần thiết.
Trường hợp kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân không có căn cứ hoặc có nội dung trong kháng nghị không có căn cứ và không nhất trí với kháng nghị hoặc một phần kháng nghị, thì Kiểm sát viên phát biểu quan điểm không nhất trí với toàn bộ kháng nghị hoặc một phần của kháng nghị.
Ngoài ra, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản án, quyết định bị kháng nghị, Kiểm sát viên có thể phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm xem xét giải quyết những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 342 BLTTDS năm 2015:“Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án”.
Cũng cần lưu ý, trường hợp Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc đốc thẩm xem xét giải quyết những vấn đề quy định tại khoản 2 Điều 342 BLTTDS phải viện dẫn quy định pháp luật có liên quan để kết luận phần quyết định của bản án, quyết định đã “xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba…”
Về trình bày, phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên yêu cầu, đề nghị, kiến nghị tại phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm theo quy định tại Điều 51 Quy chế 364.
Về ý kiến đề xuất giải quyết vụ án Giám đốc thẩm, Tái thẩm khi xem xét kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên căn cứ vào điều 343 BLTTDS.
4. Kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự của Toà án
4.1. Các quyết định về nội dung bao gồm:
- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212);
- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214);
- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 217);
- Quyết định giải quyết việc dân sự (Điều 370);
- Quyết định giám đốc thẩm (Điều 348);
- Quyết định tái thẩm (Điều 357);
- Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Điều 360).
4.2. Các quyết định về tố tụng bao gồm:
- Quyết định chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác (Điều 41 Bộ luật TTDS);
- Quyết định nhập hoặc tách vụ án (khoản 3 Điều 42 Bộ luật TTDS);
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 2 Điều 139 Bộ luật TTDS);
- Quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc quyết định yêu cầu TA cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện.... (Điều 194);
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Điều 220 Bộ luật TTDS);
- Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Điều 233 Bộ luật TTDS);
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (Điều 290 Bộ luật TTDS);
- Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm (Điều 296 Bộ luật TTDS);
- Quyết định đưa vụ án ra xét theo thủ tục rút gọn (Điều 318 BLTDS).
4.3. Kiểm sát quyết định của Tòa án để thực hiện quyền kiến nghị
- Quyết định chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác (Điều 41 Bộ luật TTDS);
- Quyết định nhập hoặc tách vụ án (khoản 3 Điều 42 Bộ luật TTDS);
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 2 Điều 139 Bộ luật TTDS);
- Quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc quyết định yêu cầu TA cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện.... (Điều 194);
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Điều 220 Bộ luật TTDS);
- Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Điều 233 Bộ luật TTDS);
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (Điều 290 Bộ luật TTDS);
- Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm (Điều 296 Bộ luật TTDS);
- Quyết định đưa vụ án ra xét theo thủ tục rút gọn (Điều 318 BLTDS).
4.4. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án để thực hiện quyền kháng nghị
- Bản án dân sự sơ thẩm, dân sự phúc thẩm
- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212);
- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214);
- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 217);
- Quyết định giải quyết việc dân sự (Điều 370);
- Quyết định giám đốc thẩm (Điều 348);
- Quyết định tái thẩm (Điều 357);
- Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Điều 360).
Khi nhận được các loại quyết định và bản án nói trên, cán bộ, Kiểm sát viên được phân công phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát và hồ sơ kiểm sát theo mẫu hướng dẫn; kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định. Trường hợp phát hiện vi phạm về thời hạn Tòa án gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát hoặc bản án, quyết định vi phạm về hình thức, sai sót về nội dung không nghiêm trọng thì tập hợp để báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án.
Trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì báo cáo Viện trưởng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ; bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật) hoặc đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm).
Quá trình kiểm sát bản án, quyết định, xét thấy cần thiết để bảo đảm việc kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc để bảo vệ quan điểm kháng nghị tại phiên tòa, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hoặc làm văn bản yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Viện kiểm sát hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định tại khoản 4 Điều 85, khoản 2 Điều 94 BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 4 của Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT.
Như vậy, khi thực hiện kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, nếu phát hiện có vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật.
