Công ty Luật TNHH Tài Trí

Công ty Luật TNHH Tài Trí Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Công ty Luật TNHH Tài Trí, Lawyer & Law Firm, Số 9 Duy Tân, Hanoi.

10/10/2023

Chào mừng ngày truyền thống của toàn thể Luật sư Việt Nam!
Chúc cho toàn thể Quý Luật sư luôn mạnh khỏe và thành công!

Chính phủ bàn hành Nghị quyết về việc uỷ quyền quyết quyết định giá đất củ thể:
08/05/2023

Chính phủ bàn hành Nghị quyết về việc uỷ quyền quyết quyết định giá đất củ thể:

19/11/2022

Kính chúc Quý Thầy Cô luôn mạnh khoẻ và thành công trong sự nghiệp trồng người!

28/10/2022

CHỈ THỊ SỐ: 13/CT-TTg NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2022
CHỈ RA TỒN TẠI, BẤT CẬP CỦA THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Theo nội chỉ thị Chính phủ đã chỉ ra một số tồn tại, bất cập cần tập trung tháo gỡ về thị trường Bất động sản như sau là: hệ thống pháp luật liên quan đến thị trường bất động sản còn một số nội dung chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn, chưa được bổ sung, sửa đổi kịp thời; việc phát triển các dự án bất động sản ở một số địa phương không theo quy hoạch và kế hoạch, chưa phù hợp với nhu cầu của thị trường; trình tự thủ tục đầu tư còn được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau, qua nhiều bước nên thời gian thực hiện thủ tục đầu tư bị kéo dài; quy định giao dịch bất động sản không bắt buộc qua sàn đã tạo cơ sở cho việc hình thành nên các “dự án ma”, các vụ việc lừa đảo khách hàng, mặt khác nhà nước cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý thông tin về thị trường bất động sản, đồng thời xảy ra tình trạng thất thu thuế, thất thu cho ngân sách nhà nước; công tác quản lý nhà nước chưa chặt chẽ, chưa kịp thời, chưa đáp ứng tốt yêu cầu quản lý...

Chúc mừng ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10!
20/10/2022

Chúc mừng ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10!

Chào mừng ngày truyền thống Luật sư Việt Nam 10/10!LS Đào Tài LS Phạm Đức Phi!
09/10/2022

Chào mừng ngày truyền thống Luật sư Việt Nam 10/10!
LS Đào Tài LS Phạm Đức Phi!

