Luật sư Thái Thịnh

Luật sư Thái Thịnh Mọi vấn đề pháp lý, quý khách hàng call: 0344 171 144 (zalo)

📌105 Luật sư bào chữa cho 54 bị cáo trong vụ chuyến bay giải cứu!Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử có...
11/07/2023

📌105 Luật sư bào chữa cho 54 bị cáo trong vụ chuyến bay giải cứu!

Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử có 05 Kiểm Sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao. Hội đồng xét xử có 05 thành viên, gồm 02 thẩm phán và 03 hội thẩm nhân dân.

Riêng bị cáo Vũ Hồng Quang - cựu cán bộ Cục Hàng không Việt Nam và Nguyễn Thị Thanh Hằng – Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại, dịch vụ và du lịch Bầu trời xanh (Blue Sky) là có 06 Luật sư bào chữa.

Đúng là đại án.... quan chức!

📌 Phát hiện hộ dân đấu trộm nước Sông Đà để sử dụng chui suốt hàng chục năm trời!Một vụ việc hết sức hi hữu vừa xảy ra t...
09/01/2023

📌 Phát hiện hộ dân đấu trộm nước Sông Đà để sử dụng chui suốt hàng chục năm trời!

Một vụ việc hết sức hi hữu vừa xảy ra trên đường Hồ Tùng Mậu - Hà Nội khi có một hộ dân đã đấu trộm đường ống dẫn nước từ đường ống phân phối nước Sông Đà của Công ty CP Viwaco vào đường ống nhà hộ dân đó để sử dụng trái phép suốt hàng chục năm trời.

Hiện nay phía cơ quan chức năng chưa chốt được phương án xác định số mét khối nước bị chiếm đoạt, nhưng thiệt hại ước tính giao động từ vài trăm triệu đến một tỷ đồng.

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì những mét khối nước này thuộc tài sản hợp pháp của Công ty CP Viwaco, do đó đối với hành vi “trộm nước” của hộ gia đình này thì người thực hiện hành vi đấu trộm nước có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 4, điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, với khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù giam.

Đúng là một sự việc quá hi hữu và khá thú vị, bất ngờ cho mọi người!

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 09.01.2023

📌 Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - Tính nhân văn của TAND huyện Yên Châu!Tội danh...
13/12/2022

📌 Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - Tính nhân văn của TAND huyện Yên Châu!

Tội danh này có mức hình phạt cao nhất là 03 năm tù giam, trong khi đó điều kiện tiên quyết để người phạm tội được hưởng án treo là có mức phạt tù không quá 03 năm. Do đó việc TAND huyện Yên Châu cho bị cáo (người vợ) trong vụ việc này hưởng án treo là hoàn toàn đúng luật.

Mặt khác điều đáng nói ở đây là hành vi của người phụ nữ này xuất phát từ việc căm phẫn, phấn nội đối với hành vi quan hệ tình dục của người chồng đối với người con gái riêng của mình. Vì muốn bảo vệ và trừng phạt gã đàn ông đồi bại này nên người phụ nữ đã "cắt bỏ của quý" của người đàn ông kia. Việc làm này theo pháp luật thì là sai trái, phải chịu sự trừng phạt nhưng dưới góc độ đạo đức, hẳn chúng ta cũng sẽ đồng tình, cảm thông với cách làm của người phụ nữ, một người vợ, một người mẹ bất hạnh và đáng thương!

Còn đối với người đàn ông tên Hoan kia, chắc chắn sau khi phục hồi điều trị thì hắn sẽ bị khởi tố về tội Cưỡng dâm - theo điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015, và sẽ có bản án thích đáng đối với hành vi mà hắn đã gây ra.

Qua đây tôi cũng khuyên các bạn khi gặp những tình huống tương tự, nên cố kiếm chế bản thân để tránh vướng vào vòng lao lý. Mọi chuyện hãy để pháp luật giải quyết và cần phải tin tưởng vào pháp luật!

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 14.12.2022

TTO - Bị cáo Hà Thị Nguyệt bị tòa tuyên phạt 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với cáo buộc cắt 'của quý' của chồng vì xâm hại con riêng.

🔥 Cá độ bóng đã và vấn đề truy cứu TNHS của người đã tố giác 🔥Một tình huống tuy hơi hài hước nhưng cũng rất thú vị. Nhi...
12/12/2022

🔥 Cá độ bóng đã và vấn đề truy cứu TNHS của người đã tố giác 🔥

Một tình huống tuy hơi hài hước nhưng cũng rất thú vị. Nhiều câu hỏi đặt ra là liệu sau khi báo công an thì hai thanh niên này còn phải trả tiền ghi nợ hay không và liệu hai thanh niên này có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cá độ hay không?

🩸 Thứ nhất, hai thanh niên này không phải trả số tiền nợ cá độ nữa bởi vì theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch giữa hai thanh niên này và chủ độ đã bị vô hiệu - hay nói cách khác là không có hiệu lực. Do đó hai thanh niên này không phải trả số tiền còn nợ, hơn nữa đối với số tiền mà hai thanh niên này đã sử dụng để cá độ trước đó thì sẽ bị tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

🩸 Thứ hai, hai thanh niên này có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cá độ bóng đá, cụ thể là có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội Đánh bạc được quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

🔑 Nhưng cũng có một trường hợp ngoại lệ, đó là hai thanh niên này vẫn có thể sẽ được "miễn trách nhiệm hình sự" nếu đủ 02 điều kiện sau:
- Điều kiện 1: Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm
- Điều kiện 2: Lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Trong trường hợp này, hai thanh niên đã thoả mãn điều kiện 1, còn điều kiện 2 thì cũng có thể đã thoả mãn vì đường dây cá độ này quy mô rất lớn, lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng nên cũng có thể xem là đã lập công lớn.

