08/12/2020
“Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án” trong vụ án Hôn nhân và gia đình.
Tình huống của vụ việc:
Năm 2005 A và B kết hôn, quá trình chung sống sinh được 02 người con là C (sinh năm 2006) và D (sinh năm 2011). Do mâu thuẫn vợ chồng, tháng 10/2015 A và B thuận tình ly hôn tại quyết định của Tòa án (Quyết định số 01), theo nội dung quyết định thì A trực tiếp nuôi C, B trực tiếp nuôi D. Năm 2018, E xuất hiện và cho rằng D là con đẻ của mình, đồng thời cung cấp kết luận giám định AND thể hiện E và D là cha con. E khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu xác nhận cha cho con (khoản 4 điều 28 BLTTDS) tuy nhiên bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện với lý do “Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án”, đồng thời hướng dẫn E làm thủ tục Giám đốc thẩm(tái thẩm) để xem xét lại vấn đề con chung trong quyết định thuận tình ly hôn giữa A và B,
Đánh giá: Việc Tòa án căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện là đúng quy định của pháp luật; bởi, Việc xác định ai là cha, mẹ của con (D) đã được giải quyết tại QĐ số 01 của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, muốn xác định cha cho con thì phải làm thủ tục khiếu nại giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với QĐ số 01 này (đề nghị hủy về phần con chung), sau khi có Quyết định GĐT hoặc tái thẩm chấp nhận đối với nội dung này, thì D mới có quyền khởi kiện xác định cha, mẹ cho con.
Bàn luận: Như đã đánh giá việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện như trên là đúng quy định bởi việc xác định ai là cha, mẹ của con (hoặc ngược lại) đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của Tòa án, hay có quan điểm cho rằng không thể tồn tại song song hai bản án (QĐ) có hiệu lực về cùng một vấn đề, một nội dung.
Tuy nhiên tại khoản 3 Điều 28 BLTTDS 2015 quy đinh “ Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”, cụ thể trong tình huống nêu trên, nếu A hoặc B đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung mà không trả lại đơn khởi kiện. Như vậy về mặt lý luận có thể thấy rằng khi A và B ly hôn việc ai trực tiếp nuôi con đã được giải quyết tại QĐ số 01 và đây là trường hợp đã được giải quyết bằng QĐ có hiệu lực của Tòa án (ai là người nuôi con, nuôi con chung nào). Vấn đề đặt ra là tại sao khi A hoặc B khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn lại được giải quyết, hay nói cách khác trường hợp này sẽ tồn tại song song 2 bản án có hiệu lực pháp luật về cùng một vấn đề, một nội dung. Lý giải về việc này, có 02 quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: Phải hiểu tinh thần điều luật (Điểm c khoản 1 Điều 192) theo hướng: Không phải cứ cùng nguyên đơn, bị đơn và cùng một quan hệ tranh chấp mà đã được giải quyết là coi rằng sự việc đó đã được giải quyết bằng BA, QĐ có hiệu lực của Tòa án, bởi có những trường hợp tuy cùng nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp nhưng nội dung giải quyết khác thì không được coi là sự việc đã được giải quyết bằng BA, QĐ có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Quan điểm thứ hai: Đồng ý rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đã được giải quyết bằng QĐ, BA có hiệu lực pháp luật của Tòa án, tuy nhiên vì đặc thù trong hôn nhân và gia đình, và cụ thể hơn là để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con (thông thường là trẻ nhỏ) nên khi do điều kiện hoàn cảnh thay đổi dẫn đến việc người cha (hoặc mẹ) có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn hoặc không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng thì được quyền xin thay đổi, việc chờ giải quyết giám đốc thẩm (tái thẩm) sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của con chung. Có thể hiểu đây là trường hợp nhà làm luật đã dự tính và coi đó là một trong số các trường hợp đặc biệt (ngoại lệ) được phép cho tồn tại song song 02 bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật về cùng một vấn đề.
Luật Bách Lâm đồng ý với quan điểm thứ hai vì như vậy là phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, đảm bảo được điều kiện phát triển bình thường cho con chung. Nếu theo như quan điểm thứ nhất áp dụng vào trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì liệu chỉ là thay đổi người trực tiếp nuôi ( ai nuôi, nuôi ai) thì nội dung giải quyết có khác không? Theo Luật Bách Lâm nếu như lý luận của quan điểm thứ nhất áp dụng vào trường hợp này là chưa thật sự thuyết phục.
Đề xuất: Nếu đồng ý rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là trường hợp đặc biệt, ngoại lệ như đã nêu thì nên xem xét trường hợp xác định cha, mẹ cho con (hoặc ngược lại) cũng là trường hợp đặc biệt, ngoại lệ được phép khởi kiện và tồn tại song song 02 bản án, quyết định; bởi trên thực tế thời gian để thực hiện và có được QĐ tái thẩm, giám đốc thẩm rất dài, mặt khác bản chất cũng chỉ là “ Xác định ai mới là cha, mẹ của con (hoặc ngược lại) theo huyết thống”, như vậy mới kết thúc vụ việc nhanh, gọn tránh tốn kém về thời gian và tiền bạc cho đương sự.
Bài viết trên đây chỉ là quan điểm cá nhân, rất mong sự đóng góp của mọi người để Luật Bách Lâm hoàn thiện hơn về lý luận và thực tiễn trong quá trình hành nghề luật.