05/10/2022

Giá trị pháp lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay trước thời điểm bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực, sự khác biết của quy định pháp luật qua từng giai đoạn cho đến nay? Việc áp dụng quy định pháp luật để giải quyết?
Để chủ đề có tính thực tế hôm nay tôi sẽ phân tích thông qua dữ liệu tóm tắt một vụ kiện chúng tôi đang giải quyết sau đây:
“Ông A (gọi là bên bán) và bà B (gọi là bên mua) thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tháng 12 năm 1995 bằng văn bản viết tay với giá là 20 triệu đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Bên mua đã thực hiện bàn giao đủ số tiền trên, nhưng sau khi nhận tiền Bên bán không hỗ trợ Bên mua thực hiện các thủ tục sang tên và tiến hành bàn giao đất cho bên bán như thỏa thuận. Không những không thực hiện theo thỏa thuận mà Bên bán còn tiến hành khởi kiện ra tòa yêu cầu Tòa án huyện D tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu với lý do hợp đồng không tuân thủ về mặt hình thức vào năm 2017. Đối với yêu cầu khởi kiện trên của Bên bán, Bên mua không đồng ý và cho rằng thời điểm này pháp luật chưa buộc các bên phải thực hiện công chứng khi nhận chuyển nhượng QSD đất nên có đơn phản tố yêu cầu bên bán phải tiếp tục thực hiện hợp đồng”.
Đối với tình huống trên tôi không đi sâu vào việc giải quyết vụ việc mà tập trung nói về việc áp dụng Quy phạm pháp luật và quy định pháp luật qua từng giai đoạn:
Theo quy định tại khoản 1 điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định:
“Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.
Căn cứ vào quy định trên thì Luật đất đai năm 2003 và 2013, Luật dân sự năm 2005 và 2015 cũng không được áp dụng. Vậy còn 3 văn bản cần phải lưu ý đó là Pháp lệnh về hợp đồng năm 1991, Luật đất đai năm 1993 và Bộ luật dân sự năm 1995, nhưng Luật dân sự năm 1995 theo Nghị quyết ngày 28 tháng 10 năm 1995 về việc thi hành Bộ luật dân sự quy định:
“Điểm 1. Theo quy định tại khoản 1 Nghị quyết thì Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 có hiệu lực từ ngày 1/7/1996”.
Như vậy bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực ban hành sau thời điểm thực hiện giao dịch ngày 02 tháng 12 năm 1995 cho nên cũng không được áp dụng. Trong trường hợp này cần bám theo quy định của Pháp lệnh về hợp đồng năm 1991 Luật đất đai năm 1993 điều chỉnh ra sao để áp dụng.
Theo quy định tại Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định:
“Điều 13. Hình thức của hợp đồng
1- Các bên có thể giao kết hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản.
2- Đối với các loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản, đăng ký, hoặc có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước, thì các bên phải tuân theo các quy định đó.”
Theo quy định ở trên luật không xác định những loại hợp đồng nào phải tuân thủ về mặt hình thức là có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước. Đồng thời Luật đất đai năm 1993 cũng quy định rất chung chung như sau:
“Điều 31
1- Thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Uỷ ban nhân dân xã; ở đô thị làm tại Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
2- Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Uỷ ban nhân dân huyện; ở đô thị làm tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.
Vậy khi quy định pháp luật không thể hiện rõ và xác định được đối tượng phải tuân thủ về mặt hình thức tại thời điểm trước khi bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực thì việc thực chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay vẫn có giá trị pháp lý. Đồng thời căn cứ vào quy định của điểm a khoản 1 điều 99, điều 100 luật đất đai 2013 và tinh thần Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 6 tháng 1 năm 2017 về sửa đổi, bổ sung một sô nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai, nhà nước đã gián tiếp thừa nhận bằng việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất những trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai bằng giấy viết tay.
Mặt khác khi các bên thực hiện giao dịch tại thời điểm bộ luật dân sự 1995, 2005, 2015 có hiệu lực thì nên lưu ý các trường hợp quy định sau đây để biết rõ hơn.
Theo quy định tại điều 139 BLDS năm 1995 về “Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức”:
“Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự vô hiệu, nếu không được thể hiện bằng văn bản, không được Công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng ký hoặc cho phép, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện, thì giao dịch vô hiệu. Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại”
Tại điểm b, khoản 2.2 điều 2 mục I nghị quyết của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao số 01/2003/nq-hđtp ngày 16 tháng 4 năm 2003 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình quy định rất củ thể về trường hợp này như sau:
“b. Hợp đồng mua bán nhà ở vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm d tiểu mục 2.1 mục 2 này.
Đối với hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do không tuân thủ điều kiện về hình thức của hợp đồng, khi có tranh chấp và theo yêu cầu của một hoặc các bên Toà án áp dụng Điều 139 BLDS để ra quyết định buộc một hoặc các bên phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn một tháng, kể từ ngày Toà án ra quyết định thực hiện các thủ tục để hoàn thiện về hình thức của hợp đồng. Nếu có một bên đương sự vắng mặt thì thời hạn này tính từ ngày bên đương sự vắng mặt nhận được quyết định của Toà án”
Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định tương tự như sau:
“Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.”
Căn cứ quy định trên khi tiến hành giải quyết vụ án đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức thì Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng về hình thức trong 30 ngày nếu không thực hiện thi giao dịch vô hiệu.
Tuy nhiên, theo quy định tại điều 129 BLDS 2015 về việc “Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức” thì pháp luật sẽ công nhận hiệu lực của hợp đồng nếu các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba hợp đồng và các bên không phải thực hiện việc công chứng chứng thực. Cụ thể như sau:
“Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật trên thì có sự khác nhau về giữa BLDS 1995, 2005 và 2015. Pháp luật dân sự 2015 không bắt buộc trong thời hạn 30 ngày các bên buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng quy định về hình thức nếu không giao dịch sẽ vô hiệu. Mà thay vào đó BLDS 2015 sẽ công nhận hiệu lực của hợp đồng nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba giao dịch và không phải tiếp tục thực hiện công chứng chứng thực. Còn nếu chưa thực hiện ít nhất hai phần ba thì mặc định là vô hiệu “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu”
Trở lại với tình huống trên theo ý kiến chủ quan tôi cho rằng: Nếu áp dụng các quy định tại Pháp lệnh hợp đồng dân sư 1991 và Luật đất đai năm 1993 thì giấy viết tay vẫn có giá trị pháp lý cho nên thực tiễn xét xử có thể Tòa án sẽ chấp yêu cầu phản tố của bên mua mà bác yêu cầu khởi kiện của bên bán.