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 12.12.2022

🔥 Hàng ngàn bị hại được triệu tập trong vụ Alibaba: Nếu vắng mặt thì sao? - Tất nhiên là có sao 🔥Vụ án Lừa đảo chiếm đoạ...
06/12/2022

🔥 Hàng ngàn bị hại được triệu tập trong vụ Alibaba: Nếu vắng mặt thì sao? - Tất nhiên là có sao 🔥

Vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tập đoàn Alibaba có 6.699 bị hại, với 55 dự án bất động sản có sai phạm.

📌 Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, thì việc bị hại không có mặt tại phiên toà hình sự nói chung và trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tập đoàn Alibaba nói riêng sẽ ảnh hưởng đến 02 vấn đề sau:

🍂 Thứ nhất, về quyền lợi của chính các bị hại

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì khi bị hại tham gia phiên toà xét xử thì bị hại sẽ được trao một số quyền năng tố tụng như: Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà người khác đưa vào vụ án; Quyền thay đổi người tiến hành tố tụng; ….và nhiều quyền quan trọng khác. Tất cả quyền này đều hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, và đa số những quyền này chỉ được thực hiện khi bị hại có mặt tại phiên toà xét xử, nếu bị hại vắng mặt thì các quyền này không được đảm bảo một cách khách quan, triệt để.
Do vậy việc bị hại có mặt tại phiên Toà xét xử là cực kỳ quan trọng, và rất cần thiết.

🍂 Thứ hai, về vấn đề giải quyết vụ án của Toà án

Việc bị hại có mặt tại phiên toà xét xử vụ án sẽ giúp Hội đồng xét xử giải quyết vụ án một cách khách quan, chính xác, đúng pháp luật thông qua hoạt động cung cấp lời khai, bản trình bày, cung cấp các tài liệu, chứng cứ khác từ phía bị hại (hoạt động đối chấp, tranh luận của bị hại tại phiên xét xử).

Do đó việc bị hại có mặt tại phiên xét xử còn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp Hội đồng xét xử thuận lợi trong việc giải quyết vụ án, xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm. Và quan trọng là vụ án được giải quyết một cách triệt để, đúng pháp luật!

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 06.12.2022

✍️ Cách viết đơn ly hôn để được Toà án chấp nhận!🔥 Trước hết là về loại văn bản, có hai loại viết tay hoặc đánh máy, mặc...
06/12/2022

✍️ Cách viết đơn ly hôn để được Toà án chấp nhận!

🔥 Trước hết là về loại văn bản, có hai loại viết tay hoặc đánh máy, mặc dù pháp luật không bắt buộc nhưng các bạn cần (nên) đánh máy. Bởi vì văn bản đánh máy nội dung sẽ rõ ràng, dễ đọc và không lo bị “người khác”chỉnh sửa. Trong khi mọi nội dung thể hiện trong đơn ly hôn đều rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các bạn khi Toà án giải quyết vụ việc ly hôn.

🔥 Tiếp đến là về thể thức của văn bản: Phải có Quốc hiệu, tiêu ngữ, ngày tháng làm đơn, tên đơn, thông tin người khởi kiện và bị đơn, danh mục tài liệu được gửi kèm theo đơn khởi kiện và chữ ký của người khởi kiện.

🔥 Cuối cùng quan trọng nhất là bố cục: Bố cục của đơn ly hôn luôn bắt buộc phải có 03 phần (ba nội dung). Thứ nhất là “Về hôn nhân”, thứ hai là “Về con chung”, thứ ba là “Về tài sản”.

🌸 Về hôn nhân: Các bạn phải trình bày được bạn và người kia đăng ký kết hôn ngày tháng năm nào? Đăng ký tại trụ sở nào? Có hợp pháp hay không? Tiếp đến cần trình bày tóm tắt quá trình chung sống từ khi kết hôn đến thời điểm làm đơn ly hôn (thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ngoại tình/bất đồng quan điểm/bạo lực gia đình…. “khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc trầm trọng”, “mặc dù đã được gia đình họ hàng hai bên/chính quyền địa phương đứng ra hoà giải nhiều lần nhưng đâu lại vào đấy”, “mục đích hôn nhân không còn đạt được”….). Kết đoạn phần này cần nêu đề nghị Toà án cho ly hôn trong thời gian sớm nhất.

🌸 Về con chung: Các bạn cần nói rõ có mấy con chung, họ tên đầy đủ của các con, năm sinh, giới tính, hiện đang do ai chăm sóc, tiếp theo là:

🍂 Trình bày nguyện vọng của bạn muốn được nuôi mấy người con? (nêu rõ tên người con cụ thể). 


🍂 Trường hợp bạn và đối phương tự thoả thuận được quyền nuôi con và không cần Toà giải quyết thì cần nêu rõ “Vợ chồng tôi tự thoả thuận với nhau về quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu Toà án giải quyết”.

🌸 Về tài sản chung: Ở phần này có hai phần, một là “tài sản có”, hai là “nợ chung”.

🍂 Trường hợp bạn và người kia tự thoả thuận được việc phân chia tài sản hoặc không có tài sản chung thì nêu thẳng trực tiếp vào mục này là “Vợ chồng chúng tôi không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết”; Hoặc “Vợ chồng chúng tôi tự thoả thuận với nhau về việc phân chia tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết”.
🍂 Trường hợp có tài sản (tài sản đang có hoặc có nợ chung) cần yêu cầu Toà án giải quyết thì bạn cần nêu rõ tên từng loại tài sản, tình trạng tài sản, giá trị tài sản, ai đang đứng tên (đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu/sử dụng). Đối với nợ chung thì cần nêu rõ loại nợ, nợ ai, giá trị là bao nhiêu.