5. Kiểm sát vụ án dân sự theo thủ tục Sơ thẩm.
5.1. Kiểm sát các hoạt động tố tụng bắt đầu phiên tòa sơ thẩm
- Điều 22 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự quy định: Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng. Như vậy có thể nói, Kiểm sát viên sẽ tham gia và kiểm sát các hoạt động của Thư ký tòa án trước khi hội đồng xét xử vào làm việc.
- Kiểm sát viên phải nắm chắc được những căn cứ quy định tại Điều 53, Điều 54 BLTTDS năm 2015, đó là các căn cứ xác định thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án có thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi. Nếu phát hiện có những căn cứ thấy rằng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc Thư ký tòa án thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Hội đồng xét xử quyết định việc thay đổi người đó hoặc ra quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án.
- Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên phải kiểm tra tư cách pháp lý của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác theo quy định tại các Điều 68, 75, 77, 79, 81 BLTTDS năm 2015,
- Kiểm sát viên có quyền đề nghị hoãn phiên tòa nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, các điều 227, 229, 230, 231, 232, 241 và các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật TTDS.
5.2. Kiểm sát thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
- Đối với việc tham gia kiểm sát tại phiên tòa trong giai đoạn tranh tụng Kiểm sát viên cần căn cứ vào các điều luật từ Điều 247 đến Điều 261 BLTTDS năm 2015.
5.3. Kiểm sát viên tham gia hỏi tại phiên tòa sơ thẩm
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLTTDS năm 2015, thì Kiểm sát viên tham gia hỏi sau khi những người tham gia tố tụng, chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân đã hỏi xong.
5.4. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm
Căn cứ quy định tại Điều 262 BLTTDS năm 2015 thì sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, theo đề nghị của chủ tọa phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.
Để bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 và quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định tại Điều 234 của BLTTDS năm 2004, Điều 262 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
- Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 262 Bộ luật TTDS và hướng dẫn tại Điều 28 của Thông tư liên tịch số; 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016.
- Căn cứ tại các điều 262, 306, khoản 3 Điều 341, điểm g khoản 1 Điều 369, điểm c khoản 1 Điều 375 quy định: Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc. Đây là điểm cần chú ý trong thực hiện công tác kiểm sát của Kiểm sát viên.
5.4. Kiểm sát viên kiểm sát việc tuyên án
- Căn cứ vào các điều Điều 266, 267 BLTTDS năm 2015. Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuyên án của Hội đồng xét xử
6. Kiểm sát vụ án dân sự theo thủ tục Phúc thẩm.
6.1. Hoạt động kháng nghị phúc thẩm
- Đối tượng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
- Thời hạn kháng nghị theo trình tự phúc thẩm của người có thẩm quyền tùy theo đối tượng kháng nghị phúc thẩm là bản án hay quyết định sơ thẩm và chủ thể kháng nghị là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm hay Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để áp dụng theo quy định tại Điều 280 BLTTDS 2015.
Về nội dung và hình thức kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Khoản 1 Điều 279 BLTTDS 2015 và Điều 33 Quy chế Công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theo Quyết định 364/QĐ-VKSNDTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
6.2. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm
- Kiểm sát viên trình bày căn cứ, nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát và xuất trình tài liệu chứng cứ bổ sung (nếu có). Kiểm sát viên chú ý lắng nghe đương sự trình bày nội dung, căn cứ kháng cáo, trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử; ý kiến của các đương sự không kháng cáo, người tham gia tố tụng khác, lời khai của người làm chứng…
- Kiểm sát viên kiểm sát việc hỏi và công bố tài liệu chứng cứ, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm theo qui định tại Điều 303 BLTTDS năm 2015
- Tại phiên tòa phúc thẩm có kháng nghị của Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên tranh luận với đương sự về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự có ý kiến đối với kháng nghị của Viện kiểm sát theo qui định tại khoản 3 Điều 305 BLTTDS năm 2015.
- Theo qui định tại Điều 306 và Khoản 4 Điều 314 BLTTDS năm 2015 và Điều 30 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao Quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số qui định của BLTTDS 2015 (sau đây gọi tắt là Thông tư 02/2016) thì phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phải đánh giá, nhận xét đầy đủ phần thủ tục cả những việc chấp hành đúng và những hạn chế vi phạm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành hành tố tụng khác; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; phần quan điểm của Viện kiểm sát đối với kháng cáo, kháng nghị, đề xuất hướng giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 308 và Khoản 5 Điều 314 BLTTDS năm 2015.