05/10/2022

Làm nhục người khác với tình tiết sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội
Hiện nay tình hình tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Trong đó, tội Làm nhục người khác, có tình tiết sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội, thì còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Quy định của pháp luật và các cách hiểu
BLHS 2015 được thông qua đã sửa đổi, bổ sung nhiều Điều, khoản, điểm đối với một số loại tội phạm, trong đó có tội “Làm nhục người khác” được quy định tại Điều 155, thuộc Chương XIV Các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Tuy nhiên, qua tham khảo một số trường hợp đối tượng có hành vi đăng clip, ảnh khỏa thân nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác vẫn còn một số quan điểm khác nhau về định tội danh, định khung hình phạt.
Ví dụ: Nguyễn Văn A và Nguyễn Thị B có quan hệ tình cảm với nhau (trong những lần đi chơi, A và B có quan hệ tình dục – A có quay video clip và lưu trong điện thoại của A để lưu giữ làm kỷ niệm). Sau khi quen biết một thời gian, chị B phát hiện A đã có gia đình nên B chủ động chấm dứt mối quan hệ với A. A cố gắng níu kéo nhưng không được nên bực tức, khoảng 10 giờ ngày 11/3/2019, A sử dụng điện thoại đăng nhập mạng xã hội Zalo bằng tài khoản của mình, sau đó đăng tải đoạn clip cảnh quan hệ tình dục giữa A và B lên trang cá nhân nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị B.
Sau khi được một số người bạn gọi điện báo tin, chị B ngay lập tức gọi điện yêu cầu A xóa đoạn clip nói trên và đến 23 giờ cùng ngày, A đã gỡ đoạn clip trên khỏi tài khoản của mình. Ngày 12/3/2019, chị B trình báo sự việc đến Công an huyện X và có đơn yêu cầu xử lý A về hành vi làm nhục. Quá trình xác minh, A đã thừa nhận toàn bộ hành vi đăng tải video clip quan hệ tình dục có hình ảnh B khỏa thân với mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị B. Ngày 25/4/2019, chị B có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố đối với A; Cơ quan CSĐT Công an huyện X chưa khởi tố vụ án. Về hướng xử lý đối với trường hợp trên, có các quan điểm sau:
Có quan điểm thứ nhất cho rằng, A đã có hành vi đăng tải video clip quan hệ tình dục giữa A và B – hình ảnh khỏa thân của chị B lên mạng xã hội Zalo nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Hành vi của A đã xâm phạm đến khách thể được Nhà nước và pháp luật bảo vệ đó là quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Điều 155 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: (a) Phạm tội 02 lần trở lên; (b) Đối với 02 người trở lên; (c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; (d) Đối với người đang thi hành công vụ; (đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình; (e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; (g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%...”
Do đó, hành vi của A đã cấu thành tội “Làm nhục người khác” quy định tại Điều 155 của Bộ luật này. Mặc dù, A đã có hành vi sử dụng mạng thông tin điện tử (mạng xã hội Zalo) để đăng tải clip nói trên, tuy nhiên hiện nay do chưa có hướng dẫn thế nào là “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” nên hành vi của A chỉ cấu thành tội “Làm nhục người khác” quy định tại khoản 1 Điều 155. Vì vậy, đối với việc chị B có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố, Cơ quan CSĐT Công an huyện X trong trường hợp này phải căn cứ khoản 8 Điều 157 BLTTHS để ra quyết định không khởi tố vụ án.
Quan điểm khác cho rằng, phải xử lý A về tội “Làm nhục người khác” với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 BLHS 2015 vì A đã sử dụng điện thoại thông minh và mạng Internet để phát đăng tải clip nhằm mục đích xúc phạm danh dự chị B. Đối với việc chị B có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện X có trách nhiệm giải thích với chị B vụ việc không thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.
Tác giả cho rằng, phải xử lý A về tội Làm nhục người khác với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 BLHS 2015.
Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông
Về đánh giá mức độ “nghiêm trọng” của hành vi của A khi sử dụng điện thoại đăng tải clip cảnh quan hệ tình dục giữa A và B trên trang cá nhân của mình phải căn cứ vào thái độ, nhận thức của người phạm tội trong tổng thể các yếu tố khách quan khác như: tính chất hành vi; thời gian hành vi diễn ra; dư luận xã hội hay các yếu tố về phong tục tập quán, truyền thống của người Việt Nam… Trong trường hợp này, mặc dù chị B đã có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố, tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng không nên chỉ căn cứ vào lý do này để xác định mức độ nghiêm trọng hành vi của A. Tác giả cho rằng dư luận xã hội, các yếu tố về đạo đức, phong tục và truyền thống của người Việt Nam trong trường hợp này cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm xác định mức độ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của chị B do hành vi của A gây ra. Bên cạnh đó, hành vi của A khi đăng clip quan hệ tình dục với chị B trong một khoảng thời gian dài (13 tiếng) trên một trang mạng xã hội (Zalo) – hiện đang có số người dùng rất lớn và phổ biển tại Việt Nam là hành vi hết sức nguy hiểm. Bởi lẽ, đoạn clip nói trên hoàn toàn có thể lây lan nhanh chóng trên các trang mạng xã hội khác (Facebook, Twitter, …) với tốc độ rất nhanh; một số đối tượng có thể lưu trữ đoạn clip và phát tán trên các trang mạng “đen”. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật, chị B không có quyền yêu cầu lại khi đã tự nguyện rút đơn. Do đó, mặc dù tại thời điểm xảy ra vụ việc, chị B chưa hoàn toàn nhận thức được mức độ nghiêm trọng do hành vi A gây ra cho mình, Điều tra viên thụ lý vụ việc cần nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trong việc phân tích, từ đó xác định tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội để kịp thời giải thích, hướng đẫn người bị hại hiểu được quyền và lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả pháp lý của việc rút đơn yêu cầu khởi tố.