💐 Nói chung việc viết đơn ly hôn đối với những vụ việc ly hôn thuận tình, không tranh chấp con cái và tài sản thì các bạn nên tự làm để đỡ chi phí, nhưng đối với các vụ việc ly hôn đơn phương, có tranh chấp về hôn nhân hoặc tranh chấp về con cái hay tài sản thì đơn ly hôn cần chặt chẽ, đúng và đầy đủ, rõ ràng và để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các bạn trong trường hợp này thì nên thuê luật sư viết.

🔰 Luật sư Hà Nội chuyên soạn đơn ly hôn, đơn khởi kiện, đơn tố giác tội phạm, đơn tố cáo, đơn khiếu nại, soạn thảo hợp đồng…và tư vấn pháp luật tất cả lĩnh vực. Các bạn liên hệ call or Zalo 0344 171 144 để được hỗ trợ. Cảm ơn!

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 06.12.2022

🔔  [Luật sư Hà Nội] - Chuyên soạn thảo các loại đơn thư pháp lý - Luật sư cá nhân ⚖️📌 Khi tham gia vào bất kỳ một quan h...
05/12/2022

🔔 [Luật sư Hà Nội] - Chuyên soạn thảo các loại đơn thư pháp lý - Luật sư cá nhân ⚖️

📌 Khi tham gia vào bất kỳ một quan hệ pháp luật nào, giữa người dân với người dân, giữa người dân với nhà nước… thì đều bắt buộc phải thông qua một loại đơn thư pháp lý như: Hợp đồng; Đơn khởi kiện; Đơn tố cáo; Đơn tố giác tội phạm; Đơn kháng cáo… Ngoài ra, các đơn thư/Hợp đồng này còn là căn cứ để bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước Toà án, hay bất kỳ cơ quan nào khi phát sinh tranh chấp (sự biến pháp lý).

💬 Đơn/Hợp đồng phải chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, bám sát quy định của pháp luật hiện hành thì mới đảm bảo được quyền lợi tối đa cho Quý khách hàng.

✍️ Với kinh nghiệm và bản lĩnh của mình, Luật sư Hà Nội chuyên soạn thảo hợp đồng: HĐ vay tài sản; HĐ hợp tác; HĐ lao động; HĐ uỷ quyền; HĐ thuê nhà; HĐ mua bán…. và chuyên soạn thảo các loại đơn thư: Đơn Tố cáo; Đơn tố giác tội phạm; Đơn khiếu nại; Đơn kháng cáo; Đơn khởi kiện; Di chúc….

✨ Ngoài ra Luật sư Hà Nội còn tư vấn pháp luật: Tư vấn về dành quyền nuôi con - tranh chấp tài sản khi ly hôn; Tư vấn quyền thừa kế; Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai - tranh chấp hợp đồng; Tư vấn hợp tác góp vốn; Tư vấn thành lập mới - Cơ cấu lại doanh nghiệp; Tư vấn thu hồi khoản nợ khó đòi….

🔥 Quý khách hàng vui lòng gọi điện trực tiếp vào số điện thoại: 0344 171 144 hoặc nhắn tin vào Page Facebook này hoặc vào Zalo SĐT trên để được cung cấp dịch vụ tốt nhất để bảo vệ quyền lợi cho mình. Xin cảm ơn!

✍️ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG - CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!    Chế độ tài sản ...
05/12/2022

✍️ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG - CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!

