21/02/2026
Thẩm quyền công chứng giao dịch về bất động sản
Từ luật thực định đến thực tiễn hành nghề công chứng
Theo Luật Công chứng năm 2006, thẩm quyền công chứng giao dịch về bđs hay nói cách khác là thẩm quyền về "địa hạt" thì ccv tại tỉnh/thành phố chỉ được chứng nhận giao dịch trong phạm vi địa hạt nơi tchncc đặt trụ sở trừ trường hợp "công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản" (khoản 2 Điều 37).
Đến Luật Công chứng năm 2014, nhà làm luật bổ sung trường hợp loại trừ là "văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản" (Điều 42).
Hiện tại, Luật Công chứng năm 2024 nhà làm luật đã bổ sung “thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng về bất động sản và công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này theo quy định của pháp luật" (Điều 44) là ngoại lệ đối với thẩm quyền về địa hạt.
Như vậy, có thể hiểu luật công chứng qui định về thẩm quyền của ccv đã giới hạn ccv của tchncc "chỉ được công chứng giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở..." trừ bốn giao dịch là (1) di chúc (2) văn bản từ chối nhận di sản (3) văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản và (4) thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng về bất động sản (+ sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này).
Trên thực tế, đôi khi ccv nhận được yêu cầu công chứng giao dịch không thuộc trường hợp loại trừ đã được liệt kê như: Đặt cọc; chuyển nhượng hợp đồng; thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hoặc cam kết/xác nhận số tiền là tsr của vợ hoặc chồng để mua bđs... thì ccv "ngoại tỉnh" có thẩm quyền chứng nhận hay không?
Có quan điểm khác nhau đối với yêu cầu công chứng không thuộc trường hợp loại trừ nêu trên và phần lớn ccv (đồng ý chứng nhận) cho rằng đối tượng của giao dịch không phải là bđs, chẳng hạn, đối tượng của giao dịch đặt cọc là khoản tiền, không phải là bđs nên không bị ràng buộc bởi thẩm quyền về địa hạt.
Bình luận nội dung trên, có tác giả phân tích câu chữ rằng nhà làm luật sử dụng từ "về" chứ không sử dụng thuật ngữ "có đối tượng" khi nói tới phạm vi công chứng có liên quan đến bđs; theo đó, "bất cứ giao dịch được công chứng nào có dẫn chiếu đến một bất động sản cụ thể đều phải tuân thủ nội dung Điều 44, Luật Công chứng năm 2024"[1].
Để góp phần nhận định, nhìn lại thời điểm sửa đổi Luật Công chứng năm 2014 nhà làm luật đã cân nhắc và bổ sung trường hợp loại trừ là "thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng về bất động sản" khi cho rằng: Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng dù nhiều hay ít tài sản thì cơ bản cũng chỉ là thoả thuận về cơ chế xác lập “chế độ” và chỉ là “dự kiến” mà thôi[2];
điều trên có nghĩa là, theo Luật Công chứng năm 2014 thì yêu cầu công chứng Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng nếu có liên quan đến bđs thì cũng phải đáp ứng yêu cầu về địa hạt; mặt khác, việc bổ sung nêu trên cũng cho thấy: Ngoài trường hợp đã loại trừ thì ccv "ngoại tỉnh" không có thẩm quyền chứng nhận giao dịch nếu giao dịch đó liên quan đến bđs.
Thực tế, một số trường hợp loại trừ nêu trên vẫn được thực hiện mà không gặp vướng mắc gì ở cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện kế tiếp[3]; song, điều này dường như không đồng nghĩa với mong muốn của nhà làm luật công chứng dù nhìn từ góc độ luật khác (BLDS) thì đối tượng của giao dịch không phải là bđs.
Trong tương lai, pháp luật về công chứng nên có sự điều chỉnh tương thích với luật khác có liên quan.
..
[1] xem Tuấn Đạo Thanh, Bình luận Luật Công chứng năm 2024, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2025, tr 406.
[2] xem hồ sơ thẩm định của Btp thời điểm sửa đổi.
Liên quan đến “chế độ” có câu hỏi trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng thoả thuận mọi tài sản do người chồng tạo ra sẽ là tsr của chồng dường như không phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bởi thoả thuận này thuộc phạm vi về xác lập chế độ tài sản của vợ chồng và phải được thực hiện trước khi kết hôn; cơ sở pháp lý căn cứ theo Điều 47: Nam nữ dự kiến kết hôn có thể thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng (ước định) bao gồm tài sản chung, tài sản riêng,... nhưng cần thực hiện "trước" khi kết hôn.
(xem thêm khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định "Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này").
[3] đôi khi, chính ccv ở "nội tỉnh" lại từ chối tiếp nhận do vbcc không được thực hiện theo qui định.