Về cách hiểu như thế nào là “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 BLHS, tác giả nêu ra 03 cách tiếp cận đối với tình tiết này như sau:
+ Cách tiếp cận thứ nhất: Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, Điều 3 Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12 tháng 12 năm 2017 về Luật Viễn thông, Luật Kế toán năm 2015 thì mạng là khái niệm chung để chỉ mạng viễn thông (cố định, di động, Internet), mạng máy tính (WAN, LAN). Trong đó:
+ Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác.
+ Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông.
+ Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.
+ Dịch vụ ứng dụng viễn thông là dịch vụ sử dụng đường truyền dẫn viễn thông hoặc mạng viễn thông để cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, thông tin, y tế, giáo dục và lĩnh vực khác.
+ Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.
+ Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.
Từ những định nghĩa trên, ta có thể xác định rằng điện thoại di động là một phương tiện điện tử viễn thông dùng để trao đổi (gửi, truyền, nhận) thông tin (gồm: tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác) trên các nền tảng mạng, trong đó bao gồm cả mạng xã hội (Zalo, Facebook...). Do vậy, việc A có hành vi sử dụng điện thoại đăng nhập mạng xã hội Zalo bằng tài khoản của mình, sau đó đăng tải đoạn clip quay cảnh quan hệ tình dục với chị B – khi B đang khỏa thân lên trang cá nhân nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm đã thỏa mãn khái niệm về tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155.
+ Cách tiếp cận thứ hai: Dựa trên Công văn số 196/TANDTC – PC ngày 04 tháng 9 năm 2018 của TANDTC về hướng dẫn việc áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 BLHS – tức tình tiết “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” đối với tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Chúng ta có thể vận dụng linh hoạt Công văn trên để áp dụng tương tự đối với tình tiết sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội làm nhục người khác theo Điều 155 BLHS. Theo Công văn 196 của TANDTC, việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến. Khi đối chiếu cụm từ “trực tuyến” trong hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc sang hành vi làm nhục người khác, chúng ta có thể đánh giá như sau: thay vì A dẫn chị B đến công viên rồi có hành vi cởi đồ của chị B sau đó người khác trông thấy nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của B (đây là hành vi làm nhục trực tiếp), thì việc A sử dụng điện thoại đăng nhập mạng xã hội Zalo bằng tài khoản của mình, sau đó dùng mạng Internet đăng đoạn clip quay cảnh quan hệ tình dục với chị B – khi B đang khỏa thân lên trang cá nhân nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm (đây là hành vi làm nhục trực tuyến). Do đó cần xử lý A theo điểm e khoản 2 Điều 155 BLHS.
+ Cách tiếp cận thứ ba: tại điểm a khoản 1 Điều 288 BLHS 2015 quy định về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông”, cụ thể: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 117, 155, 156 và 236 của Bộ luật này.
Qua phân tích đánh giá, có thể nhận thấy rằng đối với mọi hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định pháp luật sẽ bị xử lý về tội quy định tại Điều 226 BLHS. Tuy nhiên, tại điểm a khoản 1 Điều này đã phân định rõ khách thể xâm hại của hành vi khách quan nói trên như sau:
+ Những hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái quy định pháp luật nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân nói riêng hay xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông nói chung sẽ bị truy cứu TNHS theo các điểm khoản quy định tại Điều 288 BLHS.
+ Ngược lại, cũng với các hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái quy định pháp luật nhưng nếu xâm phạm đến một trong những loại khách thể sau thì tùy từng trường hợp sẽ xử lý thành các tội cụ thể khác với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” hoặc “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội” (trừ Điều 117 sẽ xử lý thông qua tình tiết định khung tại các điểm a, b, c khỏan 1 Điều này) như: xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác (tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống); xâm phạm đến sự thống nhất về tư tưởng chính trị trong xã hội nhằm de dọa sự vững mạnh của chính quyền nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam); xâm phạm đến truyền thống văn hóa của dân tộc, sự quản lý của Nhà nước về việc duy trì, phát triển nếp văn hóa văn minh (tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy). Do vậy, việc đăng ảnh khỏa thân, clip mang tính kích dục lên mạng xã hội là hành vi mang tính chất đồi trụy, đã phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc – đây là hành vi Nhà nước nghiêm cấm theo điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; A thực hiện hành vi nói trên với mục đích nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị B nên hành vi của A đã cấu thành tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 BLHS.
Tóm lại, từ những hướng tiếp cận trên, theo quan điểm của tác giả hành vi sử dụng điện thoại đăng nhập mạng xã hội Zalo bằng tài khoản của mình, sau đó đăng tải đoạn clip cảnh quan hệ tình dục với mục đích làm nhục, đã cấu thành tội “Làm nhục người khác” quy định tại Điều 155 BLHS 2015 với tình tiết định khung tăng nặng tại điểm e khoản 2 Điều này với hành vi “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội”. Việc xử lý thích đáng, triệt để hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác dưới hình thức sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử sẽ góp phần phòng ngừa chung cho toàn xã hội trước loại hình tội phạm đang có chiều hướng diễn biến phức tạp này./.
(Nguồn: Tạp chí Tòa án).