Chế độ tài sản của Vợ chồng là tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật hoặc/và thỏa thuận của các bên có liên quan đến tài sản chung, riêng của Vợ chồng, cũng như các quyền, nghĩa vụ kèm theo. Theo quy định của Luật, thì Vợ chồng có thể lựa chọn Chế độ tài sản theo luật định hoặc theo thỏa thuận. Điều đó cũng được hiểu rằng, nếu không có thỏa thuận thì đương nhiên là theo luật định. Trong phạm vi Bài viết này, Tác giả chỉ nêu một số vấn đề pháp lý về Chế độ tài sản của Vợ chồng theo luật định, để Bà con tham khảo.
I. Tài sản riêng của Vợ/Chồng
Vấn đề được nhiều Người quan tâm nhất, có lẽ là sau khi kết hôn, những tài sản nào vẫn được xem là tài sản riêng của Vợ hoặc Chồng. Đây là vấn đề vừa dễ nhưng đôi lúc cũng rất khó xác định, giữa những thực tế xảy ra vô vàn những hoàn cảnh khá lằng nhằng.
Theo quy định của pháp luật, những tài sản sau đây được coi là tài sản riêng của Vợ hoặc Chồng:
1. Tài sản hình thành trước thời kỳ hôn nhân: Nghĩa rằng, trước khi kết hôn, Anh A hay Chị B có được tài sản gì, ví dụ như nhà cửa, xe cộ, tiền vàng ..... bất kể được hình thành từ nguồn nào, nhưng cứ tạo lập trước khi kết hôn là đương nhiên đó là tài sản riêng của mỗi Người. Tuy nhiên - Nếu sau khi kết hôn, họ đồng ý nhập tài sản này vào khối tài sản chung của Vợ chồng, thì đó là tài sản chung. Ví dụ sau khi kết hôn, trong lúc yêu thương sâu đậm, đê mê đã tuyên bố rằng thì mà là "Trừ cái điếu cày ra - Những gì của Anh đều thuộc về chung của Chúng mình", rồi dắt nhau ra Công chứng làm văn bản thống nhất nhập tài sản riêng vào chung, thì đương nhiên tài sản riêng sẽ thành của chung.
Ví dụ 1: Chị B kết hôn ngày 02/01/2000. Giả định trước ngày 02/01/2000, Chị B có tạo lập được một số tài sản như nhà cửa, xe cộ, thì những tài sản này là của riêng Chị B.
2. Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, cũng là tài sản riêng của mỗi Người. Nghĩa rằng, tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vì được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng, nên nó vẫn là tài sản riêng. Tuy nhiên, cần lưu ý là nếu được tặng cho riêng mới là của riêng, còn nếu được tặng cho chung hai Vợ chồng thì vẫn là của chung.
Ví dụ 2: Chị B kết hôn ngày 02/01/2000. Đến ngày 20/6/2003, Chị B được một Người bà con tặng cho riêng 01 căn nhà, thì căn nhà này là tài sản riêng của Chị B, mặc dù nó hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của Vợ/Chồng, cũng là tài sản riêng của Vợ/Chồng. Nghĩa rằng, mặc dù tài sản có thể được mua trong thời kỳ hôn nhân, nhưng do được mua từ tài sản riêng, nên nó vẫn là tài sản riêng.
Ví dụ 2: Chị B kết hôn ngày 02/01/2000. Đến ngày 20/6/2003, Chị B được một Người bà con tặng cho riêng 01 căn nhà, thì căn nhà này là tài sản riêng của Chị B, mặc dù nó hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Sau đó Chị B bán căn nhà này rồi lấy tiền đó, để mua một chiếc xe hơi, thì chiếc xe hơi này vẫn là tài sản riêng của Chị B.
[Tuy nhiên, trong trường hợp này, vấn đề nó sẽ trở nên khá phức tạp, nếu như căn nhà Chị B bán chỉ được 2 tỷ đồng, trong khi, chiếc xe lại được mua với giá 4 tỷ, nghĩa rằng chỉ có nửa chiếc xe là được hình thành từ tài sản riêng].
4. Những tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của mỗi Người thì vẫn là tài sản riêng của Vợ chồng. Ví dụ như quần áo, giày dép ......
II. Tài sản chung của Vợ chồng
Chúng ta sẽ dùng một phép loại trừ, đó là những tài sản không thuộc tài sản riêng của mỗi Người được mô tả tại phần trên, những tài sản còn lại đương nhiên là tài sản chung. Và những tài sản không thể chứng minh là tài sản riêng, thì đó được coi là tài sản chung. Do vậy, ở đây Tác giả không liệt kê các loại tài sản thế nào là chung nữa. Mà chỉ nêu một vài lưu ý điển hình, để Bà con được biết.
1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, vẫn được coi là tài sản chung.
Ví dụ 3: Trước khi kết hôn, Anh A có tạo lập được một khu vườn trồng cây ăn quả. Sau khi kết hôn, Khu vườn (Mảnh đất) này vẫn của Anh A. Nhưng hàng năm cây ra quả, Vợ chồng Anh A đem bán, thì tiền bán quả này, lại là tài sản chung.
Ví dụ 4: Trước khi kết hôn, Chị B có mua được một chiếc xe tải. Sau khi kết hôn, chiếc xe này vẫn của riêng Chị B. Nhưng nếu Chị B lại cho thuê chiếc xe này, thì tiền cho thuê xe đó lại là tài sản chung.
2. Không nhầm lẫn khái niệm tài sản chung và khái niệm công sức đóng góp. Như trên Chúng ta đã nêu, loại trừ những tài sản riêng đã phân tích, còn lại là tài sản chung. Nghĩa rằng đó là tài sản chung của cả hai Vợ chồng, nhưng không đương nhiên có nghĩa là họ được hai phần bằng nhau. Việc xác định ai đóng góp bao nhiêu, để phân chia khi có tranh chấp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quan trọng ở công sức đóng góp. Tuy nhiên việc chứng minh điều này là khá khó khăn trong thực tế muôn hình vạn trạng.
3. Việc đứng tên trên giấy tờ không phải là vấn đề quá quan trọng. Nhiều Người hay nghĩ đơn giản rằng: Sổ nhà, sổ đất chỉ đứng tên ai, thì của riêng Người đó?! Nhưng pháp luật không quy định như vậy. Nghĩa rằng việc đứng tên trên giấy tờ không phải là căn cứ quan trọng và duy nhất để xác định tài sản riêng. Nếu như tài sản đó được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, thì mặc nhiên được xem là tài sản chung, dù nó chỉ đứng tên một Người. Còn Ai nói đó là tài sản riêng thì phải chứng minh là được tặng cho riêng, thừa kế riêng, chứ không phải là chỉ dựa vào việc có đứng tên trên giấy tờ. Hiểu nôm na, nguồn gốc tạo lập tài sản, quan trọng hơn việc đứng tên trên giấy tờ.
III. Việc định đoạt tài sản chung của Vợ chồng
Tài sản chung của Vợ chồng thì có thể có nhiều loại bao gồm nhà cửa, đất đai, xe cộ, vàng bạc..... Trong đó, việc định đoạt những tài sản sau đây, ví dụ như bán, thế chấp, cầm cố.... phải được sự đồng ý bằng văn bản của cả hai Vợ chồng:
1. Bất động sản. Ví dụ nhà cửa, đất đai.....
2. Động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Ví dụ xe cộ, máy bay, tàu thủy ....
3. Tài sản là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của Gia đình. Ví dụ máy cày, máy tuốt lúa ....
Như vậy, những tài sản không thuộc những trường hợp trên, thì không cần sự đồng ý bằng văn bản của Vợ chồng. Từ quy định nêu trên của Luật - Ở đây, Bà con chúng ta thấy có một vài trường hợp khá khôi hài: Đó là, Anh A muốn bán chiếc xe máy cũ giá 5 triệu đồng, vẫn phải xin phép Vợ đồng ý bằng văn bản; Vì xe máy là động sản phải đăng ký; Nhưng khi cầm vài trăm cây vàng đi bán, lại không cần xin phép Vợ đồng ý bằng văn bản; Vì vàng là động sản không cần đăng ký.
Nói tóm lại, Chế độ tài sản của Vợ chồng là một định chế pháp lý khá phức tạp - Và khi khối tài sản càng lớn, hình thành từ nhiều nguồn, lại càng rối rắm, lằng nhằng. Trên đây, Tác giả chỉ mới luận bàn một số khía cạnh cơ bản, chính yếu; Nếu có thời gian, Tác giả sẽ nói thêm những vấn đề quan trọng khác, của Chế định này, trong các Bài viết về sau.....