7. Kiểm sát vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn.
7.1. Một số vấn đề lưu ý khi thực hiện kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn
Để thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp về thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng và cụ thể hóa qui định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân về xét xử tập thể, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, BLTTDS năm 2015 qui định thủ tục rút gọn là thủ tục được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự có đủ điều kiện với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo đúng pháp luật.
Thực hiện kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn thì áp dụng những nội dung dưới đây; trường hợp những nội dung dưới đây không đề cập thì áp dụng những qui định khác tương ứng như kiểm sát vụ án dân sự theo thủ tục thông thường.
+ Kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
Khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn của Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải kiểm tra đối chiếu các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo qui định tại Điều 317 BLTTDS năm 2015; kiểm sát về thời hạn ban hành, nội dung, hình thức cũng như việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 318 BLTTDS năm 2015. Thông qua việc kiểm sát nếu phát hiện quyết định của Tòa án có vi phạm thì báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét kiến nghị với Tòa án để khắc phục vi phạm.
7.2. Kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn
+ Giai đoạn sơ thẩm
- Về thời hạn tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn được qui định cụ thể, chặt chẽ nên Kiểm sát viên quan tâm kiểm sát việc thực hiện thời hạn tố tụng của Tòa án.
- Việc tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn vẫn thực hiện qui định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên là 03 ngày kể từ ngày Viện Kiểm sát nhận hồ sơ do Tòa án chuyển đến theo qui định tại khoản 3 Điều 318 BLTTDS năm 2015.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên kiểm sát việc Thẩm phán tiến hành hòa giải theo qui định tại khoản 3 Điều 320 BLTTDS năm 2015.
- Thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải riêng mà Thẩm phán thực hiện công việc này ngay sau khi khai mạc phiên tòa. Khi kiểm sát việc hòa giải tại phiên tòa do Thẩm phán chủ trì cần lưu ý về thời hạn sau khi các đương sự hòa giải thành về toàn bộ các vấn đề giải quyết vụ án thì họ có thời gian cân nhắc những vấn đề đã hòa giải thành là 07 ngày. Sau thời hạn này, Thẩm phán ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới qui định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS năm 2015 thì Kiểm sát viên kiến nghị Tòa án chuyển vụ án sang thủ tục thông thường.
- Các hoạt động kiểm sát khác của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa và sau phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn được thực hiện như qui định kiểm sát xét xử sơ thẩm theo thủ tục thông thường.
+ Giai đoạn Phúc thẩm
-Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định theo qui định tại khoản 2 Điều 322 BLTTDS năm 2015.
- Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát phúc thẩm là 05 ngày kể từ khi nhận hồ sơ do Tòa án chuyển đến trong trường hợp đương sự kháng cáo hoặc Viện kiểm sát cấp sơ thẩm kháng nghị phúc thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 323 BLTTDS năm 2015.
8. Kiểm sát thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
8.1. Hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
- Theo qui định tại khoản 1 Điều 327 của BLTTDS năm 2015 thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm. Đồng thời tại khoản 2 Điều 327 BLTTDS năm 2015 qui định về việc Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm theo qui định tại Điều 331 BLTTDS năm 2015.
+ Đối tượng, thẩm quyền, thời hạn kháng nghị Giám đốc thẩm, Tái thẩm
- Đối tượng kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm và Tái thẩm là các bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật.
- Thẩm quyền kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm, Tái thẩm là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp trừ Quyết định của HĐTP TANDTC.
- Thời hạn kháng nghị Giám đốc thẩm: thời hạn kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Khoản 1 Điều 334 BLTTDS năm 2015 và trong trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 334 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được kéo dài thêm 2 năm.
- Thời hạn kháng nghị Tái thẩm: thời hạn kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm là 1 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm quy định tại Điều 352 theo quy định tại Điều 355 BLTTDS năm 2015.
- Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm, Tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát được thực hiện theo quy định tại Điều 333 BLTTDS năm 2015, Điều 48 Quy chế 364 và mẫu số 31 Quyết định 204/QĐ-VKSTC.