05/10/2022

Nguyên tắc chung về áp dụng pháp luật khi xét xử
Pháp luật chính là các quy phạm pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, có hiệu lực từ 01/7/2016) thì: “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được nhà nước bảo đảm thực hiện”.
Luật và bộ luật được gọi chung là luật. Theo quy định về Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) thì:
– Có giá trị cao nhất là Hiến pháp (khoản 1).
– Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội có giá trị ngang nhau và chỉ dưới Hiến pháp.
– Còn nhiều văn bản dưới luật như: Nghị quyết liên tịch, lệnh của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của các bộ…(từ khoản 3 đến khoản 14 Điều 4).
– Văn bản pháp luật thấp nhất là Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 15 Điều 4).
Như vậy, luật (bao gồm cả bộ luật) là một bộ phận của pháp luật nhưng là bộ phận có giá trị pháp lý cao nhất ( chỉ dưới Hiến pháp và ngang với Nghị quyết của Quốc hội). Cũng vì giá trị pháp lý cao như vậy nên chỉ Quốc hội mới được ban hành luật.
Đối với pháp luật hiện hành (đang có hiệu lực) thì khi viện dẫn thường không nêu tên của luật gắn với năm ban hành nhưng khi nêu tên những pháp luật cũ thì phải gắn với năm ban hành. Ví dụ: Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Đất đai năm 2003… Cần lưu ý là năm được nêu gắn với tên văn bản quy phạm pháp luật là năm ban hành văn bản chứ không phải là năm có hiệu lực của văn bản.
2. Việc áp dụng pháp luật khi xét xử có khác biệt gì cơ bản so với việc thi hành pháp luật chung?
Việc áp dụng pháp luật để xét xử có những khác biệt cơ bản với việc thi hành pháp luật chung. Việc thi hành pháp luật chung chủ yếu là việc chấp hành, tuân theo quy định của pháp luật đang có hiệu lực hiện hành.
Ví dụ: Người đi mua nhà ở vào năm 2016 thì phải ký kết hợp đồng theo đúng quy định của Luật Nhà ở 2013; người làm nhiệm vụ đăng ký kết hôn cho người xin đăng ký kết hôn vào năm 2015 thì phải kiểm tra các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Đối với người áp dụng pháp luật để xét xử thì có khác. Đối với những quy định pháp luật hình thức, tức là pháp luật tố tụng thì cũng là áp dụng pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi tố tụng. Ví dụ: Cũng là vụ án dân sự ấy, xử sơ thẩm trước ngày 01/7/2016 (ngày có hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) thì thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, xử phúc thẩm sau ngày 01/7/2016 thì thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng năm 2015. Còn đối với pháp luật nội dung, trong nhiều trường hợp, pháp luật chưa có hiệu lực đã phải áp dụng và pháp luật đã hết hiệu lực vẫn phải áp dụng.
2.1. Pháp luật chưa có hiệu lực đã phải áp dụng là pháp luật nào?
Đó thường là các quy định của pháp luật hình sự. Một nội dung quan trọng của chính sách hình sự phù hợp với chính sách nhân đạo, tiến bộ là không áp dụng quy định mới nặng hơn với những hành vi đã xảy ra trước đó và áp dụng sớm những quy định có lợi cho bị can, bị cáo. Những quy định có lợi cho bị can, bị cáo thường được áp dụng ngay từ khi công bố chứ không phải chờ đến khi luật mới có hiệu lực. Chính vì vậy, trong việc áp dụng pháp luật hình sự thì thời điểm “công bố luật” cũng có ý nghĩa rất quan trọng.
Ví dụ: Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người tham gia đánh bạc với mức tiền từ 2 triệu đồng trở lên là phải chịu trách nhiệm hình sự (phạm tội đánh bạc). Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người tham gia đánh bạc với mức tiền 5 triệu đồng trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố ngày 19/12/2015 và ngày có hiệu lực là ngày 01/01/2018. Kể từ ngày bộ luật hình sự mới được công bố, 2 năm tiếp theo tuy chưa có hiệu lực nhưng quy định mới về mức tiền 5 triệu đồng là quy định có lợi cho những người có hành vi đánh bạc nên nếu họ đã tham gia với mức tiền 2 triệu đồng trở lên nhưng chưa tới 5 triệu đồng thì họ không bị kết tội đánh bạc. Quy định này được áp dụng cho cả những người đã tham gia đánh bạc trước ngày công bố luật mới mà sau ngày công bố luật mới mới bị phát hiện hoặc bị xem xét xử lý.
2.2. Pháp luật đã hết hiệu lực vẫn phải áp dụng là pháp luật nào?
Pháp luật dân sự là loại điển hình thuộc diện pháp luật đã hết hiệu lực vẫn phải áp dụng. Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực”. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án phải xác định ai đã xử sự hợp pháp, ai vi phạm pháp luật, một chủ thể phải chịu hậu quả thế nào về xử sự của họ. Đế xác định những vấn đề này phải căn cứ vào pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi. Những hành vi xảy ra đã lâu, nay mới có tranh chấp, cần xem xét tính hợp pháp thì phải áp dụng pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi mặc dù pháp luật này đã không còn hiệu lực ở thời điểm xem xét.
