Luật Hưng An

Luật Hưng An Tư vấn pháp luật, dịch vụ luật sư

THÔNG BÁO ĐỔI TÊN CÔNG TYCông ty Luật TNHH Bách Lâm đổi tên thành Công ty Luật TNHH Hưng AnTrân trọng thông báo tới quý ...
23/07/2022

THÔNG BÁO ĐỔI TÊN CÔNG TY
Công ty Luật TNHH Bách Lâm đổi tên thành Công ty Luật TNHH Hưng An
Trân trọng thông báo tới quý khách hàng, bạn bè, đối tác để biết và tiện liên hệ
Cám ơn sự tin tưởng của quý khách hàng, bạn bè, đối tác trong thời gian qua.
Trân trọng!
👉Liên hệ: CÔNG TY LUẬT TNHH HƯNG AN
☎️ 0975.356.085
📧 [email protected]
🏠 Tầng 2, Số 31, Ngõ 1 phố Ngụy Như Kon Tum, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

✅Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nhằm mục đích để Nhà nước công nhận khách hàng là chủ sở hữu nhãn hiệu và có quyền độc quyền s...
10/03/2022

✅Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nhằm mục đích để Nhà nước công nhận khách hàng là chủ sở hữu nhãn hiệu và có quyền độc quyền sử dụng
✅Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn và bảo hộ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH BÁCH LÂM
Địa chỉ: Tầng 2, Số 31, Ngõ 1 phố Ngụy Như Kon Tum, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0975.356.085

THÔNG BÁO CHUYỂN TRỤ SỞ CHI NHÁNHChi nhánh Đà Nẵng- Công ty Luật TNHH Bách Lâm chuyển trụ sở từ: 231 Lê Văn Hiến, Phường...
09/10/2021

THÔNG BÁO CHUYỂN TRỤ SỞ CHI NHÁNH
Chi nhánh Đà Nẵng- Công ty Luật TNHH Bách Lâm chuyển trụ sở từ: 231 Lê Văn Hiến, Phường Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng đến địa chỉ: Số 26 Bàu Trảng 1, Phường Thanh Khê Tây, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng
Trưởng chi nhánh: Bà Nông Thị Duyên, ĐT 0975.356.085
Phó Trưởng chi nhánh: Ông Phạm Văn Thắng, ĐT 0983.507.796
Cố vấn chi nhánh: Ông Phùng Nguyễn Hoàng, ĐT 0987.071.083
Chúng tôi trân trọng thông báo để quý khách hàng, đối tác và bạn bè được biết để tiện liên hệ.
Trân trọng!

18/01/2021

Quyết định về lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thật sự đã hợp lý???????
Quy định cụ thể như sau:
“b. Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Ví dụ: A cho B vay 1 tỷ đồng, thời hạn vay 01 tháng, không thỏa thuận lãi (bao gồm cả lãi vay trong hạn và lãi chậm trả). Hết thời hạn trả nợ B không trả tiền, A khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc B trả số tiền gốc và lãi suất chậm trả cho đến khi trả xong số tiền gốc. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A buộc B phải trả 1 tỷ tiền gốc và 50t tiền lãi chậm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm). Đồng thời tuyên bên có nghĩa vụ (bên B) phải chịu lãi theo điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP (kể từ ngày A có đơn yêu cầu thi hành án). Sau khi xét xử sơ thẩm B kháng cáo, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án tạm đình chỉ giải quyết (02 năm). Cấp phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm hoặc sửa một phần (nhưng vẫn giữ cách tuyên về lãi theo điểm b khoản 1 điều 13 nêu trên).
Vấn đề đặt ra: Nếu tuyên như hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 NQ 01/2019NQ-HĐTP và áp dụng vào ví dụ cụ thể nêu trên thì trong khoảng thời gian chờ kết quả xét xử phúc thẩm thì lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền sẽ không được tính cho người có quyền khi họ có yêu cầu. Trên thực tế hiện nay rất nhiều Tòa án áp dụng cách tuyên như vậy.
Quan điểm của mình cách xác định lãi chậm thực hiện nghĩa vụ như vậy chưa thật sự hợp lý, bởi:
- Tại khoản 1 Điều 357 BLDS 2015 quy định: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả” và khoản 4 Điều 466 quy định: “4.Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Như vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 357 và khoản 4 Điều 466 BLDS thì đối với trường hợp vay không thỏa thuận lãi, khi đến thời hạn trả nợ mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền và bên cho vay có yêu cầu thì bên có nghĩa vụ phải trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp A đứng ra vay ngân hàng giúp B một khoản tiền trong một thời gian nhất định (giữa A và B có giấy vay tiền, hợp đồng vay…không lãi xuất). Đến hạn B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và phát sinh tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, khoản tiền A đứng ra vay cho B, A vẫn phải trả lãi hàng tháng cho ngân hàng. Trường hợp vụ việc giữa A và B nêu tại ví dụ trên, nếu A không được xem xét về khoản tiền lãi chậm trả trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của A.
Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, trong trường hợp vay không thỏa thuận lãi; khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ trả tiền và bên có quyền có yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thì sẽ quyết định về lãi theo điểm a khoản 1 Điều 13 NQ 01/2019 (tính từ ngày tuyên án sơ thẩm). Quan điểm này về nội dung là phù hợp, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền và cho thấy việc áp dụng pháp luật linh hoạt; tuy nhiên nếu quyết định như vậy lại không đúng với tinh thần của điểm a khoản 1 điều 13 của NQ, bởi điểm a khoản 1 Điều 13 được áp dụng cho trường hợp “các bên có thỏa thuận về việc trả lãi”
Về cá nhân mình, có quan điểm về việc quyết định lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng không có thỏa thuận lãi nên quy định tách biệt, rõ ràng như sau:
- Đối với trường hợp bên có quyền không yêu cầu trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án thì bên có nghĩa vụ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong (như điểm b khoản 1 Điều 13 NQ 01/2019)
- Đối với trường hợp bên có quyền có yêu cầu trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
Trên đây là quan điểm cá nhân của Luật Bách Lâm, mong được mọi người góp ý.
Cảm ơn ad đã duyệt bài

08/12/2020

“Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án” trong vụ án Hôn nhân và gia đình.
Tình huống của vụ việc:
Năm 2005 A và B kết hôn, quá trình chung sống sinh được 02 người con là C (sinh năm 2006) và D (sinh năm 2011). Do mâu thuẫn vợ chồng, tháng 10/2015 A và B thuận tình ly hôn tại quyết định của Tòa án (Quyết định số 01), theo nội dung quyết định thì A trực tiếp nuôi C, B trực tiếp nuôi D. Năm 2018, E xuất hiện và cho rằng D là con đẻ của mình, đồng thời cung cấp kết luận giám định AND thể hiện E và D là cha con. E khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu xác nhận cha cho con (khoản 4 điều 28 BLTTDS) tuy nhiên bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện với lý do “Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án”, đồng thời hướng dẫn E làm thủ tục Giám đốc thẩm(tái thẩm) để xem xét lại vấn đề con chung trong quyết định thuận tình ly hôn giữa A và B,
Đánh giá: Việc Tòa án căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện là đúng quy định của pháp luật; bởi, Việc xác định ai là cha, mẹ của con (D) đã được giải quyết tại QĐ số 01 của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, muốn xác định cha cho con thì phải làm thủ tục khiếu nại giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với QĐ số 01 này (đề nghị hủy về phần con chung), sau khi có Quyết định GĐT hoặc tái thẩm chấp nhận đối với nội dung này, thì D mới có quyền khởi kiện xác định cha, mẹ cho con.
Bàn luận: Như đã đánh giá việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện như trên là đúng quy định bởi việc xác định ai là cha, mẹ của con (hoặc ngược lại) đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của Tòa án, hay có quan điểm cho rằng không thể tồn tại song song hai bản án (QĐ) có hiệu lực về cùng một vấn đề, một nội dung.
Tuy nhiên tại khoản 3 Điều 28 BLTTDS 2015 quy đinh “ Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”, cụ thể trong tình huống nêu trên, nếu A hoặc B đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung mà không trả lại đơn khởi kiện. Như vậy về mặt lý luận có thể thấy rằng khi A và B ly hôn việc ai trực tiếp nuôi con đã được giải quyết tại QĐ số 01 và đây là trường hợp đã được giải quyết bằng QĐ có hiệu lực của Tòa án (ai là người nuôi con, nuôi con chung nào). Vấn đề đặt ra là tại sao khi A hoặc B khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn lại được giải quyết, hay nói cách khác trường hợp này sẽ tồn tại song song 2 bản án có hiệu lực pháp luật về cùng một vấn đề, một nội dung. Lý giải về việc này, có 02 quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: Phải hiểu tinh thần điều luật (Điểm c khoản 1 Điều 192) theo hướng: Không phải cứ cùng nguyên đơn, bị đơn và cùng một quan hệ tranh chấp mà đã được giải quyết là coi rằng sự việc đó đã được giải quyết bằng BA, QĐ có hiệu lực của Tòa án, bởi có những trường hợp tuy cùng nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp nhưng nội dung giải quyết khác thì không được coi là sự việc đã được giải quyết bằng BA, QĐ có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Quan điểm thứ hai: Đồng ý rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đã được giải quyết bằng QĐ, BA có hiệu lực pháp luật của Tòa án, tuy nhiên vì đặc thù trong hôn nhân và gia đình, và cụ thể hơn là để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con (thông thường là trẻ nhỏ) nên khi do điều kiện hoàn cảnh thay đổi dẫn đến việc người cha (hoặc mẹ) có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn hoặc không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng thì được quyền xin thay đổi, việc chờ giải quyết giám đốc thẩm (tái thẩm) sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của con chung. Có thể hiểu đây là trường hợp nhà làm luật đã dự tính và coi đó là một trong số các trường hợp đặc biệt (ngoại lệ) được phép cho tồn tại song song 02 bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật về cùng một vấn đề.
Luật Bách Lâm đồng ý với quan điểm thứ hai vì như vậy là phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, đảm bảo được điều kiện phát triển bình thường cho con chung. Nếu theo như quan điểm thứ nhất áp dụng vào trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì liệu chỉ là thay đổi người trực tiếp nuôi ( ai nuôi, nuôi ai) thì nội dung giải quyết có khác không? Theo Luật Bách Lâm nếu như lý luận của quan điểm thứ nhất áp dụng vào trường hợp này là chưa thật sự thuyết phục.
Đề xuất: Nếu đồng ý rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là trường hợp đặc biệt, ngoại lệ như đã nêu thì nên xem xét trường hợp xác định cha, mẹ cho con (hoặc ngược lại) cũng là trường hợp đặc biệt, ngoại lệ được phép khởi kiện và tồn tại song song 02 bản án, quyết định; bởi trên thực tế thời gian để thực hiện và có được QĐ tái thẩm, giám đốc thẩm rất dài, mặt khác bản chất cũng chỉ là “ Xác định ai mới là cha, mẹ của con (hoặc ngược lại) theo huyết thống”, như vậy mới kết thúc vụ việc nhanh, gọn tránh tốn kém về thời gian và tiền bạc cho đương sự.
Bài viết trên đây chỉ là quan điểm cá nhân, rất mong sự đóng góp của mọi người để Luật Bách Lâm hoàn thiện hơn về lý luận và thực tiễn trong quá trình hành nghề luật.

THÔNG BÁODo nhu cầu mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động nên Công ty Luật TNHH Bách Lâm chuyển trụ sở từ: Số 101 Ngõ 50 ...
24/10/2020

THÔNG BÁO
Do nhu cầu mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động nên Công ty Luật TNHH Bách Lâm chuyển trụ sở từ: Số 101 Ngõ 50 Mễ Trì Thượng, Phường Mễ Trì, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội đến địa chỉ: Tầng 2, Số 31, Ngõ 1 Ngụy Như Kon Tum, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vậy, chúng tôi trân trọng thông báo để quý khách hàng, đối tác và bạn bè được biết để tiện liên hệ.
Trân trọng!

Luật Bách Lâm nhận tư vấn và thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, thay đổi: địa chỉ trụ sở công ty, thành viên/cổ đ...
28/03/2020

Luật Bách Lâm nhận tư vấn và thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, thay đổi: địa chỉ trụ sở công ty, thành viên/cổ đông, giám đốc...; chuyển nhượng doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp tại Hà Nội và tại các tỉnh thành khác trong cả nước.
Trụ sở: Số 14A, Ngách 437/6 Đường Đại Mỗ, Phường Đại Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
VPGD: Số 101, ngõ 50 Mễ Trì Thượng, Phường Mễ Trì , Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
☎️: 02462939538; 0975356085
✉️: [email protected]

18/02/2020

CÔNG TY LUẬT TNHH MTV BÁCH LÂM
Nhận:
👉Tư vấn pháp luật dân sự, đất đai, hình sự, thương mại, doanh nghiệp, thuế, đầu tư
👉 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động
👉Bào chữa cho bị can, bị cáo;
👉Đại diện theo ủy quyền
👉 Dịch vụ pháp lý khác
Trụ sở: Số 14A, Ngách 437/6 Đường Đại Mỗ, Phường Đại Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
VPGD: Số 101, ngõ 50 Mễ Trì Thượng, Phường Mễ Trì , Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
☎️: 02462939538; 0975356085
✉️: [email protected]

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Hưng An posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share