✍️ HIỂU VÀ PHÂN BIỆT QUY ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT CHO VAY GIỮA HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ THÔNG THƯỜNG VÀ HỢP ĐỒNG VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN ...
05/12/2022

✍️ HIỂU VÀ PHÂN BIỆT QUY ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT CHO VAY GIỮA HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ THÔNG THƯỜNG VÀ HỢP ĐỒNG VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG (NGÂN HÀNG): PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!

Hợp đồng vay tài sản của Tổ chức tín dụng là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa Tổ chức tín dụng (Bao gồm: Ngân hàng, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân) với khách hàng là các Cá nhân, tổ chức khác (Được gọi là Hợp đồng tín dụng Hoặc Hợp đồng vay thương mại). Ví dụ: Ngân hàng A ký hợp đồng cho Bà B vay 1 tỷ đồng, giao dịch cho vay này được gọi là Hợp đồng tín dụng, vì Bên cho vay là Ngân hàng - Một Tổ chức tín dụng.
Còn Hợp đồng cho vay tài sản không phải là Hợp đồng tín dụng, là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa các Cá nhân, Tổ chức với nhau mà không có sự tham gia của một trong các tổ chức tín dụng như đã liệt kê ở trên (Được gọi là Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng Hoặc Hợp đồng vay dân sự thông thường). Ví dụ: Ông C ký hợp đồng, cho Bà D vay 2 tỷ đồng, giao dịch cho vay này được gọi là Hợp đồng vay dân sự thông thường (Không phải là hợp đồng tín dụng), vì không có sự tham gia của Tổ chức tín dụng trong giao dịch này.
Về bản chất, cả 2 loại giao dịch vừa nêu, giống nhau ở chổ đều là Hợp đồng cho vay tài sản - Nhưng do Hợp đồng tín dụng, có sự tham gia của Tổ chức tín dụng, điển hình là Ngân hàng, là những tổ chức cho vay chuyên nghiệp, hay còn gọi là kinh doanh tiền tệ, nên pháp luật có những quy định khác nhau về Lãi suất cho vay giữa 2 loại giao dịch này. Phân tiếp sau đây, Tác giả sẽ phân tích và luận giải các quy định chi tiết, để Bà con tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
I. LÃI SUẤT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ
Như trên đã nêu, Hợp đồng vay dân sự thông thường (Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng) là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa các Cá nhân, Tổ chức với nhau mà không có sự tham gia của một trong các Tổ chức tín dụng. Đây là Hợp đồng dân sự thông thường, nên chịu sự điều chỉnh của Luật dân sự. Theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành (2015), thì Hợp đồng vay tài sản giữa Bà con ta với nhau, có các loại lãi suất và mức lãi suất như sau:
1. Lãi suất trong hạn:
Lãi suất trong hạn, hay còn gọi là lãi trên nợ gốc. Ví dụ: Ông G cho Bà H vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Thì lãi suất 1%/tháng này, gọi là mức lãi suất trong hạn vay.
Lãi suất trong hạn tối đa - Bộ luật Dân sự 2015, quy định các bên có quyền thỏa thuận về mức lãi suất trong hạn, nhưng không được quá 20%/năm, nghĩa rằng không quá 1,7% tháng (Làm tròn) - Theo đó, nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá mức vừa nêu, thì mức vượt quá đó không có hiệu lực pháp lý! . Ví dụ: Ông G cho Bà H vay 200 triệu, thì lãi suất 1 năm không được quá 40 triệu, tức không quá 3,4 triệu/tháng. Nếu các bên thỏa thuận lãi suất là 5 triệu/tháng, thì 1,6 triệu vượt quá đó không có giá trị, tức Bên vay không có nghĩa vụ phải trả lãi cho phần cao hơn mức Luật đã định.
Kết luận 1: Khi bắt đầu thỏa thuận vay, thì chỉ phát sinh lãi suất vay trong hạn (Trừ vay không tính lãi - Chúng ta không bàn đến trong bài viết này); Mức lãi cao nhất là 20%/năm, tức 1,7% trên tháng. Và nếu Bà con trả đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn, thì không bao giờ phải đóng thêm loại lãi nào - Bà con nhớ kỹ điều này!
2. Lãi suất quá hạn:
Lãi quá hạn, hay còn gọi là lãi do chậm trả nợ gốc. Như vậy, khoản lãi này, chỉ phát sinh khi Người vay, chậm trả nợ gốc. Và chỉ tính trên số nợ gốc còn chưa trả. Ví dụ: Bà N cho Bà M vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2021 đến 31/12/2021), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Nhưng đến ngày 31/12/2021, M đã không trả được nợ gốc cho N, thì từ 01/01/2022, M phải trả thêm khoản nợ lãi quá hạn, do chậm trả nợ gốc.
