Luật Hà Tĩnh

Luật Hà Tĩnh Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Luật Hà Tĩnh, Divorce & Family Lawyer, Ha Tinh.

Nhân dịp kỷ niệm ngày truyền thống của luật sư Việt Nam (10/10/1945 - 10/10/2023), Công ty luật TNHH Hà Tĩnh thực hiện t...
06/10/2023

Nhân dịp kỷ niệm ngày truyền thống của luật sư Việt Nam (10/10/1945 - 10/10/2023), Công ty luật TNHH Hà Tĩnh thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí từ ngày 07/10/2023 đến ngày 10/10/2023 thông qua điện thoại, zalo và các kênh trực tuyến khác.

☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 091 6626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

Trân trọng!

ĐẤT KHÔNG SỔ ĐỎ CÓ ĐƯỢC CHO THỪA KẾ?Ông T đang sống trên thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Nay ông T...
07/12/2022

ĐẤT KHÔNG SỔ ĐỎ CÓ ĐƯỢC CHO THỪA KẾ?

Ông T đang sống trên thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Nay ông T muốn lập di chúc để cho con gái thì pháp luật có thừa nhận hay không?

Luật sư tư vấn:

Theo quyền thừa kế được quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Nếu tài sản để thừa kế là quyền sử dụng đất thì người lập di chúc bên cạnh việc phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai.

Cụ thể, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) cho phép người sử dụng đất được để lại thừa kế quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời thửa đất đó cũng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, người đang sử dụng đất đất ổn định, không có tranh chấp và có một trong các giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận):

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 18, Nghị định 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì người sử dụng đất có các giấy tờ sau đây mà không có tranh chấp thì cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Các giấy tờ khác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:

1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980.

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do UBND cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này.

3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

6. Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được UBND cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 1/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng.

8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.

Như vậy, với những quy nêu trên, nếu bạn có một trong các giấy tờ đã được viện dẫn và đất đó không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất thì bạn có quyền lập di chúc để định đoạt thửa đất đó cho người thừa kế.
-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

ĐÃ TỪ CHỐI NHẬN THỪA KẾ, CÓ ĐƯỢC RÚT LẠI KHÔNG?Bố mẹ mất để lại tài sản cho hai anh em ông T. Lúc đó, ông T có công ty r...
24/10/2022

ĐÃ TỪ CHỐI NHẬN THỪA KẾ, CÓ ĐƯỢC RÚT LẠI KHÔNG?

Bố mẹ mất để lại tài sản cho hai anh em ông T. Lúc đó, ông T có công ty riêng, kinh tế ổn định nên đã làm văn bản "từ chối nhận thừa kế" đưa cho em gái giữ.
Vì ông T muốn nhường toàn bộ tài sản cha mẹ để lại cho em có chi phí du học và lo cuộc sống sau này. Tuy nhiên, một năm qua ông T làm ăn thua lỗ, nợ ngân hàng gần 10 tỷ đồng không còn khả năng trả.

Hiện, phần di sản của bố mẹ ông T, em gái vẫn chưa xác lập quyền sở hữu. Ông T cần tiền để trả bớt nợ nên muốn rút lại việc từ chối nhận di sản, đồng thời tiến hành thực hiện chia thừa kế với em gái có được không?

Luật sư tư vấn

Theo khoản 2, 3 Điều 620 Bộ luật Dân sự, việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết; đồng thời phải thể hiện việc từ chối này trước thời điểm phân chia di sản.

Ngoài ra, Điều 59 Luật Công chứng cũng quy định, người thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản. Việc từ chối nhận di sản có hiệu lực pháp luật kể từ khi được lập thành văn bản và gửi cho người quản lý di sản, các đồng thừa kế, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản biết. Nếu bạn muốn rút lại việc từ chối nhận di sản, thì phải thuộc các trường hợp sau:

- Việc từ chối nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác (khoản 1 Điều 620 Bộ luật Dân sự).