Ví dụ: Một người lập di chúc vào năm 1995, đã chết năm 2000, nay các thừa kế mới tranh chấp thừa kế tài sản. Để xác định di chúc có hợp pháp không phải căn cứ vào pháp luật thừa kế ở thời điểm lập di chúc (1995) là Pháp lệnh Thừa kế chứ không thể áp dụng pháp luật thừa kế ở thời điểm tranh chấp (2019) là Bộ luật Dân sự năm 2015; mặc dù Pháp lệnh Thừa kế đã hết hiệu lực từ khi có Bộ luật Dân sự năm 1995 thay thế (01/7/1996).
Pháp luật hình sự cũng có trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ đã hết hiệu lực. Đó là trường hợp pháp luật quy định trách nhiệm pháp lý mới hoặc trách nhiệm nặng hơn thì chỉ được áp dụng pháp luật cũ. Ví dụ: Một người có hành vi phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vào năm 1990 và trốn tránh đến năm 2010 mới bị phát hiện và đưa ra xét xử thì chỉ được áp dụng pháp luật ở thời điểm phạm tội (có mức hình phạt tối đa là 12 năm tù theo Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985) chứ không thể áp dụng pháp luật ở thời điểm xét xử với quy định nặng hơn (Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định xử phạt đến tù chung thân).
Khi xét xử các vụ án hành chính, Tòa án cũng thường xuyên phải áp dụng pháp luật cũ. Đó là những văn bản pháp quy về quản lý hành chính ở thời điểm ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính, mặc dù ở thời điểm xét xử thì những văn bản pháp quy này đã hết hiệu lực.
3. Một số vấn đề cơ bản về lựa chọn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
3.1. Quy định chung
Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.
Như vậy, nguyên tắc chung nhất là hành vi xảy ra ở thời điểm nào thì áp dụng pháp luật ở thời điểm đó. Chỉ áp dụng cho hành vi xảy ra trước, còn gọi là “hồi tố”, nếu có văn bản pháp luật quy định việc hồi tố (quy định ngay trong văn bản đó hoặc văn bản khác).
Ví dụ: Cũng là việc mua bán nhà ở nhưng nếu mua bán vào năm 2003 thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực từ 01/7/1996 đến 31/12/2005); nếu mua bán vào năm 1993 thì áp dụng Pháp lệnh Nhà ở (có hiệu lực từ 01/7/1991 đến 30/6/1995); nếu mua bán vào 1983 thì áp dụng Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quy định hồi tố có thể kể đến là quy định tại khoản 5 Nghị quyết Thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995, đó là: Những quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 về chuyển quyền sử dụng đất “có hiệu lực áp dụng kể từ ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực”. Như vậy là những quy định này có hiệu lực hồi tố đối với việc chuyển quyền sử dụng đất xác lập từ trước 01/7/1996.
3.2. Quy định khác nhau về cùng một vấn đề
Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.
Hiệu lực pháp lý của các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định ở Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Điều 4 có 15 khoản, cao nhất là Hiến pháp (khoản 1), thấp nhất là Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 15). Các loại văn bản trong cùng một khoản của điều luật là văn bản có giá trị pháp lý ngang nhau. Ví dụ: Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý ngang nhau (cùng được quy định tại khoản 2 Điều 4).
Theo quy định của khoản 2 Điều 156 nêu trên thì khi cùng quy định về một vấn đề mà lại quy định khác nhau và văn bản đều cùng còn hiệu lực thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn.
Ví dụ: Trong vụ án xin ly hôn, khi Tòa án hòa giải mà kết quả là vợ chồng đồng ý trở về đoàn tụ thì theo quy định tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án ra Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành. Cũng về vấn đề này, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì Tòa án ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Bộ luật có giá trị pháp lý cao hơn Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán. Do đó, từ thời điểm Bộ luật có hiệu lực (01/01/2005), Tòa án không ra Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành nữa mặc dù Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP vẫn có hiệu lực.
3.3. Cùng một cơ quan ban hành mà quy định khác nhau
Khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quy phạm pháp luật ban hành sau”.
Cùng một cơ quan ban hành tức là có hiệu lực pháp lý ngang nhau và đều đang có hiệu lực thi hành. Ban hành sau là có hiệu lực sau về thời gian.
Ví dụ: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 do Quốc hội ban hành, có hiệu lực từ 01/7/2016. Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại Điều 2 là: “Đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 thì áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QHH11 đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12.”
Như vậy, theo quy định của Nghị quyết 103/2015/QH13 nêu trên thì vụ việc phát sinh trước 01/01/2017 sẽ áp dụng quy định về thời hiệu theo luật cũ. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 ( điểm d khoản 1 Điều 688) lại quy định giao dịch xác lập trước 01/01/2017 thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”, tức là theo luật mới. Quy định về thời hiệu của pháp luật cũ và pháp luật mới có rất nhiều khác biệt. Ví dụ thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của pháp luật cũ là 10 năm nhưng theo pháp luật mới là 30 năm kể từ ngày mở thừa kế”.