Mức lãi quá hạn, được khống chế là không quá 150% mức lãi suất trong hạn. Nghĩa rằng: Mức lãi suất quá hạn không quá 30%/năm, vì ở mục trên, Chúng ta đã viện dẫn Luật khống chế lãi suất trong hạn tối đa là 20%. Ví dụ: Bà V cho Ông X vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Nhưng đến ngày 31/12/2020, X chỉ trả cho V được 50 triệu nợ gốc. Cho nên từ 01/01/2021, X phải trả thêm khoản nợ lãi quá hạn, do chậm trả nợ gốc: Cụ thể là 1,5%/tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả. Tất nhiên, là cùng với khoản lãi trong hạn 1%/tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả nữa. Hiểu nôm na, là từ ngày 01/01/2021, X chỉ phải trả tổng cả 02 loại lãi trong hạn và quá hạn, với mức tổng lãi suất là 2,5% tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả.
Kết luận 2: Khoản lãi quá hạn, hay còn gọi là lãi phạt do chậm trả nợ gốc, chỉ phát sinh khi Người vay chậm trả nợ gốc đã đến hạn mà chưa trả, và chỉ tính trên khoản nợ gốc còn lại chưa trả được. Mức lãi cao nhất là 30%/năm, tức 2,5%/tháng cho số nợ gốc chậm trả.
3. Lãi phạt chậm trả lãi
Lãi phạt chậm trả lãi, là khoản tiền lãi phát sinh, do bên vay không trả lãi, khi đến hạn trả lãi, với mức lãi không quá 10%/năm, tức xấp xỉ 0,9%/tháng đối với khoản lãi chưa trả, lưu ý là đối với khoản lãi chưa trả, chứ không phải % tính trên nợ gốc. Ví dụ: A cho B vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2019 đến 31/12/2019), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Ngay trong tráng đầu tiên, B đã không trả lãi đúng hạn vào ngày 31/01/2019. Do đó, từ 01/02/2019, B phải trả thêm khoản lãi phạt 9.000 (Chín nghìn đồng) cho khoản lãi (1 triệu) chậm trả này.
Kết luận 03: Khoản lãi phạt do chậm trả lãi, chỉ phát sinh khi đến kì hạn trả lãi, mà Bên vay không trả lãi, với mức lãi không quá 0,9%/tháng cho số tiền lãi chưa trả.
II. LÃI SUẤT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Với nội dung vừa trình bày nêu trên, Bà con ta thấy rằng: Hợp đồng vay dân sự thông thường, bị Luật dân sự không chế về mức lãi suất tối đa. Tuy nhiên, đối với Hợp đồng vay tín dụng, có Bên cho vay là Tổ chức tín dụng, thì lãi suất cho vay được quy định, điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng, và các văn bản hướng dẫn thi hành, mà không chịu sự điều chỉnh về lãi suất trong Bộ luật dân sự.
Trên cơ sở đó Luật các Tổ chức tín dụng cho phép Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật (Điều 91.2), quy định lấp lửng này đã từng gây ra tranh cãi, vì sự không rõ ràng. Sự tranh cãi chỉ bớt sôi nổi, khi Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành thông tư 39/2016, với quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa trong một số trường hợp đặc biệt.
Và sự tranh cãi hoàn toàn chấm dứt, khi Hội đồng thẩm phán Tòa tối cao, ban hành Nghị quyết số 01/2019, khẳng định chắc nịch rằng: Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà KHÔNG áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.
Hiểu nôm na, đối với hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, thì không bị khống chế về mức lãi suất cho vay theo quy định của Bộ luật dân sự đã nêu trên. Nghĩa rằng, Ngân hàng tự đề xuất về mức lãi suất cho vay, dựa trên sự cạnh tranh của thị trường, nếu cho vay lãi quá cao, thì Người ta sẽ đi vay của Ngân hàng khác (Đại loại vậy). Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, việc để cho Tổ chức tín dụng/Ngân hàng tự do trong việc quy định về lãi suất, mà không bị khống chế bởi bất kỳ hạn mức tối đa nào, cũng có một số điểm bất cập, đáng để bàn luận thêm. Bởi thực tế, đã từng xảy ra việc có Tổ chức tài chính, cho Bà con vay online, với cách tính lãi trên trời, để lại một số hệ lụy không nhỏ...... Hi vọng, qua Bài viết này, Bà con ta đã có được sự phân biệt về lãi suất của các loại giao dịch vay tài sản dân sự thông thường, với vay của Tổ chức tín dụng. Trong Bài viết sau, Tác giả sẽ giành thời gian để phân tích về trường hợp đòi nợ kiểu khủng bố những Người dù không liên quan gì đến việc vay mượn, để Bà con tham khảo.

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 05.12.2022

✍️ MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ THỪA KẾ: PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!    Thừa kế là một trong những giao dịch dân sự phổ biến v...
05/12/2022

✍️ MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ THỪA KẾ: PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!