- Chưa được lập thành văn bản và chưa được gửi đến những người liên quan.

- Từ chối sau thời điểm phân chia di sản.

Bộ luật Dân sự không có quy định cho phép người thừa kế thay đổi ý chí sau khi đã làm thủ tục từ chối nhận di sản. Trong trường hợp của ông T, việc từ chối đã được lập thành văn bản, trước thời điểm phân chia di sản thừa kế và đã được gửi đến những người liên quan, tức là đã phát sinh hiệu lực pháp luật nên ông T không thể rút lại được.

Tuy nhiên, nên trao đổi với em gái về điều kiện, hoàn cảnh hiện tại của mình. Nếu em gái ông T đồng ý chia sẻ và nhường lại một phần di sản của cha mẹ để lại cho ông T trả nợ thì hai bên có thể thực hiện các thủ tục cho tặng theo quy định của pháp luật.
-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

TRĂN TRỞ NGHỀ LUẬT SƯ TRONG VẬN HỘI MỚI(PLO)- Về phương hướng hoàn thiện pháp luật, cần quy định về vị thế độc lập, bình...
17/10/2022

TRĂN TRỞ NGHỀ LUẬT SƯ TRONG VẬN HỘI MỚI

(PLO)- Về phương hướng hoàn thiện pháp luật, cần quy định về vị thế độc lập, bình đẳng của luật sư trong thực hiện chức năng cơ bản của tố tụng, thay đổi địa vị tố tụng của luật sư thật sự ngang bằng với các chủ thể tiến hành tố tụng.

Kể từ thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 khai sinh nghề luật sư (LS) cách mạng, đội ngũ LS Việt Nam đã trải qua một chặng đường phát triển 77 năm. Từ đó đến nay, đội ngũ LS nước ta đã thật sự lớn mạnh cả về chất và lượng, vai trò và vị thế ngày càng được nâng cao…

Mới đây, Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” đã được Chủ tịch nước tham khảo ý kiến của Đảng đoàn và Thường trực Liên đoàn LS Việt Nam tại Hà Nội ngày 15-7-2022.

Có thể nói, qua tham khảo nội dung đề án, chúng tôi cảm nhận được Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm và kỳ vọng rất nhiều về vị trí, vai trò của đội ngũ LS trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, một nhà nước pháp quyền nhân nghĩa, thể hiện tinh thần nhân văn Á Đông của cha ông ta, mà người kế thừa xuất sắc là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vị trí này xuất phát từ nhận thức về quyền tự bào chữa, nhờ LS hoặc người khác bào chữa là một quyền tự do dân chủ trọng yếu, là thành trì cần thiết trong thực hiện và đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân, là quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp 2013.

Trong ánh sáng “thần linh pháp quyền” nêu trên, với môi trường pháp lý ngày càng được hoàn thiện, nhiều vận hội mới đã mở ra cho sự phát triển của nghề LS ở Việt Nam. Đội ngũ LS đang cố gắng và từng bước nhận được sự tin cậy của xã hội, với sứ mệnh là những “vệ sĩ” dấn thân vì nghĩa hiệp, bằng sự tinh thông về pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, chia sẻ với tấm lòng yêu thương con người, bảo vệ quyền lợi của những phận người không may bị vướng vào vòng lao lý, bị thua thiệt trong phân tranh quyền lợi…

Tuy nhiên, về mặt xã hội, do chưa được thừa nhận là một chức danh tư pháp độc lập nên vai trò của LS trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và cải cách tư pháp bị hạn chế. Bảo vệ lẽ phải, sự công bằng được coi là thiên chức nghề nghiệp tạo nên giá trị cao quý của nghề LS trong thang giá trị xã hội, nghề LS từ bao đời nay được coi là một nghề nghiệp gắn bó với số phận và nỗi đau của con người.