- Về nội dung đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị Giám đốc thẩm trên cơ sở thẩm quyền của HĐXX Giám đốc thẩm được quy định tại Điều 343 BLTTDS năm 2015
8.2. Kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm
- Trước phiên tòa
+ Kiểm sát viên xem xét tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị; căn cứ đơn đề nghị kháng nghị của đương sự; thời hạn kháng nghị; thẩm quyền và nội dung kháng nghị có đúng hay không theo qui định tại các điều 326, 327, 331, 333, 334 BLTTDS năm 2015 (trong trường hợp kháng nghị giám đốc thẩm) và các Điều 352, 353, 354, 355 BLTTDS (trong trường hợp kháng nghị tái thẩm), đề xuất hướng giải quyết vụ án, báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp cao hoặc VKSNDTC nhất trí hay không nhất trí kháng nghị.
- Tại phiên tòa
+ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự theo qui định tại khoản 1 Điều 338 và Điều 357 BLTTDS năm 2015. Trong mọi trường hợp Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không phụ thuộc vào việc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao hay Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao kháng nghị hay không.
+ Kiểm sát viên kiểm sát thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu đến khi Hội đồng xét xử ra quyết định:
* Kiểm sát thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký và Thẩm tra viên: Xem trường hợp nào phải từ chối hoặc thay đổi khi tiến hành tố tụng. Xem xét việc xét xử với thành phần Ủy ban Thẩm phán của Tòa án cấp cao 03 người hay toàn thể và Hội đồng thẩm phán TANDTC là 05 người hay toàn thể.
* Kiểm sát việc triệu tập và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác theo qui định tại khoản 2 Điều 341 BLTTDS.
* Kiểm sát việc cung cấp và công bố tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.
* Kiểm sát Hội đồng xét xử nghị án, biểu quyết và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án theo qui định tại khoản 4, 5 và 6 Điều 341, Điều 342, Điều 343, Điều 356 và Điều 357 BLTTDS năm 2015.
* Kiểm sát biên bản phiên tòa theo qui định tại Điều 236 BLTTDS năm 2015.
+ Các hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
* Trình bày nội dung và căn cứ kháng nghị của Viện trưởng VKSND cấp cao hoặc Viện trưởng VKSNDTC.
* Công bố tài liệu chứng cứ mới do Viện Kiểm sát thu thập để làm rõ hơn nội dung kháng nghị (nếu có).
* Tranh luận với các chủ thể về kháng nghị của Viện kiểm sát. Các chủ thể này có thể là thành viên HĐXX hoặc đương sự và những người tham gia tố tụng khác nếu họ được triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm.
* Kiểm sát viên thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị: Yêu cầu HĐXX công bố tài liệu chứng cứ mới, đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa khi cần thiết. Trường hợp HĐXX không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên vẫn tiếp tục tham gia phiên tòa và thực hiện quyền hạn trách nhiệm theo qui định.
* Về trình bày kháng nghị Giám đốc thẩm, Tái thẩm và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Thông tư liên tịch số 02/2016, mẫu số 39 Quyết định 204, trường hợp do Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị thì tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung, tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị. Nếu Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu trình bày về căn cứ kháng nghị thì Kiểm sát viên phân tích làm rõ thêm các căn cứ, tình tiết trong hồ sơ mà bản án phúc thẩm chấp nhận hoặc không chấp nhận không có căn cứ, vi phạm pháp luật. Ví dụ Hội đồng xét xử giám đốc thẩm đề nghị trình bày căn cứ của nhận định “Hợp đồng bảo lãnh thế chấp tài sản” của hợp đồng tín dụng là vô hiệu, Kiểm sát viên phải chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ chứng minh vô hiệu về hình thức hoặc vi phạm về nội dung do tài sản bảo lãnh không thuộc quyền sở hữu của người bảo lãnh…
Về phát biểu ý kiến giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên đề xuất một trong những nội dung quy định tại các Khoản 2,3,4,5 Điều 243 BLTTDS năm 2015.
* Về phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm do Chánh án kháng nghị:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Thông tư liên tịch số 02/2016, mẫu số 40 Quyết định 204, trường hợp Chánh án Tòa án kháng nghị thì tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị; căn cứ đơn đề nghị của đương sự, thời hạn kháng nghị, thẩm quyền và nội dung của quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân đã theo đúng hoặc không đúng một trong các điều Điều 328, Điều 329, Điều 333 và Điều 334 BLTTDS năm 2015; kháng nghị đối với vi phạm pháp luật trong bản án là có (hoặc không có) cơ sở; là cần thiết hoặc không cần thiết.