Thừa kế là một trong những giao dịch dân sự phổ biến và cũng là một trong những quan hệ pháp luật thường xảy ra nhiều tranh chấp nhất. Trong một số Bài viết trước, khi đưa ra Ví dụ có liên quan đến thừa kế, nhiều Bà con có đặt câu hỏi thêm các vấn đề có liên quan đến loại giao dịch này; Và để cho nhiều Người có thể tiếp cận, nên Tác giả quyết định viết một Bài độc lập về lĩnh vực này. Cũng xin lưu ý đến Bà con rằng: Chế định thừa kế là một Định chế pháp lý khá phức tạp, có nhiều vấn đề lằng nhằng, rối rắm. Do đó, ở đây, Tác giả chỉ xin phép, trình bày một số nội dung cơ bản và quan trọng nhất của loại giao dịch này.
I. Bản chất của Thừa kế
Thừa kế là một giao dịch dân sự về việc định đoạt tài sản - Dịch chuyển tài sản từ Người chết cho những Người còn sống, sau khi Người để lại tài sản qua đời! Như vậy, Thừa kế là câu chuyện liên quan đến Tài sản - Là Di sản do Người chết để lại.
Trong giao dịch về Thừa kế, có 02 loại Chủ thể: Chủ thể để lại di sản thừa kế; Và Chủ thể nhận (Được hưởng) di sản thừa kế.
Cần lưu ý rằng: Chủ thể để lại di sản thừa kế chỉ có thể là Cá nhân. Nhưng Chủ thể được nhận di sản thừa kế thì có thể là Cá nhân, cũng có thể là Tổ chức.
Ví dụ 1: Ông A trước khi chết có lập Di chúc để lại tài sản của mình cho Công ty B. Do đó, khi Ông A qua đời, Công ty B sẽ được quyền nhận di sản do Ông A để lại. Tuy nhiên Công ty X, không được quyền để thừa kế tài sản của mình cho bất kỳ ai. Vì khái niệm "Chết" và "Để lại di sản" chỉ áp dụng cho Cá nhân.
II. Các phương thức về Thừa kế
Có 02 phương thức để lại cũng như được hưởng di sản thừa kế, đó là: Thừa kế theo Di chúc và Thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo Di chúc, hiểu nôm na là việc thừa kế theo ý nguyện của Người chết lúc họ đang còn sống. Và nếu Di chúc được lập hợp pháp thì, việc thừa kế theo Di chúc sẽ được ưu tiên áp dụng trước.
Như vậy, chỉ khi nào Chủ thể không để lại Di chúc, Di chúc không hợp pháp hoặc Di chúc không định đoạt hết tài sản, thì lúc đó mới áp dụng phân chia thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ 2: Ông A có 03 căn nhà. Trước khi qua đời, Ông A có lập Di chúc với nội dung để lại căn nhà thứ nhất cho Người con út. Và Di chúc không nhắc gì đến 2 căn nhà còn lại. Ví dụ Ông A có 6 Người con (Vợ đã mất từ lâu). Theo đó, khi Ông A chết, căn nhà thứ nhất sẽ được chia cho Cậu con út theo nội dung Di chúc. 02 căn nhà còn lại, không được nhắc đến trong Di chúc, sẽ được chia đều cho 6 Người con (Có cả phần của Cậu con út). Tức là, không phải vì Cậu út đã nhận một căn nhà, thì không được thừa kế theo pháp luật nữa. Đây là 02 vấn đề khác nhau.
III. Di chúc hợp pháp
Một Di chúc được coi là hợp pháp, nghĩa rằng nó có hiệu lực thi hành, phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
1. Người lập di chúc, vào thời điểm lập di chúc phải trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt - Nghĩa rằng nếu khi lập Di chúc mà đã quá cao tuổi, rồi lúc nhớ, lúc quên, không còn minh mẫn thì Di chúc đó không có giá trị.
2. Người lập Di chúc hoàn toàn tự nguyện - Nghĩa rằng họ không bị lừa dối, cưỡng ép hay đe dọa. Nếu vi phạm điều này, Di chúc không có giá trị.
3. Nội dung Di chúc không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Ví dụ: Nếu Ông A qua đời, lập Di chúc để lại vài khẩu súng quân dụng cho đứa cháu, thì không có giá trị. Vì đây là vũ khí cấm Người dân sở hữu.
4. Di chúc phải được lập thành văn bản (Có thể công chứng hoặc không cần). Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, khi tính mạng bị đe dọa, không thể lập Di chúc bằng văn bản, thì có thể lập Di chúc miệng - Sau 03 tháng kể từ thời điểm Di ngôn miệng, mà Người này vẫn còn sống minh mẫn, sáng suốt, thì Di chúc miệng xem như bị hủy bỏ, không có giá trị.
Lưu ý: Một Người khi đang sống, họ có quyền lập cả trăm cái Di chúc. Và nếu những Di chúc đó mâu thuẫn với nhau. Thì Di chúc sau cùng là Di chúc có giá trị thi hành.
Ví dụ 3: Ông A có một căn nhà. Năm 2002, Ông A lập Di chúc, có Công chứng hẳn hoi, để lại căn nhà cho Anh con cả. Đến năm 2010, Ông A lập Di chúc để lại căn nhà này cho Anh con út. Năm 2015, Ông A qua đời, thì Di chúc năm 2010, có giá trị thi hành. Bà con lưu ý vấn đề này nhé, nên không phải cứ cầm tờ gì chúc có Công chứng là yên tâm đâu!!!
IV. Những Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung Di chúc
Đây là vấn đề mà nhiều Bạn thắc mắc nhất: Đã lập Di chúc, lại còn sinh ra những Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung Di chúc, vậy lập Di chúc làm gì???!! Thực ra đây chính là điểm Công bằng của pháp luật, nhằm bảo vệ một phần những lợi ích cho một số Người nhất định.
Pháp luật quy định, những Người sau đây sẽ được hưởng một phần di sản do Người chết để lại, trong trường hợp Họ không được Người lập Di chúc cho hưởng Di sản hoặc cho hưởng, nhưng ít hơn phần Họ đáng ra được hưởng; Bao gồm:
1. Con chưa đủ 18 tuổi.
2. Cha mẹ của Người để lại Di sản.
3. Vợ hoặc Chồng của Người để lại Di sản.
4. Con đã đủ 18 tuổi, nhưng không có khả năng lao động (Do tàn tật......).
Như vậy, đối với Con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, thì không thuộc diện được hưởng Di sản không phụ thuộc vào nội dung Di chúc.
** Về giá trị Di sản được nhận của những Người này là bằng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật. Đoạn này hơi lằng nhằng, Tác giả sẽ ví dụ cho mọi Người dễ hiểu:
Ví dụ 4. Ông A có một khối tài sản riêng là 4 tỷ đồng. Ông A có vợ là Bà B, và 7 Người con (Cha mẹ Ông A đã chết). Trong đó Người con thứ 7 mới 15 tuổi. Những Người con khác đã trên 18 tuổi, và có khả năng lao động. Ông A lập Di chúc, để lại toàn bộ tài sản 4 tỷ này, cho Người con cả. Khi Ông A qua đời, di sản được chia như sau:
- Về nguyên tắc, Ông A có Di chúc, nên việc Di chúc sẽ được ưu tiên áp dụng. Tuy nhiên trong trường hợp này, có 02 Người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung Di chúc: Vợ Ông A; Và Người con út chưa đủ 18 tuổi.
- Giả định, lúc đầu Ông A không có Di chúc, thì có 8 Người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng Di sản của Ông A. 4 tỷ chia đều cho 8 Người, tức là mỗi Người 500 triệu.
- Theo đó, Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung Di chúc được hưởng thừa kế mức bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, tức là 2/3 của 500 triệu = 333 triệu.
- Tóm lại, Bà Vợ được 333 triệu; Đứa con út được 333 triệu. Còn bao nhiêu thuộc về Anh con cả. Những Người con còn lại không được gì!
V. Các hàng thừa kế theo pháp luật
Khi Người để lại Di sản không lập Di chúc, Di chúc không hợp pháp hoặc Di chúc không định đoạt hết tài sản, thì tài sản không có Di chúc sẽ được chia đều cho những Người thuộc cùng một nhóm hàng thừa kế, theo thứ tự ưu tiên sau:
1. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
2. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
3. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Lưu ý: Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn bất kỳ ai ở hàng thừa kế trước do đã chết hoặc không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
VI. Thừa kế thế vị
Ví dụ 5: Ông A có 2 Người con là B và C. Anh B có 1 Người Con là F. Năm 2005, Anh B chết. Năm 2008 Ông A chết không để lại Di chúc. Những Người được hưởng thừa kế theo pháp luật của Ông A là B và C. Nhưng vì B đã chết trước đó, nên F là con B, sẽ được thay cha mình hưởng phần Di sản từ Ông nội của mình.
Như vậy, Thừa kế thế vị là: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Lưu ý: Thừa kế thế vị không áp dụng trong trường hợp thừa kế theo Di chúc. Ví dụ: Ông A có tài sản 2 tỷ. Ông A có 3 Người con là B, C, D. Năm 2005, Ông A lập Di chúc để lại toàn bộ tài sản cho B. Năm 2007, Anh B chết. Năm 2008, Ông A chết. Di chúc của Ông A coi như vô giá trị, vì Anh B đã chết trước đó, con của Anh B không được thế vị cha mình để hưởng Di sản theo di chúc đó. Như vậy, 02 tỷ này sẽ được chia theo pháp luật cho 03 Người con, Anh B đã chết trước đó, nên con Anh B sẽ được thế vị cha mình hưởng phần di sản theo pháp luật. Đừng thắc mắc đoạn này: Con Anh B không được thế vị Di chúc, nếu thế vị Di chúc thì đã ôm trọn 02 tỷ, Vì Ông A Di chúc để hết cho B. Nhưng con B lại được thế vị theo pháp luật, vì lúc này, chia theo pháp luật, là chia đều cho 3 Người con, tức là 02 tỷ chia 03, tầm khoảng 700 triệu. Con Anh B sẽ được phần 700 triệu này thay cha mình.
VII. Thừa kế giữa Con nuôi và Cha mẹ nuôi
Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau như con đẻ và cha mẹ đẻ.
Ví dụ: Ông A có 02 Người con đẻ, và 01 Người con nuôi. Giả định, Ông A chết không để lại Di chúc, thì 03 Người con này, được hưởng thừa kế bằng nhau. Hiểu nôm na là không phân biệt Con nuôi hay đẻ.
VIII. Thừa kế giữa Con riêng và Cha dượng, mẹ kế
Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Nghĩa rằng không phân biệt Con chung hay riêng. Lưu ý là giữa họ phải có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, thì mới được áp dụng quy định này. .......................
Công đoạn cuối cùng, của việc dịch chuyển tài sản từ Người chết sang cho Người sống, đó là Thủ tục khai nhận di sản - Bắt buộc áp dụng đối với tài sản phải đăng ký như Nhà cửa, xe cộ, hoặc tài sản gửi trong Ngân hàng.... (Còn đối với những tài sản khác, như vàng bạc, đá quý, tiền mặt, thì có thể chia nhau ngay mà không cần làm thủ tục khai nhận di sản). Khai nhận di sản là một thủ tục Dân sự - Hành chính; Bà con có thể thực hiện thủ tục này tại Văn phòng/Phòng Công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp Xã. Sau khi hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế, thì tiến hành đăng ký sang tên tại Cơ quan có thẩm quyền - Hiểu nôm na, gần giống với thủ tục đăng ký sang tên khi Bà con mua Nhà cửa, xe cộ.....

⚖️ Luật sư Hoàng Minh Tuấn, viết tại Hà Nội - Ngày 05.12.2022

Address

B5 101 Phạm Ngọc Thạch/Đống Đa/Hanoi
Hanoi
1000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Thái Thịnh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư Thái Thịnh:

Share