Do cùng cơ quan ban hành là Quốc hội, quy định cùng về một vấn đề là thời hiệu mà có nội dung khác nhau nên phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau là Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017, Nghị quyết 103/2015/QH13 có hiệu lực ngày 25/11/2015).
3.4. Trường hợp quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn
Khoản 4 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới”. Không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn được áp dụng hồi tố phải được hiểu là không gây bất lợi cho các chủ thể liên quan khác. Trường hợp quy định trách nhiệm nhẹ hơn đối với một chủ thể nhưng đồng thời tăng trách nhiệm cho chủ thể tương ứng thì không thể coi là thuộc trường hợp nêu trên. Ví dụ: Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là: “Tùy từng trường hợp, xét tính chất của giao dịch dân sự vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 146).
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này là: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 137).
Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về trường hợp bị tịch thu có nội dung chỉ tịch thu khi có quy định của pháp luật. Đây là quy định có tính giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người có tài sản, hoa lợi, lợi tức thuộc giao dịch vô hiệu so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995. Quy định này có lợi cho các bên tham gia vào giao dịch vô hiệu chứ không làm tăng trách nhiệm của chủ thể nào. Vì vậy, quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 được áp dụng cho cả những giao dịch vô hiệu xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực. Đó cũng là lý do hình thành hướng giải quyết của Tòa án (từ 01/01/2006) cho người đứng tên hộ trong giao dịch mua nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người nhờ đứng tên được chia nhau khoản lợi từ việc mua nhà, chuyển nhượng đất (chênh lệch giá giữa thời điểm tranh chấp với thời điểm giao dịch) mà không bị tịch thu khoản lợi này.
4.Một số lưu ý cụ thể về áp dụng pháp luật khi xét xử
4.1.Lưu ý về áp dụng Bộ luật Hình sự
Nói chung, các bộ luật hình sự đều có quy định hồi tố với những quy định có lợi cho người phạm tội, tức là được áp dụng cho những người đã có hành vi trước khi luật có hiệu lực nhưng sau khi có hiệu lực mới phát hiện hoặc xử lý. Các quy định có lợi đó là:
– Xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng;
– Quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới;
– Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích;
– Các quy định khác có lợi cho người phạm tội, kể cả việc thay đổi một yếu tố làm cho trách nhiệm của người phạm tội giảm đi.
Những quy định bất lợi cho người phạm tội không được áp dụng cho người phạm tội trước khi luật có hiệu lực mà sau này mới phát hiện và xử lý.
Những quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng ngay từ khi luật mới được công bố chứ không phải từ khi luật mới có hiệu lực.
Bộ luật Hình sự năm 2015 có thời gian từ khi công bố đến khi có hiệu lực là rất dài (công bố ngảy 09/12/2015 nhưng sau đó lùi ngày có hiệu lực để sửa đổi, bổ sung, đến 01/01/2018 mới có hiệu lực). Trong 2 năm từ khi công bố đến khi có hiệu lực thì những quy định có lợi cho người phạm tội đã được áp dụng. Tuy nhiên cần chú ý có 2 giai đoạn là từ 09/12/2015 đến 02/7/2017 thì áp dụng những quy định có lợi của Bộ luật 100/2015/QH13 (bộ luật chưa sửa đổi, bổ sung), từ 03/7/2017 đến 31/12/2017 thì áp dụng những quy định có lợi của Luật số 12/2017/QH14 (bộ luật đã sửa đổi, bổ sung).
Một đặc biệt cần lưu ý là: Đối với một số tội tuy Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm nhưng người phạm các tội này trước khi bộ luật mới có hiệu lực (01/01/2018) đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Đó là các tội: Hoạt động phỉ (Điều 93); Đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149); Kinh doanh trái phép (Điều 159); Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165). Các tội này nếu sau ngày 01/01/2018 mới bị phát hiện thì không áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
4.2. Quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và pháp luật chuyên ngành
Bộ luật Dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự. Là luật chung không có nghĩa luật khác (luật chuyên ngành) không được quy định khác với luật chung. Phạm vi chi phối của luật chung đối với luật chuyên ngành được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 là: “Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”. Tuy nhiên, những nguyên tắc quy định ở Điều 3 là những nguyên tắc lớn, khi làm các luật chuyên ngành đã phải tuân theo nên hầu như không có tình trạng luật chuyên ngành vi phạm Điều 3 mà vẫn tồn tại để lựa chọn áp dụng. Do đó, khi có sự quy định khác nhau thì thường là quy định của luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng.
Ví dụ: Về tặng cho bất động sản, Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký” nhưng Luật Nhà ở năm 2005 lại quy định ở thời điểm “hợp đồng được công chứng”. Như vậy là quy định của Luật Nhà ở khác Bộ luật Dân sự nhưng không vi phạm những nguyên tắc quy định ở Điều 3 nên quy định của Luật Nhà ở (ban hành sau) được ưu tiên áp dụng.
Trong trường hợp Bộ luật Dân sự có quy định nhưng luật chuyên ngành không quy định thì những quy định của Bộ luật Dân sự lại được áp dụng (khoản 3 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Ví dụ: Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định việc chia tài sản cho người vợ sống chung với gia đình người chồng hoặc người chồng sống chung với gia đình người vợ khi vợ chồng ly hôn. Đối với người con đã thành niên có đóng góp vào tài sản chung của cha mẹ, nay cha mẹ ly hôn, người con muốn chia tài sản thì không thuộc trường hợp quy định theo Điều 61 nêu trên mà phải áp dụng quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung của Bộ luật Dân sự (Điều 219 ).
5. Lưu ý về áp dụng các văn bản hướng dẫn thi hành luật
5.1. Hiệu lực của văn bản
Khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”. Tuy nhiên, pháp luật áp dụng là pháp luật tương ứng ở thời điểm thực hiện hành vi nên đã áp dụng luật cũ thì cũng đương nhiên phải áp dụng hướng dẫn thi hành luật cũ.
Ví dụ: Giải quyết tranh chấp việc mua bán nhà ở vào năm 2000 thì phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực từ 01/7/1996 đến 31/12/2005). Khi xem xét vấn đề đặt cọc thì phải áp dụng văn bản hướng dẫn thi hành Điều 363 của Bộ luật Dân sự năm 1995 là Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003.
Trong một văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành thường quy định nhiều vấn đề, cả về pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng. Do đó, các vấn đề trong văn bản hướng dẫn cũng có thời điểm hết hiệu lực khác nhau tương ứng với văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn.
Ví dụ: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là văn bản hướng dẫn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong văn bản này có cả một số quy định về tố tụng như quy định nếu hòa giải đoàn tụ thành thì phải ra quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành. Quy định này không còn hiệu lực ở thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực (01/01/2005). Theo quy định của Bộ luât Tố tụng thì khi hòa giải đoàn tụ thành sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, những quy định khác của Nghị quyết để hướng dẫn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực (01/01/2015).
Văn bản được hướng dẫn hết hiệu lực thì văn bản hướng dẫn cũng hết hiệu lực. Tuy vậy, quy định của pháp luật mới không khác với quy định cũ thì nội dung hướng dẫn cũ vẫn có giá trị tham khảo thi hành.
Ví dụ: Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có một số nội dung hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003. Khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (01/7/2014) thì Luật Đất đai năm 2003 hết hiệu lực, các nội dung của Nghị quyết hướng dẫn Luật Đất đai năm 2003 cũng hết hiệu lực. Tuy nhiên, nội dung của Nghị quyết hướng dẫn xác định chênh lệch giá (giữa thời điểm giao dịch với thời điểm giải quyết tranh chấp) là một khoản thiệt hại phải bồi thường không trái với quy định nào của luật mới nên nội dung hướng dẫn này vẫn tiếp tục được áp dụng.
5.2. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn
Lần đầu tiên pháp luật có quy định về việc phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp. Đó là quy định tại Điều 221 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Những văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị là một trong các loại sau:
– Có dấu hiệu trái Hiến pháp;
– Có dấu hiệu trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;
– Có dấu hiệu trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
– Có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Trình tự kiến nghị là: Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết. Chánh án Tòa án đang giải quyết đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
Trong thời hạn một tháng kể từ khi có kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao mà không có trả lời bằng văn bản thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để tiếp tục giải quyết vụ án.
Riêng trong tố tụng hành chính thì Chánh án Tòa án các cấp có quyền trực tiếp kiến nghị đối với các văn bản quy phạm pháp luật được quy định phân cấp theo Điều 112 Luật Tố tụng hành chính.
(Nguồn: Tạp chí Tòa án - tác giả: Chu Xuân Minh - Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Address

Số 9 Duy Tân
Hanoi

Telephone

+84988597182

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật TNHH Tài Trí posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công ty Luật TNHH Tài Trí:

Share