Khi nhắc đến trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trước sự hàm oan của con người, cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đã nói: “Một người bị tội oan, chẳng những người ấy đau khổ, mà gia đình, con cái họ càng đau khổ hơn. Làm điều oan cho một người nào đó thì chúng ta không còn lẽ sống nữa, bởi vì chúng ta là những người cộng sản”.

Với số lượng hơn 17.000 LS thực thụ hiện nay, có rất nhiều LS trẻ còn bỡ ngỡ, chưa thật sự sống được bằng nghề, phải bươn chải mưu sinh bằng nhiều công việc khác nhau. Đứng trước những khó khăn, chứng kiến những va đập căng thẳng trong tố tụng, một số LS nản chí, phát sinh tâm lý tiêu cực hoặc chấp nhận chạy theo dịch vụ, làm mất đi tâm thế và hình ảnh của LS. Do đó, việc xác định vị trí, vai trò, địa vị pháp lý của LS nhằm thực hiện chức năng xã hội và chức năng tố tụng tư pháp cần được đánh giá và xem xét lại một cách căn bản cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Trong hiến pháp, Luật LS năm 2006 (sửa đổi năm 2012), các bộ luật tố tụng đều định vị khái niệm LS để chỉ những người cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, hội đủ các điều kiện, tiêu chuẩn và đạo đức nghề nghiệp nghiêm ngặt, khác với các diện chủ thể người bào chữa khác như người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo hay bào chữa viên nhân dân. Cũng như bất cứ hoạt động nghề nghiệp nào khác, nền tảng hoạt động của nghề LS phải dựa trên pháp luật và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp.

Do đó, về phương hướng hoàn thiện pháp luật (Luật LS, các bộ luật tố tụng), theo chúng tôi, cần quy định về vị thế độc lập, bình đẳng của LS trong thực hiện chức năng cơ bản của tố tụng, thay đổi địa vị tố tụng của LS thật sự ngang bằng với các chủ thể tiến hành tố tụng. Nghiên cứu bãi bỏ các quy định liên quan đến thủ tục cấp đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền lợi, tạo thuận lợi cho LS được tiếp cận ngay từ đầu và mang tính riêng tư với người bị tạm giam, cũng như khi giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố cho đến khi phiên tòa sơ thẩm được kết thúc.
TS.LS PHAN TRUNG HOÀI

Nguồn: Báo Pháp luật TP.HCM

-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

NGƯỜI THUÊ NHÀ KHÔNG ĐƯỢC TỰ Ý CHO BÊN THỨ BA THUÊ LẠIAnh A thuê nhà để kinh doanh, chừa một phần cho người khác thuê lạ...
13/10/2022

NGƯỜI THUÊ NHÀ KHÔNG ĐƯỢC TỰ Ý CHO BÊN THỨ BA THUÊ LẠI

Anh A thuê nhà để kinh doanh, chừa một phần cho người khác thuê lại mở quán cà phê song bị gia chủ phản đối. Đôi bên đều cho rằng mình có lý.
Theo chia sẻ của anh A, hợp đồng thuê nhà giữa anh và chủ nhà có nêu anh được sử dụng để "ở và kinh doanh". Vì thế anh cho quán cà phê thuê lại cũng là "kinh doanh" nên không sai. Hơn nữa hợp đồng cũng không có điều khoản nào cấm anh làm vậy.

Trong khi đó, chủ nhà cho rằng, hợp đồng không cấm nhưng cũng không có điều khoản nào cho phép anh A cho thuê lại. Nhà vẫn của gia chủ, do đó anh A dù làm gì cũng phải được sự đồng ý của họ.

Luật sư tư vấn:

Điều 472 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên. Theo đó, bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê. Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Về việc cho thuê lại tài sản, Điều 475 quy định bên thuê có quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý.

Như vậy, vấn đề cho thuê lại đã được luật quy định rõ ràng, mang tính mặc nhiên là bên thuê chỉ được cho thuê lại khi được bên cho thuê đồng ý. "Hợp đồng không thể hiện việc cấm anh A cho thuê lại, không đồng nghĩa anh A có quyền cho thuê lại”.