-Về trình bày, phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên yêu cầu, đề nghị, kiến nghị tại phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm theo quy định tại Điều 51 Quy chế 364.
Về ý kiến đề xuất giải quyết vụ án Giám đốc thẩm, Tái thẩm khi xem xét kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên căn cứ vào điều 343 BLTTDS năm 2015.
- Kiểm sát sau phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
Sau phiên tòa Giám đốc thẩm, Tái thẩm, Kiểm sát viên phải thực hiện báo cáo kết quả xét xử Giám đốc thẩm, Tái thẩm và kiểm sát quyết định Giám đốc thẩm, Tái thẩm theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 Quy chế kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự.
9. Kỹ năng kiểm sát thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
91. Kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC với Hội đồng thẩm phán TANDTC xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu hồ sơ vụ án, đơn vị nghiệp vụ xác định những nội dung kiến nghị và báo cáo Viện trưởng VKSNDTC. Để thận trọng và xem xét tổng thể, Viện trưởng VKSNDTC nên triệu tập cuộc họp Ủy ban kiểm sát VKSNDTC để tham khảo ý kiến về dự thảo kiến nghị. Văn bản kiến nghị của Viện trưởng với Hội đồng thẩm phán TANDTC về xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC phải chặt chẽ, logic về hình thức, nội dung, đảm bảo tính có căn cứ pháp luật và đề xuất hướng giải quyết vụ án tiếp theo theo qui định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 358 BLTTDS năm 2015.
9.2. Nghiên cứu yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội và kiến nghị, đề nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Đơn vị nghiệp vụ của Viện KSNDTC nghiên cứu hồ sơ và đề xuất quan điểm của Viện trưởng VKSNDTC về yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo qui định tại khoản 1 Điều 359 BLTTDS.
Trong trường hợp cần thiết, đơn vị nghiệp vụ VKSNDTC trao đổi với các cơ quan và người có thẩm quyền liên quan đến yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
Đơn vị nghiệp vụ trình văn bản dự thảo của Viện trưởng VKSNDTC đối với yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
9.3. Tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét đề nghị, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng VKSNDTC và của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Viện trưởng VKSNDTC hoặc Phó Viện trưởng VKSNDTC được Viện trưởng ủy quyền và đại diện đơn vị nghiệp vụ của VKSNDTC tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán TANDTC xem xét kiến nghị, đề nghị theo qui định tại khoản 4 Điều 358 BLTTDS năm 2015. Khi tham dự phiên họp này, Viện trưởng VKSNDTC và đại diện đơn vị nghiệp vụ có nhiệm vụ kiểm sát thành phần, thủ tục, nội dung xem xét và quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC về kiến nghị và đề nghị của cơ quan và người có thẩm quyền theo qui định tại khoản 2, điểm a, d, đ, e, g khoản 3 Điều 359 BLTTDS năm 2015.
Viện trưởng VKSNDTC tranh luận, trao đổi những vấn đề cần thiết đề Hội đồng thẩm phán TANDTC xem xét, quyết định.
- Viện trưởng VKSNDTC phát biểu quan điểm về kiến nghị, đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền. Nội dung phát biểu của Viện trưởng VKSNDTC phải trình bày những nội dung, căn cứ kiến nghị, đề nghị; phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản những quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC; quan điểm và lý do của Viện trưởng VKSNDTC nhất trí hay không nhất trí với kiến nghị, đề nghị; ý kiến của Viện trưởng VKSNDTC phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký của Viện trưởng và phải gửi cho TANDTC trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên họp theo qui định tại điểm b, c khoản 3 Điều 359 BLTTDS.
9.4. Tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán TANDTC về xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC
Viện trưởng VKSNDTC hoặc Phó Viện trưởng VKSNDTC được Viện trưởng ủy nhiệm phải tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán TANDTC về xem xét lại Quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC theo qui định tại khoản 6 Đi
Hanoi
Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn pháp luật & giải quyết tranh chấp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.
Send a message to Tư vấn pháp luật & giải quyết tranh chấp: