Luật 89

Luật 89 - Chúng tôi rất vui lòng hỗ trợ tư vấn pháp luật liên quan đến lĩnh vực doanh

Hiện nay, rất nhiều Tòa án đang lúng túng trong việc áp dụng giữa Điều 65 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Cụ thể:Điều 65 Bộ ...
10/05/2021

Hiện nay, rất nhiều Tòa án đang lúng túng trong việc áp dụng giữa Điều 65 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Cụ thể:

Điều 65 Bộ luật hình sự quy định:
"Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự”

Điều 38 Bộ luật hình sự quy định:
“…Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.”

Để giải đáp các vướng mắc này, ngày 6/5/2021, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn số 58/TANDTC-PC về việc xác định thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo: “… thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Trường hợp trong thời gian thử thách nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian họ đã bị tạm giữ, tạm giam này vào bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới.”

Án treo không phải là hình phạt, do vậy việc không trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc của pháp luật hình sự.

Viết bởi Team Luật 89

CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH KHI KHỞI KIỆN DÂN SỰTrước khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực, Hội đồng thẩm phán Tòa án ...
23/07/2020

CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH KHI KHỞI KIỆN DÂN SỰ

Trước khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sử đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (sau đây gọi tắt là Nghị Quyết 04).

Hiện tại, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 đang có hiệu lực, theo quy định Nghị Quyết 04 hết hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị Quyết hướng dẫn về Chứng minh và chứng cứ vẫn được áp dụng. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ chia sẻ với các bạn về vấn đề chứng cứ và chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 trên tinh thần của Nghị quyết 04 và thực trạng chứng cứ, chứng minh khi giải quyết các vụ án trên thực tế.

Theo Quy định tại Điều 6, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự”

Khi nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân (gọi tắt là đương sự) có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi khởi kiện, đương sự có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ bằng cách thu thập chứng cứ. Việc thu thập chứng cứ có thể từ các cá nhân, hoặc tổ chức, cơ quan Nhà nước – nơi đang lưu giữ hồ sơ tài liệu có liên quan.

NẾU KHÔNG ĐƯA RA ĐƯỢC CHỨNG CỨ CHỨNG MINH THÌ SAO???

Tại khoản 5 Điều 189 bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định “…Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.”

Trường hợp, đương sự đã đi xác minh, thu thập chứng cứ nhưng cơ quan Nhà nước không cung cấp, đương sự có thể đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.

Tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát”.
Cũng tại khoản 4 Điều 91 quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”

Tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP quy định “đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ”

Tại khoản 2 Điều 24 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự.

Viết bởi:

Đôi nét về hệ thống Tòa án Việt Nam hiện hành ;
04/07/2020

Đôi nét về hệ thống Tòa án Việt Nam hiện hành

;

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN Ngày 3/9/1945, chủ tịch Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 33C/SL. Nộ...
28/06/2020

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

Ngày 3/9/1945, chủ tịch Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 33C/SL. Nội dung Sắc lệnh như sau:
- Thành lập Tòa án quân sự tại 3 Bộ:
1️⃣ Bắc bộ: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình
2️⃣ Trung Bộ: Vinh, Huế, Quảng Ngãi
3️⃣ Nam Bộ: Sài Gòn (nay là Tp.HCM), Mỹ Tho (Nay thuộc tỉnh Tiền Giang)
- Phạm vi xét xử: Xử những người vi phạm làm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa;
- Đối tượng áp dụng: Tất cả người dân Việt Nam trừ phạm nhân là binh sĩ. Binh sĩ phạm tội sẽ do nhà binh tự xử theo quân luật

Sắc lệnh 33C/SL là văn bản đầu tiên thể hiện việc thành lập Tòa án quân sự xét xử những hành vi vi phạm là phương hại đến nền độc lập nước nhà. Thời gian này các hành vi dân sự xâm phạm vào quyền sở hữu, tính mạng sức khỏe… như cướp bóc, đánh nhau, trộm… thì lại chưa có cơ quan nào xét xử. Ngoài ra, đối thượng áp dụng của Sắc lệnh 33C/SL là tất cả người dân ngoại trừ phạm nhân là Binh sĩ.

Vì vậy, Chủ tịch Chính phủ tiếp tục ký ban hành 02 Sắc lệnh tiếp theo Sắc lệnh số 13 và Sắc lệnh số 163. Cụ thể:

- Ngày 21/01/1946, Chủ tịch nước ký ban hành Sắc lệnh số 13/SL quy định về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán. Trong đó nêu rõ:
✔️ Thành lập ban tư pháp xã: Thực hiện hòa giải các việc dân sự và thương sự
✔️ Thành lập Tòa án sơ cấp ở mỗi quận, mỗi tuần lễ ít ra phải có 2 phiên tòa công khai: Một phiên hộ và một phiên hình;
✔️ Thành lập Tòa án đệ nhị cấp ở các tỉnh xử việc tiểu hình và đại hình;
✔️ Thành lập Tòa Thượng thẩm ở mỗi Kỳ, nhằm phúc lại các án tiểu hình và đại hình:
1️⃣ Tòa Thượng thẩm Bắc kỳ đặt tại Hà Nội
2️⃣ Tòa Thượng thẩm Trung kỳ đặt ở Huế
3️⃣ Tòa Thượng thẩm Nam kỳ đặt ở Sài Gòn

Như vậy, Sắc lệnh số 13/SL ban hành, thành lập thêm 03 Tòa án bên cạnh Tòa án quận sự. Xét xử các vấn đề dân sự, thương sự và hình sự

- Ngày 23/8/1946 Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh 163/SL về việc thành lập một Tòa án binh lâm thời trụ sở đặt ở Hà Nội.
Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Chính phủ ký ban hành Sắc lệnh số 19/SL về việc thành lập và tổ chức các Tòa án Binh trên cả nước. Cụ thể:
✔️ Mỗi khu sẽ đặt một Tòa án Binh;
✔️ Đối tượng xét xử:
☑️ Phạm nhân là quân nhân;
☑️ Những nhân viên trong các ngành chuyên môn trong quân đội;
☑️ Những người làm việc cho quận đội như công nhân, chủ thầu khi phạm pháp có liên can đến quân đội;
☑️ Những người thuộc bất cứ hạng nào mà phạm pháp ở các đồn trại, Quân y viện, nhà Đề lao binh hoặc một cơ quan nào của quân đội hoặc phạm pháp làm thiệt hại đến quân đội;

Như vậy, kể từ sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chính phủ chú trọng xây dựng hệ thống tư pháp. Lần lượt ban hành các Sắc lệnh thành lập hệ thống Tòa án, quy định cụ thể phạm vi xét xử, gồm:
1️⃣ Tòa án quân sự: xét xử tất cả mọi người (trừ binh sĩ) vi phạm làm phương hại đến nền độc lập nước nhà;
2️⃣ Tòa án Sơ cấp, đệ nhị cấp, Tòa Thượng thẩm: Xét xử tất cả việc dân sự, hình sự không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia;
3️⃣ Tòa án binh: xét xử binh sĩ

Trong Sắc lệnh 19/SL cũng thể hiện “nếu một người ngoài quân đội đồng thời phải truy tố trước Toà án binh lâm thời vì một tội thuộc thẩm quyền Toà án ấy và trước một Toà án Tư pháp hoặc Quân sự vì một tội thuộc thẩm quyền của các Toà án ấy, thì phải do Toà án binh lâm thời xét xử trước.
Gặp trường hợp nhiều người cùng bị can về một tội mà trong đó cả quân nhân cả thường dân, thì việc đó sẽ do Toà án binh lâm thời xét xử”

🔘 Về tên gọi Tòa án nhân dân như hiện nay, ngày 22/05/1950 Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 85/SL về việc thay đổi tên gọi Tòa án. Cụ thể:
1️⃣ Tòa án sơ cấp: Gọi là Tòa án nhân dân huyện;
2️⃣ Tòa án đệ nhị cấp: gọi là Tòa án nhân dân tỉnh;
3️⃣ Hội đồng phúc án: gọi là Tòa phúc thẩm

Như vậy, đến trước Hiến pháp 1959, hệ thống Tòa án gồm:
1️⃣ Tòa án quân sự;
2️⃣ Tòa án nhân dân huyện, Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa Phúc thẩm;
3️⃣ Tòa án binh.

Viết bởi: Quyên Phạm
;

Từ ngày 1/1/2020, Nghiêm cấm "XÚI GIỤC, KÍCH ĐỘNG, LÔI KÉO, ÉP BUỘC NGƯỜI KHÁC UỐNG RƯỢU, BIA".Ngày 14/06/2019, Quốc hội...
31/12/2019

Từ ngày 1/1/2020, Nghiêm cấm "XÚI GIỤC, KÍCH ĐỘNG, LÔI KÉO, ÉP BUỘC NGƯỜI KHÁC UỐNG RƯỢU, BIA".

Ngày 14/06/2019, Quốc hội chính thức ban hành Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia. Luật chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2020.

Sau rất nhiều tai nạn giao thông thương tâm liên quan đến rượu bia. Đặc biệt là văn hóa BÀN NHẬU "ép uổng" bạn nhậu uống chén bia, chén rượu - nguyên nhân của nhiều tai nạn giao thông. Luật mới quy định:

- NGHIÊM CẤM xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu, bia;

- NGHIÊM CẤM người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia;

- NGHIÊM CẤM cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ ... học sinh, sinh viên uống rượu bia NGAY TRƯỚC, TRONG GIỜ LÀM VIỆC, HỌC TẬP VÀ NGHỈ GIỮA GIỜ LÀM VIỆC, HỌC TẬP..

Nhằm đảm bảo an toàn cho những người thân của bạn, hãy tuân thủ Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia

;

DÒNG SÔNG TÔ LỊCH - CON SÔNG ÁC MỘNG VỚI NGƯỜI DÂN HÀ NỘI Dòng sông đen ngòm, bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng không ít đến s...
07/12/2019

DÒNG SÔNG TÔ LỊCH - CON SÔNG ÁC MỘNG VỚI NGƯỜI DÂN HÀ NỘI

Dòng sông đen ngòm, bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng không ít đến sức khỏe của những người dân sống dọc hai bên bờ sông, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị, hình ảnh thủ đô Hà Nội. Việc có một tổ chức như JEBO đứng ra thực hiện thí điểm làm sạch dòng sông là một tín hiệu đáng mừng. Đáng tiếc nhiều người đang cố tìm cách ngăn cản điều này vì lợi ích của 1 nhóm người.

Gửi Ông Nguyễn Đức Chung - thiết nghĩ ông cần xem xét lại năng lực cũng như cách quản lý của mình.

Cần lắm những bàn tay cùng chung sức bảo vệ môi trường. Cần lắm những tổ chức hoạt động vì môi trường như JEBO.
cùng

KHI NHẶT ĐƯỢC TÀI SẢN BỊ ĐÁNH RƠI. BẠN SẼ XỬ LÝ THẾ NÀO???Khi nhặt được “của rơi”, nhiều người có các hành xử khác nhau....
30/11/2019

KHI NHẶT ĐƯỢC TÀI SẢN BỊ ĐÁNH RƠI. BẠN SẼ XỬ LÝ THẾ NÀO???

Khi nhặt được “của rơi”, nhiều người có các hành xử khác nhau. Người thì giao nộp cho cơ quan công an, Người thì tìm cách trả lại nếu biết chủ của tài sản là ai, Người thì tạm thời “Đút túi”. Tuy nhiên, Ít ai biết được rằng, mình có thể có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản bị đánh rơi.

Căn cứ Điều 230 Bộ luật dân sự 2015 về Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên. Theo đó, khi nhặt được tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên cần:

✔️ Thông báo hoặc trả lại tài sản cho chủ sở hữu nếu biết được địa chỉ của người đánh rơi, bỏ quên;
✔️ Giao nộp cho UBND cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi, bỏ quên.

Sau 1 năm kể từ ngày thông báo công khai mà vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu tài sản được xác định như sau:

✔️ Tài sản ≤ 10 lần mức lương cơ sở (năm 2019 là 1.490.000 đồng): Người nhặt được sở hữu tài sản này;
✔️ Tài sản ≥ 10 lần mức lương cơ sở (năm 2019 là 1.490.000 đồng): Sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng 10 lần mức lương cơ sở và 50% giá trị phần vượt quá, 50% giá trị phần vượt quá còn lại thuộc về Nhà nước;
✔️ Tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa: Thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nhặt được “của rơi” mà không trả lại chủ sở hữu hoặc không giao nộp theo quy định, người nhặt được có thể bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật.

Căn cứ Điều 176, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định Tội chiếm giữ trái phép tài sản. Theo đó, Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm thì:

✔️ Bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm nếu Tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng - 20.000.000 đồng, là di vật, cổ vật;
✔️ Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Tài sản trị giá ≥ 200.000.000 đồng hoặc bảo vật quốc gia.

,

MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG NĂM 2020Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiể...
23/11/2019

MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG NĂM 2020
Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
👉👉👉Theo đó, mức lương tối thiểu vùng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:
- Không thấp hơn mức lương tối thiểu vụ đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất;
- Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề;
- Khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng, người sử dụng lao động không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc lại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.

👉👉👉Nguyên tắc áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo địa bàn:
- Doanh nghiệp và đơn vi, chi nhánh hoạt động trên địa bàn nào thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại địa bàn đó
- Doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất nằm ở nhiều nơi thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng ở địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất
- Những địa bàn đổi tên hoặc chia tách tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu vùng tại địa bàn trước khi thay đổi cho đến khi nào chính phủ có quy định chính thức
- Địa bàn được thành lập từ nhiều địa bàn khác nhau có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì áp dụng mức lương tại địa bàn cao nhất.

SO SÁNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG NĂM 2020 VÀ NĂM 2019
☎️: 0989.590.634

LY HÔN 💔💔💔💔Thưa luật sư, em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em muốn xin ly hôn thì phải làm như thế nào? Nộp hồ sơ ...
10/11/2019

LY HÔN 💔💔💔💔
Thưa luật sư, em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em muốn xin ly hôn thì phải làm như thế nào? Nộp hồ sơ ở đâu? Cảm ơn luật sư.

TRẢ LỜI:

👉👉👉 Căn cứ Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Như vậy cơ quan giải quyết vụ việc ly hôn là Tòa án nhân dân.
👉👉👉 Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thuận tình ly hôn “Trường hợp hai vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn”

Như vậy trường hợp 2 bên cùng tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được các vấn đề:
✔️ Tài sản chung
✔️ Con chung
✔️ Nợ chung
Bạn làm đơn “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và chuẩn bị hồ sơ gửi Tòa án nhân dân.

Trường hợp bạn và chồng không thỏa thuận được một trong các vấn đề trên, bạn làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân

Liên hệ 0989.590.634 hoặc email [email protected] để được hỗ trợ về đơn ly hôn và hồ sơ ly hôn.
,

BÀN VỀ VẤN ĐỀ THỪA KẾ - NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO DI CHÚCBộ luật dân sự 2015 quy định “Cá nhân c...
31/10/2019

BÀN VỀ VẤN ĐỀ THỪA KẾ - NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO DI CHÚC

Bộ luật dân sự 2015 quy định “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”
Vậy trong trường hợp một người muốn định đoạt phần tài sản của mình cho người khác, có thể lập di chúc để lại di sản cho những người mà mình muốn để lại.
Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không được lập bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Tuy nhiên di chúc miệng chỉ được công nhận trong trường hợp sau:
- Tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng miệng; và
- Có ít nhất 02 người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên, điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
(Trừ trường hợp từ chối di sản)

, ,

Address

Đường 800A, Nghĩa Đô, Cầu Giấy
Hanoi
10000

Telephone

+84977333480

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật 89 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật 89:

Share