Việc quán cà phê thuê lại một phần (dù diện tích rất nhỏ) cũng không phải là căn cứ để cho rằng việc cho thuê lại đó là hợp pháp. Trong trường hợp này, việc cho thuê lại một phần hay toàn bộ đều là vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho thuê.

Để giải quyết tranh chấp, anh A cần thương lượng với bên cho thuê. Trường hợp thương lượng không thành, anh phải chấm dứt ngay việc cho thuê lại.
-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

CHƯƠNG TRÌNH TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍNhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945 – 10/10/202...
08/10/2022

CHƯƠNG TRÌNH TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945 – 10/10/2022) và ngày pháp luật Việt Nam (09/11/2022), Công ty Luật TNHH Hà Tĩnh hỗ trợ tư vấn pháp lý miễn phí trong tất cả các lĩnh vực (dân sự, hình sự, đất đai, hôn nhân gia đình,…) từ ngày 08/10/2022 - 10/10/2022.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

SAU LY HÔN, LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIỮ LẠI NHÀ CHO CON?Vợ chồng chị A ly hôn nhưng chưa chia tài sản chung nên vẫn sống cùng nhà...
03/10/2022

SAU LY HÔN, LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIỮ LẠI NHÀ CHO CON?

Vợ chồng chị A ly hôn nhưng chưa chia tài sản chung nên vẫn sống cùng nhà. Hiện, chồng cũ của chị A muốn bán căn nhà để chia đôi, không ở chung nữa.
Con chị A còn quá nhỏ, giờ đưa cháu đi nơi khác sống sẽ rất bất tiện về nhiều mặt. Chị A cũng muốn giữ lại căn nhà để làm tài sản cho con sau này. Vậy chị A phải làm gì?

Luật sư tư vấn:

Nếu căn nhà này là tài sản chung của hai vợ chồng và chị A muốn giữ lại làm tài sản cho con, thì theo khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình, chị A phải trả tiền tương ứng với 50% giá trị căn nhà cho chồng cũ. Sau đó, chị A có thể làm thủ tục sang tên chủ quyền căn nhà đứng tên chị A. Như vậy, sau này chị A muốn tặng nhà cho con cũng dễ dàng.

Chị A và chồng cũ có thể phân chia căn nhà bằng hai cách:
- Hai bên có thể lập văn bản thỏa thuận việc phân chia giá trị căn nhà và số tiền tương ứng với 50% giá trị căn nhà mà chị A phải hoàn lại cho chồng cũ.

- Nếu hai bên không thể thỏa thuận được giá trị căn nhà, có thể khởi kiện yêu cầu tòa án chia tài sản chung sau khi ly hôn. Khi đó, số tiền chị A phải trả lại cho chồng cũ sẽ tương ứng 50% giá trị căn nhà theo giá thị trường tại thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.

Nếu căn nhà là tài sản riêng của một mình chị A, theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị A phải chứng minh: tài sản riêng chị A có trước khi kết hôn; tài sản chị A được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho chị A trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được hình thành từ tài sản riêng của chị A.

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này... và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của chị A.

Khi chứng minh được các vấn đề trên, chồng cũ của chị A không có bất cứ quyền lợi gì đối với căn nhà nên không được yêu cầu chia đôi. Do đó, chị A có thể giữ căn nhà này làm tài sản cho con.
-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

CÓ PHẢI MUA BẰNG GIẢ NHƯNG CHƯA SỬ DỤNG SẼ KHÔNG BỊ PHẠT?Tháng 9 năm ngoái bạn A có đặt mua một bằng tin học giả, chủ ý ...
29/07/2022

CÓ PHẢI MUA BẰNG GIẢ NHƯNG CHƯA SỬ DỤNG SẼ KHÔNG BỊ PHẠT?

Tháng 9 năm ngoái bạn A có đặt mua một bằng tin học giả, chủ ý là nộp vào công ty để xin việc. Nhưng mua về, bạn A thấy không nên, và không sử dụng.
Giờ bạn bán bằng giả bị bắt. Công an đã phát hiện ra bạn A là người đặt mua bằng giả và triệu tập bạn A để điều tra. Vậy bạn A có bị sao không?

Luật sư tư vấn:

Hành vi mua bằng giả có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vi phạm hành chính: Theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định 79/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015, người có hành vi mua bằng giả sẽ bị phạt tiền 7- 10 triệu đồng với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp giả mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, người mua bằng giả còn có thể bị phạt bổ sung dưới hình thức tịch thu tang vật (bằng giả), phương tiện vi phạm.

Về trách nhiệm hình sự: Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức, hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả còn có thể bị phạt tiền 30- 100 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù 6 tháng đến 2 năm.

Với các hành vi phạm tội nhiều lần, làm và sử dụng nhiều giáy tờ, con dấu giả, phạm tội có tổ chức, có tính nghiêm trọng và tùy số tiền thu lợi bất chính, người vi phạm còn có thể bị phạt tù cao nhất tới 7 năm.

Như vậy, nếu bạn A chưa sử dụng bằng tin học giả để "thực hiện hành vi trái pháp luật" thì chưa đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, hành vi mua bằng tin học giả có dấu hiệu vi phạm hành chính, nên bạn A có thể bị xử phạt hành chính, theo quy định đã nêu trên.
-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

ĐÃ NHẬN TIỀN ĐẶT CỌC, CHỦ ĐẤT CÓ ĐƯỢC BÁN CHO NGƯỜI KHÁC?Anh A rao bán một lô đất giá 700 triệu đồng, nhận 20 triệu đồng...
25/07/2022

ĐÃ NHẬN TIỀN ĐẶT CỌC, CHỦ ĐẤT CÓ ĐƯỢC BÁN CHO NGƯỜI KHÁC?

Anh A rao bán một lô đất giá 700 triệu đồng, nhận 20 triệu đồng đặt cọc của khách mua nhưng có người khác trả giá 800 triệu.
Anh và vị khách đầu tiên khi giao nhận đặt cọc đã viết giấy tay, hẹn trong vòng 30 ngày sẽ tới văn phòng công chứng làm hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, hàng xóm của anh A sau khi biết tin, cho rằng mức 700 triệu đồng là "quá rẻ" và đề nghị được mua lại mảnh đất với giá cao hơn 100 triệu đồng.

Nghe vậy, anh A muốn bán cho người hàng xóm. Song anh phân vân về khoản tiền cọc 20 triệu đồng đã nhận của vị khách đầu tiên, nếu hủy cọc để bán đất cho hàng xóm có được không, có bị kiện không?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, đặt cọc là việc bên đặt giao cho bên nhận một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Khi hợp đồng được thực hiện thì tài sản được trả lại cho bên đặt cọc. Nếu bên mua không thực hiện giao kết thì mất 20 triệu tiền cọc; bên bán phá vỡ giao kết thì phải trả cho bên mua một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc. Trường hợp của anh A, nếu muốn bán đất cho hàng xóm thì phải đền tiền cho người đã đặt cọc, gồm 20 triệu đồng tiền đặt cọc và 20 triệu đồng đền cọc.

Như vậy, anh A vẫn được quyền bán lô đất cho hàng xóm dù đã nhận tiền đặt cọc của người khác. Nhưng anh A có nghĩa vụ đền cọc do vi phạm hợp đồng đặt cọc như phân tích ở trên.
-----------------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH HÀ TĨNH
🏢Địa chỉ: Thị Tứ Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
☎️Điện thoại: 0906 597 668 (Ls. Tiến) hoặc 0916 626 138 (Ls. Hoài)
📩Mail: [email protected]

Address

Ha Tinh

Telephone

+84916626138

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Hà Tĩnh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật Hà Tĩnh:

Share